LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Tín dụng là nghiệp vụ quan trọng nhất trong các nghiệp vụ của ngân hàng
thương mại vì nó chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản và mang lại nguồn
thu chủ yếu cho ngân hàng. Tuy nhiên hoạt động tín dụng lại mang lại nhiều rủi
ro và rủi ro mà tín dụng mang lại có thể ảnh hưởng đến sự sống còn của ngân
hàng. Vì vậy nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng là mục tiêu của bất cứ
ngân hàng nào. Các ngân hàng đã sử dụng nhiều biện pháp để ngăn ngừa, hạn
chế rủi ro trong đó kế toán cho vay đóng một vai trò rất quan trọng
Tuy nhiên nghiệp vụ cho vay là một nghiệp vụ phức tạp và hệ thống văn bản
quy định hướng dẫn vẫn đang trong quá trình chuyển đổi nên còn gặp nhiều
vướng mắc. Nhận thức được vấn đề này nên trong quá trình thực tập tại
NHNo&PTNT huyện Xuân Trường em đã chọn đề tài “Công tác kế toán cho
vay tại NHNo&PTNT huyện Xuân Trường- thực trạng và giải pháp” làm khóa
luận tốt nghiệp của mình
2. Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác kế toán cho vay tại ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Xuân Trường, khóa luận đưa
ra những ưu điểm cũng như các mặt còn hạn chế của kế toán cho vay. Từ đó tìm
ra nguyên nhân của những tồn tại và đưa ra những biện pháp và kiến nghị để
nhằm khắc phục những tồn tại đó, nâng cao hiệu quả của công tác kế toán cho
vay
3.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là nghiệp vụ kế toán cho vay của
NHNo&PTNT huyện Xuân Trường
4.Phương pháp nghiên cứu
1
Khóa luận sử dụng phương pháp biện chứng, logic, phương pháp phân tích
kết hợp tổng hợp, đánh giá để chứng minh, đồng thời cũng sử dụng phương
pháp thống kê nhằm so sánh, đánh giá, khái quát các mô hình, bảng biểu
5.Kết cấu khóa luận
và sau một thời gian nhất định người đi vay phải thanh toán cả vốn gốc và lãi.
Tín dụng còn có nghĩa một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung
cấp cho khách khác.
Trong một số ngữ cảnh cụ thể thuật ngữ tín dụng đồng nghĩa với thuật ngữ
cho vay. Ví dụ: tín dụng ngắn hạn đồng nghĩa với cho vay ngắn hạn…
Tín dụng xét theo nội dung hoạt động của các tổ chức tín dụng có nghĩa
khá rộng. Đó là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy
động để cấp tín dụng. Trong dó: “Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa
thuận để khách hàng xử dụng một khoản tiền vay với nguyên tắc có hoàn trả
bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng
và các nghiệp vụ khác”.Tín dụng được xem như là một chức năng hoạt động cơ
3
bản của ngân hàng.Với cách tiếp cận này, tín dụng ngân hàng được hiểu như
sau:
“Tín dụng là hình thức cấp tín dụng theo đó ngân hàng cho vay giao cho
khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo
thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi”
1.1.2 Đặc điểm, các nguyên tắc của hoạt động tín dụng
1.1.2.1 Đặc điểm của hoạt động tín dụng
Xuất phát từ khái niệm tín dụng là quan hệ vay mượn giữa các định chế tài
chính(mà chủ yếu là các NH) và các cá nhân, tổ chức kinh tế khác dựa trên cơ
sở lòng tin, tài sản đảm bảo và việc hoàn trả gốc và lãi đến hạn, do đó có thể
thấy tín dụng ngân hàng có đặc điểm sau:
- Là quan hệ chuyển nhượng mang tính chất tạm thời: Đối tượng của sự
chuyển nhượng có thể là tiền tệ hoặc là hàng hoá dưới hình thức kéo dài thời
gian thanh toán trong quan hệ mua bán hàng hóa. Xuất phát từ đặc trưng của
hoạt động NH là kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nên tài sản giao dịch trong tín
dụng NH chủ yếu dưới hình thức tiền tệ. Tuy nhiên trong một số hình thức tín
dụng như cho thuê tài chính thì tài sản trong giao dịch tín dụng cũng có thể là
các tài sản khác như tài sản cố định. Tính chất tạm thời của sự chuyển nhượng
pháp chế tài thích hợp để hạn chế rủi ro có thể xảy ra
KH phải hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi: Trên cơ sở xem xét, đánh giá dự
án NH ra quyết định cho vay đối với DN, cá nhân đó với thời hạn bao lâu là
hợp lý. Hợp lý thể hiện ở việc dự án vay vốn vừa kết thúc, người đi vay thực
hiện được một vòng quay vốn vay và có khả năng trả vốn. Nếu một khoản cho
vay mà để quá hạn có thể sẽ mất cân đối giữa thời lượng tài sản nợ và tài sản
5
có. Việc NH không thu hồi được hoặc thu hồi không đúng hạn khoản vay có
khả năng sẽ làm cho NH mất khả năng thanh toán và phá sản
Tiền vay phải được đảm bảo theo quy định: Hoạt động cho vay là hoạt động
rất phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro. Do vậy, để đảm bảo an toàn cho nguồn
vốn của mình, hạn chế rủi ro xảy ra. Khi cho vay NH yêu cầu KH phải đảm bảo
cho khoản vay của mình. Có thể là thế chấp hay cầm cố tài sản cho NH hoặc có
sự bảo lãnh của bên thứ ba
1.1.3 Vai trò của tín dụng
1.1.3.1 Với nền kinh tế
Tín dụng nói chung và tín dụng NH nói riêng có vai trò quan trọng trong việc
góp phần thúc đẩy quá trình trình tái sản xuất xã hội
Thứ nhất: Vai trò quan trọng nhất của tín dụng là cung ứng vốn một cách kịp
thời cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể kinh tế trong xã hội.
Nhờ đó mà các chủ thể này có thể đẩy nhanh tốc độ sản xuất cũng như tốc độ
tiêu thụ sản phẩm
Thứ hai: Một hệ thống các hình thức tín dụng đa dạng không những thoả
mãn nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế mà còn làm cho sự tiếp cận các
nguồn vốn tín dụng trở nên dễ dàng, tiết kiệm chi phí giao dịch và giảm bớt các
chi phí nguồn vốn cho các chủ thể kinh doanh
Thứ ba: Việc mở rộng và nâng cao hiệu quả các hình thức tín dụng sẽ tạo ra
sự chủ động cho các DN trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh khi
nó không phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn tự có của bản thân. Điều này
giúp cho các nhà sản xuất tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tư mới và nâng cao năng
7
Tín dụng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội: Các chính sách xã hội,
về mặt bản chất được đáp ứng bằng nguồn tài trợ không hoàn lại từ Ngân sách
nhà nước. Song, phương thức tài trợ này bị hạn chế về quy mô và thiếu hiệu
quả. Để khắc phục hạn chế này, phương thức tài trợ không hoàn lại có xu
hướng bị thay thế bằng phương thức tài trợ có hoàn lại của tín dụng nhằm duy
trì nguồn cung cấp tài chính và có điều kiện mở rộng quy mô tín dụng chính
sách.
1.1.3.3 Đối với ngân hàng
Tín dụng là nghiệp vụ quan trọng bậc nhất của ngân hàng thể hiện qua các
đặc điểm: Chiếm tỷ trọng lớn nhất(khoảng từ 65-95%) tài sản của phần lớn các
NHTM; Đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho các NH nhưng lại chứa đựng
nhiều rủi ro nhất. Nó là căn cứ cơ bản để đánh giá một NH hoạt động tốt hay
xấu. Trên thực tế không một NH nào tồn tại mà không có hoạt động cho vay
Chất lượng của hoạt động cho vay tọa cơ sở để cho các nghiệp vụ khác phát
triển và mở rộng. Đồng thời một sự đổ bể của một khoản tín dụng lớn không chỉ
làm ảnh hưởng tới sự ổn định của toàn hệ thống ngoài ra còn gây ra thiệt hại
đến người gửi tiền, tạo ra những ảnh hưởng không tốt
Như vậy thông qua các hoạt động của mình, tín dụng NH là một yếu tố cơ
bản giúp cho toàn bộ hệ thống NH đứng vững và phát triển chung của toàn bộ
nền kinh tế
1.1.4 Các phương thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại
Hiện nay, các TCTD sử dụng nhiều phương thức cấp tín dụng phù hợp với
từng đối tượng KH, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh
doanh cũng như quản lý các tổ chức. Các phương thức cho vay đó đựơc quy
định trong QĐ 1627/2001.QĐ-NHNN ban hành ngày 31/12/2001 của Thống
đốc NHNN
1.1.4.1 Cho vay từng lần
8
Cho vay từng lần là mỗi lần vay vốn, KH và TCTD làm thủ tục vay vốn và
nội dung sử dụng vốn vay theo các điều khoản đã ghi trong HĐTD và ký vào
giấy nhận nợ với KH
1.1.4.3 Cho vay theo dự án đầu tư
NH cho vay theo dự án đầu tư nhằm cung ứng dịch vốn cho KH để thực hiện
các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án phục vụ
đời sống
Cho vay theo dự án đầu tư có các đặc điểm:
- Đối tượng cho vay là các dự án về thiết bị, máy móc, nhà xưởng, các công
trình xây dựng cơ bản nên thời hạn cho vay thường dài. Do vậy cho vay theo dự
án đầu tư thuộc loại TD trung, dài hạn
-Đối với các dự án đầu tư vào máy móc thiết bị thì đối tượng cho vay là các
máy móc thiết bị trong dự án. Loại tài sản này sau khi hoàn thành lắp đặt sẽ
được sử dụng ngay nên NH tiến hành thu nợ theo kỳ dựa trên số tiền trích khấu
hao định kỳ của những tài sản này và một số nguồn khác
-Đối với các dự án là các công trình phải qua quá trình xây dựng cơ bản thì
đối tượng cho vay là các chi phí phát sinh trong thời gian xây dựng cơ bản để
hoàn thành công trình, kể cả chi phí trả lãi vay đều được tính vào giá công trình.
Vì vậy toàn bộ quá trình cho vay được chia thành hai giai đoạn:
+Giai đoạn cho vay để đầu tư xây dựng cơ bản:
+Giai đoạn xác định lại số nhận nợ sau khi hoàn thành công trình.
Tổng số tiền nhận nợ sau khi hoàn thành công trình= tổng số tiền của các lần
giải ngân + phần lãi cho vay phát sinh(được nhập gốc) tính đến thời điểm hoàn
thành công trình. Do vậy, sau khi hoàn thành công trình và quyết toán duyệt NH
và KH vay sẽ chính thức xác nhận số nợ của khoản vay và xác định kỳ hạn trả
10
nợ cuối cùng và lên kế hoạch trả nợ định kỳ theo số tiền khấu hao trong kỳ của
công trình và một số nguồn khác
1.1.4.4 Cho vay hợp vốn
Cho vay hợp vốn được thực hiện bởi một nhóm NHTM cùng cho vay đối với
một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của KH, trong dó có một NHTM
nên kế toán đã giúp cho các chủ NH quản lý chặt chẽ tài sản của mình nhằm
tránh thiếu hụt về mặt số lượng và nâng cao hiệu quả trong quá trình sử dụng tài
sản
Thứ ba: Quản lý hoạt động TCNH. Kế toán phải phản ánh được đầy đủ
chính xác các khoản thu nhập, chi phí, kết quả kinh doanh ở từng đơn vị cũng
như toàn hệ thống ngân hàng, từ đó giúp cho việc quản lý chặt chẽ hoạt động tài
chính, tăng thu nhập, tiết kiệm chi phí, kinh doanhh có lãi nhằm đảm bảo cho sự
tồn tại và phát triển cho mỗi NH
Thứ tư: Đáp ứng yêu cầu công tác thanh toán, kiểm soát trong ngành NH.
Với chức năng tổ chức hạch toán ban đầu và tạo nguồn thông tin nên kế toán
NH là nơi cung cấp thông tin đầy đủ nhất, chính xác nhất ở từng đơn vị, từng
cấp NH cũng như toàn ngành NH. Nguốn thông tin số liệu của kế toán NH là cơ
sở quan trọng để xây dựng và điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô, trước hết
là chính sách tiền tệ. Trên cơ sở đó, NHNN và các cơ quan quản lý nhà nước có
thể kiểm soát và điều chỉnh hoạt động của từng NH và toàn hệ thống ngân hàng
nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định, an toàn cho hệ thống và góp phần phát
triển nền kinh tế quốc dân
1.2.1.2 Nhiệm vụ của kế toán NH
12
Kế toán là một công cụ quan trọng để quản lý kinh tế tài chính ở mỗi đơn vị,
tổ chức kinh tế cũng như ở phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Kế toán NH
có các nhiệm vụ:
- Thu thập, ghi chép kịp thời, đầy đủ và chính xác các nghiệp vụ kinh tế tài
chính phát sinh của đơn vị NH theo đối tượng, nội dung công việc kế toán, theo
đúng chuẩn mực và chế độ kế toán
- Kiểm tra, giám sát chặt chẽ các khoản thu chi tài chính, quá trình sử dụng
tài sản của bản thân NH và của xã hội thông qua các khâu kiểm soát của kế
toán, góp phần tăng cường kỷ luật tài chính, củng cố chế độ hạch toán kế toán
trong NH cũng như trong toàn bộ nền kinh tế quôc dân
- Phân tích thông tin, số liệu kế toán, tham mưu, đề xuất các giải pháp phục
hoàn thành tốt công việc kinh doanh của mình, từ đó nhằm đảm bảo khả năng
thu hồi vốn của NH
Giúp NH có thể nắm rõ tình hình đầu tư vốn của nền kinh tế và có thể biết
đựoc phạm vi hoạt động, phương hướng đầu tư của các nhà đầu tư. Ngoài ra,
công tác này còn giúp phản ánh mối quan hệ giữa NH và KH thông qua các con
số cho vay, thu nợ
b, Nhiệm vụ của kế toán cho vay
Cho vay là nghiệp vụ cơ bản trong hoạt động kinh doanh của NH thương
mại, song cũng là nghiệp vụ chứa đựng nhiều rủi ro mà bất kỳ ngân hàng
thương mại nào cũng phải tìm các giải pháp để giảm thiểu rủi ro
Có nhiều công cụ phục vụ quản lý tín dụng, ngăn ngửa rủi ro, trong đó thông
tin kế toán tín dụng có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng vì kế toán tín dụng là
công cụ ghi chép, phản ánh một cách đầy đủ, chính xác và kìp thời nhất nghiệp
vụ tín dụng ở từng đơn vị NH cũng như toàn hệ thống
14
Để phát huy vai trò của mình, kế toán chovay cần thực hiện tốt các nhiệm vụ
sau:
Thứ nhất: phải xác lập hồ sơ, chứng từ cho vay một cách hợp lý, hợp lệ.
Đồng thời kế toán cho vay phải kiểm soát chặt chẽ hồ sơ chứng từ để đảm bảo
tính pháp lý của khoản vay, bảo đảm khả năng thu hồi đầy đủ cả vốn và lãi ngay
từ khâu giải ngân tiền vay
Thứ hai: Tổ chức ghi chép phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời các
khoản cho vay, thu nợ, theo dõi thu nợ, chuyển nhóm nợ, trích lập dự phòng rủi
ro qua đó hình thành thông tin kế toán phục vụ quản lý tín dụng. Bảo vệ an toàn
vốn cho vay
Thứ ba: Quản lý hồ sơ cho vay, theo dõi kỳ hạn nợ để thu hồi nợ đúng
hạn hoặc chuyển nhóm nợ quá hạn khi người vay trả nợ không đúng hạn
Thứ tư: Tính và thu lãi cho vay chính xác, kịp thời, đầy đủ
Thứ năm: Giám sát tình hình tài chính cảu khách hàng thông qua hoạt
động của tài khoản tiền gửi và tài khoản cho vay. Phát hiện kịp thời những
thu nợ.. nhằm đảm bảo khoản vay an toàn, nâng cao chất lượng khoản vay, đảm
bảo hơn nữa an toàn tài sản cho ngân hàng. KTCV và nghiệp vụ tín dụng có
mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung hỗ trợ lẫn nhau.
1.2.3 Tổ chức công tác kế toán cho vay trong NHTM
1.2.3.1 Hồ sơ kế toán cho vay
Đối với bộ phận kinh tế quốc doanh: Hồ sơ xin vay do kế toán lưu giữ gồm:
Quyết định thành lập doanh nghiệp, quyết định bổ nhiệm giám đốc, kế toán
trưởng, đơn xin vay, giấy nhận nợ, giấy uỷ quyền của doanh nghiệp cho một
người đại diện doanh nghiệp tư nhân đến giao dịch vay vốn với ngân hang
Đối với bộ phận kinh tế ngoài quốc doanh: Hồ sơ cho vay mà kế toán lưu trữ
bao gồm rất nhiều loại khác nhau như: các loại đơn xin vay kiêm giấy nhận nợ,
16
phiếu thẩm định hiệu quả kinh tế của một dự án vay vốn và lượng tài sản thế
chấp, cầm cố…
Tất cả tài sản kế toán lưu giữ theo từng khách hàng riêng biệt và theo từng
năm. Đó là cơ sở hạch toán nội bộ, ngoại bảng đối với tài sản thế chấp, ngoài ra
còn là cơ sở pháp lý trong trường hợp KH vi phạm HĐTD không trả nợ gốc và
lãi vay cho NH
1.2.3.2 Chứng từ sử dụng trong kế toán cho vay
Chứng từ sử dụng trong kế toán cho vay là những loại giấy tờ, vật mang tin
đảm bảo về mặt pháp lý cho các khoản vay NH. Mọi sự tranh chấp về các
khoản cho vay hay trả nợ giữa NH và KH đều phải được giải quyết trên cơ sở
các chứng từ cho vay hợp pháp
Chứng từ cho vay bao gồm:
-Chứng từ gốc: Là chứng từ làm căn cứ pháp lý chứng minh một nghiệp vụ kinh
tế tài chính phát sinh và hoàn thành. Chứng từ gốc rất quan trọng nên phải đảm
bảo an toàn tuyệt đối. Bao gồm:
+Hợp đồng vay vốn: là thỏa thuận giữa NHTM và KH trong nghiệp vụ tín
dụng trong đó xác định rõ tính chất và hình thức của khoản vay, mục đích sử
dụng khoản vay, thời hạn, lãi suất chovay, kỳ hạn trả nợ gốc, lãi tiền vay
Các TK từ 211 đến 216 tiếp tục được chi tiết hoá theo chất lượng khoản vay:
• 2111: Nợ đủ tiêu chuẩn
• 2112: Nợ chú ý
• 2113: Nợ dưới tiêu chuẩn
• 2114: Nợ nghi ngờ
• 2115: Nợ có khả năng mất vốn
18
- Tài khoản 39 “Lãi và phí phải thu”: Dùng để phản ánh các khoản thu nhập về
lãi và phí của tổ chức tín dụng phát sinh trong kỳ kế toán nhưng chưa đến hạn
thanh toán. Trong kế toán cho vay, chủ yếu sử dụng TK 394- Lãi phải thu từ
hoạt động tín dụng. Tài khoản này gồm hai tài khoản cấp 3:
+3941 “Lãi phải thu từ cho vay bằng VND”
+3942 “Lãi phải thu từ cho vay bằng ngoại tệ và vàng”
- Tài khoản 70 “Thu từ hoạt động tín dụng”. Tài khoản này phản ánh các khoản
thu nhập từ hoạt động tín dụng, chủ yếu là lãi phát sinh trong kỳ
- Tài khoản 387 “Tài sản gán nợ đã chuyển quyền sở hữu cho TCTD, đang chờ
xử lý”
- Tài khoản 219 “dự phòng rủi ro khó đòi”: dung để dự phòng khoản phải thu
khó đòi, được trích từ chi phí của kỳ kế toán
- Tài khoản 4591 “Tiền thu từ việc bán nợ, TS đảm bảo nợ hoặc khai thác TS
đảm bảo nợ”
Tài khoản ngoại bảng
- Tài khoản 94 “Lãi cho vay và phí phải thu chưa thu được”: phản ánh số lãi
cho vay đã quá hạn TCTD chưa thu được. Gồm 2 tài khoản cấp 2:
+Tài khoản 941: Lãi cho vay quá hạn chưa thu được bằng VND
+Tài khoản 942: Lãi cho vay quá hạn chưa thu được bằng ngoại tệ
- Tài khoản 944 “Tài sản thế chấp cầm cố của khách hang”: phản ánh các TS
cầm cố, thế chấp của các tổ chức kinh tế, cá nhân vay vốn của NH theo chế độ
cho vay quy định
- Tài khoản 97 “Nợ khó đòi đã xử lý”: phản ánh các khoản nợ bị tổn thất đã
+Kế toán thu lãi định kỳ(hàng tháng)
20
Hàng tháng khi khách hàng đến trả lãi, kế toán tiến hành tính lãi trong tháng
cho KH để phản ánh vào TK 702 “Thu lãi cho vay”.Công thức tính lãi cho vay
từng lần
Lãi cho vay= Số tiền gốc cho vay x Lãi suất cho vay
Nợ: TK thích hợp( Tiền mặt, TG KH..)
Có: Thu lãi cho vay
+Kế toán thu lãi sau:
Hàng tháng KT tính toán số lãi cho vay phát sinh trong tháng và hạch toán
số lãi phát sinh vào thu nhập. Kế toán hạch toán
Nợ: TK Lãi phải thu từ hoạt động tín dụng(TK 3941)
Có: TK Thu lãi cho vay( TK 702)
Khi kết thúc hợp đồng tín dụng, KH sẽ trả cả nợ gốc và lãi vay. Lãi vay
được hạch toán như sau
Nợ: TK thích hợp( TK 1011, TK 4211,...)
Có: TK Lãi phải thu từ hoạt động tín dụng(TK 3941)
-Kế toán giai đoạn thu nợ
Cơ sở để kế toán thu hồi các khoản vay cho vay từng lần là kỳ hạn nợ ghi
trên HĐTD. Việc xác định kỳ hạn nợ của các khoản vay là trách nhiệm của
nhân viên tín dụng nhưng việc theo dõi kỳ hạn nợ là trách nhiệm của nhân viên
kế toán. Do vậy, nhân viên kế toán và TD phải phối hợp để theo dõi tình hình
trả nợ của người vay theo đúng kỳ hạn đã định hoặc xử lý nợ quá hạn nếu người
vay không có khả năng trả nợ đúng hạn và không được gia hạn nợ
Theo quy chế TD, đến hạn trả nợ người vay phải chủ động nộp tiền mặt hoặc
trích TK tiền gửi để trả nợ, kế toán cho vay chủ động lập phiếu chuyển khoản
trích TK tiền gửi của người vay để thu nợ
+Nếu thu bằng tiền mặt: Kế toán căn cứ vào giấy nộp tiền của người vay để
vào sổ chi tiết hoặc nhập dữ liệu máy tính
21
Vào cuối tháng các thanh toán viên quản lý tài khoản cho vay của KH lập
bảng kê tính lãi để hạch toán thu lãi. Bút toán thu lãi trực tiếp:
22
Nợ: TK tiền gửi của KH
Có: TK Thu lãi cho vay
-Kế toán giai đoạn thu nợ:
+Thu nợ trực tiếp vào TK cho vay. KH vay nộp tiền bán hàng bằng tiền mặt
hoặc chuyển khoản vào bên Có TK cho vay làm giảm số dư của TK này để trả
nợ NH, căn cứ vào chứng từ thích hợp, KT hạch toán:
Nợ: TK thích hợp(tiền mặt, TGTT..)
Có: TK Cho vay thích hợp
+NH thu nợ định kỳ từ tài khoản tiền gửi: tiền bán hàng sẽ được nộp vào TK
tiền gửi thanh toán. Đến kỳ hạn trả nợ KH vay lập ủy nhiệm chi trích TK tiền
gửi để trả nợ cho NH. Nếu KH vay không chủ động trả nợ thì NH chủ động lập
phiếu chuyển khoản, trích TK tiền gửi của KH để thu hồi nợ, KT hạch toán:
Nợ: TK tiền gửi của KH vay
Có: TK cho vay thích hợp
1.2.4.3 Kế toán các nghiệp vụ đi kèm nghiệp vụ cho vay
Về cơ bản, việc xử lý nợ khó đòi và trích lập dự phòng rủi ro ở hai phương
thức trên là như nhau.
-Xử lý nợ khó đòi: Trường hợp người vay không có khả năng trả nợ do
kinh doanh thua lỗ hoặc bị phá sản thì ngân hàng có thể tạm giữ tài sản của
người vay để “xiết nợ”. Trường hợp này kế toán lập chứng từ để hạch toán số
tài sản xiết vào tài khoản ngoại bảng “Tài sản gán, xiết nợ chờ xử lý” (TK 995).
Hạch toán:
Nhập: TK tài sản gán xiết nợ chờ xử lý (TK995).
Nếu KH không trả được nợ vay, ngân hàng có thể làm thủ tục phát mại tài
sản thế chấp của khách hàng vay hoặc tài sản của người bảo lãnh để thu hồi cả
nợ gốc và lãi (nếu khách hàng có tài sản thế chấp, cầm cố).
Xuất: TK Tài sản thế chấp, cầm cố của khách hàng .
TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi vốn.Tỷ lệ trích lập dự phòng là
100%
Số tiền dự phòng cụ thể đối với từng khoản nợ được tính như sau
R= max{0,(A-C) } x r (*)
Trong đó R: số tiền dự phòng cụ thể phải trích
A: Giá trị của khoản nợ
C: Giá trị khấu trừ của tài sản đảm bảo
r: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể
Giá trị khấu trừ của tài sản đảm bảo(C) được xác định trên cơ sở tích số của
giá trị tài sản với tỷ lệ được quy định.Cụ thể:
Chỉ tiêu Tỷ lệ tối đa
Số dư trên TKTG, sổ TK bằng đồng VN tại TCTD 100%
Tín phiếu KB, số dư trên TK tiền gửi, sổ TK bằng ngoại tệ tại
TCTD
95%
Trái phiếu chính phủ Thời hạn còn lại: 1 năm trở xuống 95%
Thời hạn còn lại: 1-->5 năm 85%
Thời hạn còn lại: >5 năm 80%
Thương phiếu, giấy tờ có giá của TCTD khác 75%
Chứng khoán của các TCTD khác 70%
Chứng khoán của doanh nghiệp 65%
BĐS( gồm nhà ở của dân cư có giấy tờ hợp pháp/ hoặc BĐS
gắn liền với quyền sử dụng đất hợp pháp)
50%
Các loại TSĐB khác 30%
Ví dụ: NHTM X cho vay KH Y, khoản vay 100 triệu đồng, giá trị của TSĐB
bất động sản là 120triệu đồng. Khoản vay đang được xếp ở nhóm 3. Theo quy
định 493, từng giá trị của (*) như sau
A = 100 triệu đồng
C = 120 x 50% = 60 triệu đồng