Đặc điểm cơ lý của một vài giếng khoan ở mỏ Đại Hùng - bồn trũng Nam Côn Sơn - Pdf 20

Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Anh Đức
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
1
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Anh Đức
MỤC LỤC
---oOo---
LỜI MỞ ĐẦU trang 3
PHẦN 1 : ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MỎ ĐẠI HÙNG trang 5
CHƯƠNG I: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÙNG NGHIÊN CỨU trang 6
- LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT

liền đến Bà Ròa cung cấp xấp xỉ 1 triệu m3/ngày đêm cho nhà máy điện Bà Ròa có
công suất 215 MW; dự án xây dựng nhà máy lọc dầu số 1 ở Dung Quất với công
suất 6 triệu tấn/năm đã được Chính phủ phê duyệt; dự án xây dựng nhà máy lọc
dầu số 2 tại Vũng Tàu cũng đang được Chính phủ xem xét.
Như vậy, ngành công nghiệp dầu khí ở nước ta hiện nay đang ở giai đoạn phát
triển nhất và chiếm một vò trí đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế.
Để có thể phát triển ngành công nghiệp dầu khí ngày càng mạnh hơn đòi hỏi phải
3
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Anh Đức
có nhiều công trình nghiên cứu hơn nữa và việc áp dụng những công nghệ kỹ thuật
hiện đại là một điều hết sức cần thiết. Việc xác đònh thông số vỉa để từ đó đánh giá
trữ lượng của mỏ là hết sực quan trọng, nó quyết đònh mỏ có giá trò thương mại hay
không để từ đó có kế hoạch khai thác một cách hợp lý và đạt hiệu quả cao nhất.
Với đề tài “Đặc điểm cơ lý của một vài giếng khoan ở mỏ Đại Hùng – bồn trũng
Nam Côn Sơn”, tác giả hy vọng đóng góp một phần nào đó để làm sáng tỏ các vấn
đề trên.
Trong quá trình hoàn thành đề tài này, em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình
của thầy PHAN VĂN KÔNG, giảng viên bộ môn Đòa chất Dầu khí trường Đại học
Khoa Học Tự Nhiên thành phố Hồ Chí Minh, kỹ sư NGUYỄN HỒNG MINH, Viện
Dầu khí Viện Nam (VPI) chi nhánh phía Nam, cũng như sự chỉ bảo giúp đỡ của
CÁC THẦY CÔ khoa Đòa chất trường trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên thành
phố Hồ Chí Minh và các bạn lớp ĐC 2001A. Em xin chân thành cảm ơn các thầy
cô cùng bạn bè đã giúp đỡ em trong suốt quá trình làm khóa luận này.
Do thời gian là khóa luận ngắn, tài liệu nghiên cứu còn hạn chế và với trình
độ của một sinh viên nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được
sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn cho đề tài được hoàn thiện.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 6 năm 2005
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Vũ Anh Đức
4

C, cao nhất là tháng 5: nhiệt độ lên đến 30.5
o
C. Ở dưới mực nước
biển, nhiệt độ vào mùa khô trung bình từ 26-27
o
C, mùa mưa từ 28-29
o
C.
Độ ẩm: nhìn chung khí hậu khô ráo, độ ẩm trung bình khoảng 60%.
Lượng mưa: lượng mưa chủ yếu tập trung vào mùa mưa với lượng mưa khoảng
2400 mm, các tháng 1-3 gần như không có mưa, lượng mưa thấp nhất vào tháng 2:
khoảng 0.6-6.1 mm, cao nhất vào tháng 10: khoảng 400 mm.
Gió mùa: trong năm có hai mùa gió chính: tháng 1-4 hướng gió chính là Đông
Nam và Nam, tháng 6-10 hướng gió chính là Tây và Tây Nam. Tốc độ gió lớn nhất
vào tháng 1 và tháng 2 (Từ 3.7 – 4.1 m/s).
6
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Anh Đức
Sóng: chế độ sóng chia làm hai mùa:
 Chế độ sóng mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, hướng sóng chính là
Tây và Tây Nam. Ngoài ra còn xuất hiện các hướng sóng Tây và Đông
Nam.
 Chế độ sóng mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3, hướng sóng chủ yếu là
Đông Bắc và Đông Đông Bắc.
 Trong tháng 11, sóng có chiều cao thấp hơn 1m chiếm khoảng 23.38%,
tháng 12 chiếm 13%. Từ tháng 11 đến tháng 1, sóng có chiều cao hơn 5
m chiếm khoảng 4.9%.
Dòng chảy: dưới ảnh hưởng của gió mùa biển Đông tạo nên dòng chảy đối
lưu, hướng và tốc độ dòng chảy phụ thuộc theo hướng gió và sức gió, ngoài ra do
ảnh hưởng của các yếu tố như: sự chênh lệch khối lượng riêng của nước, thủy triều,
đòa hình đáy và cấu tạo đường bờ tạo nên những dòng chảy khác nhau như dòng

Công tác nghiên cứu đòa chất bồn trũng Nam Côn Sơn bắt đầu từ năm 1968.
công tác nghiên cứu đòa chất ở đây được chia làm 2 giai đoạn:
I. Giai đoạn trước năm 1975
Từ năm 1975 trở về trước, công tác nghiên cứu đòa chất tìm kiếm dầu khí được
nhiều công ty dầu khí phương Tây đầu tư và triển khai trên toàn bộ thềm lục đòa
phía Nam nói chung, bồn trũng Nam Côn Sơn nói riêng. Giai đoạn này chủ yếu
nghiên cứu bằng phương pháp đòa chấn, họ đã khoan trên một số cấu tạo, dựa vào
đó xây dựng được bản đồ 1:100.000 cho các lô và 1:50.000 cho các cấu tạo có triển
vọng. Dựa vào kết quả này, vào cuối năm 1974 đầu năm 1975, hai công ty Pecten
và Mobil đã tiến hành một số giếng khoan trên các cấu tạo có triển vọng. Từ đó đã
cho thấy được những nét chính của yếu tố cấu tạo lớn và cho thấy sự có mặt của
các lớp phủ trầm tích Kainozoi dày hàng ngàn mét trên thềm lục đòa Nam Việt
8
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Anh Đức
Nam. Tuy nhiên, trong giai đoạn này chưa có một báo cáo nào về đặc điểm, cấu
trúc và lòch sử phát triển của toàn khu vực cũng như từng lô riêng biệt.
II. Giai đoạn sau năm 1975
Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Nhà nước quyết đònh thành
lập Tổng cục Dầu khí, nay là Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam. Tháng 11 năm
1975, công tác thăm dò dầu khí được đẩy mạnh trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt
Nam, đặc biệt là bồn trũng Sông Hồng và thềm lục đòa Nam Việt Nam, trong đó có
bồn trũng Nam Côn Sơn.
 Năm 1985, Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro thu nổ đòa chấn 2D
theo mạng lưới 1x1 km, tổng cộng 1050 km tuyến đòa chấn đã được
thu nổ trong vùng cấu tạo triển vọng.
 Năm 1984 – 1988, liên doanh Vietsovpetro đã khoan 3 giếng khoan
DH-1, DH-2 và DH-3. Trong đó có 2 giếng khoan DH-1, DH-2 cho
dòng dầu và khí đạt lưu lượng công nghiệp khi thử vỉa.
 Năm 1991, liên doanh Vietsovpetro đã tiến hành khảo sát đòa chất
3D do công ty GECO-DRAKLA thực hiện với mạng lưới tuyến

Mặt cắt mỏ Đại Hùng từ móng đến lớp phủ Đệ Tứ gồm có các tầng sau:
1. Móng trước Kainozoi:
Tất cả các giếng khoan ở Đại Hùng đều đã đạt đến tầng móng. Mẫu lõi lấy từ
các giếng khoan cho thấy: chủ yếu là các xâm nhập granitoid nứt nẻ cà nát, có màu
xám xanh đến xám trắng, độ hạt từ trung bình đến thô.
Theo kết quả phân tích lát mỏng, thành phần khoáng vật gồm có Plagioclase
(70%), Feldspar (< 5%), Biotite (12%), Horblend (5%), Thạch anh (8%); ngoài ra
còn có Sfen, Zircon …
Đá bò nứt nẻ nhiều, phong hóa, cà nát mạnh mẽ. Trước đây khả năng chứa của
nó ít được nghiên cứu. Nhưng từ khi VSP phát hiện dòng dầu có trữ lượng công
11
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Anh Đức
nghiệp trong móng thì đặc tính thấm chứa của nó đã được VSP tiến hành nghiên
cứu hàng loạt để lựa chọn phương án tối ưu.
2. Trầm tích Kainozoi
Trong khu vực của Đại Hùng, các trầm tích được phát hiện có tuổi từ Miocene
thượng cho đến hiện tại được phân chia như sau:
Giới Kainozoi
Hệ Neogen (N)
Thống Miocene (N
1
)
Phụ thống Miocene sớm (N
1
1
)
Điệp Dừa (N
1
1
d)

Miocene sớm của điệp Dừa. Đó là các trầm tích Carbonat và lục nguyên mòn chứa
vôi, giới hạn trên được xác đònh bởi bất chỉnh hợp Miocene giữa. Môi trường thành
tạo có tướng ven biển đến biển nông.
Trong phạm vi Miocene trung, các thành tạo đá vôi phát triển mạnh, chủ yếu
là đá vôi san hô có hay không chứa sét, tướng trầm tích từ biển nông đến biển sâu.
Chiều dày trầm tích biến thiên mạnh từ vài chục mét ở phần nông của mỏ (khối L),
lên đến vài trăm mét (ở phía Tây) và đạt cực đại ở vùng trung tâm.
Với sự có mặt của bào tử phấn hoa đới Florschuetzia trilobata, trầm tích điệp
Thông – Mãng Cầu được đònh tuổi Miocene giữa.
Phụ thống Miocene muộn (N
1
3
)
Điệp Nam Côn Sơn (N
1
3
ncs)
Đựơc xếp vào điệp Nam Côn Sơn chủ yếu là các trầm tích lục nguyên gồm:
sét vôi, bột kết, sét kết, đá vôi. Vật liệu trầm tích lắng đọng trong môi trường từ
ven biển đến biển nông, chiều dày từ 350 – 700 m.
Điệp Nam Côn Sơn phủ bất chỉnh hợp lên điệp Thông – Mãng Cầu. Bất chỉnh
hợp này ở một số nơi là bất chỉnh hợp góc, với sự hiện hiện của nó đã hình thành
các dạng bẫy Đòa Tầng.
Tuổi của trầm tích được xác đònh là dựa vào sự hiện diện của trầm tích
Carbonate và bào tử phấn hoa đới Florschuetzia meridionalis.
Hệ Đệ Tứ
Thống Pliocene – Pleistocene (N
2
– Q
1

tập Carbonate), cho thấy mỏ mở rộng về phía Tây Bắc, vát nhọn về phía Nam.
phía Đông là các khối sụt lớn được phân cắt bởi đứt gãy F6, F7 có biên độ lớn hơn
1000 m. Hai đứt gãy này chạy dọc theo phía Đông của cấu tạo, gặp nhau tạo thành
mũi nhô kín tại vò trí giếng khoan 05-ĐH2. Bề mặt móng nông nhất là 2520 m ở
phần trung tâm phía Đông của mỏ. Đặc điểm cấu trúc chi tiết của mỏ được thể hiện
như sau:
a. Bình đồ cấu trúc móng
Móng Đại Hùng là một khối nhô bò phân cắt mãnh liệt bỡi các đứt gãy, cao
nhất là ở khu vực giếng khoan 05-ĐH2 và th6áp dần về phía Tây. phía Nam (khu
vực giếng 05-ĐH1) móng nhô khá cao, đứt gãy F12 làm nhiệm vụ phân chia vùng
này với vùng trung tâm, bản thân vùng này cũng bò chia cắt thành nhiều khối nhỏ
bởi các đứt gãy.
16
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Anh Đức
b. Tầng cấu trúc Miocene sớm
Trên bản đồ cấu tạo, tầng H100 khép kín ở phần phía Bắc và phía Tây theo
đường đẳng sâu 2500 m. Do sự hoạt động và dòch chuyển của các đứt gãy F6, F7
làm cho diện tích khối L bò thu hẹp lại.
Khối N được tạo nên là do phần trung tâm của đứt gãy F12 bò đứt gãy F6, F7
cắt qua; dọc theo rìa đứt gãy F1 ở cánh phía Tây là những vòm đứt gãy khép kín do
sự phân cắt của đứt gãy F1 tạo nên.
Đối với tầng H90, cấu tạo vẫn khép kín ở phía Bắc và Tây Bắc với đường
đẳng sâu 2800 m. Khối F là sự giao nhau của đứt gãy F1 và F6 ở phía Nam, còn
phần trung tâm của mỏ có dạng một nêm lớn cắm về phía Nam.
c. Tầng cấu trúc Miocene giữa
Hình dạng của tầng này trên bản đồ cấu trúc khá bình ổn, chủ yếu là các
thành tạo trầm tích Carbonate, tại khu vực giếng khoan 05-ĐH2 vắng mặt lớp trầm
tích này. Trong tầng này, hoạt động đứt gãy đã giảm dần về biên độ và số lượng.
d. Tầng cấu trúc Miocene muộn
Trên bình đồ, cấu tạo tầng H30 cho thấy mỏ Đại Hùng được mở rộng và khá

• Khối D (4X): nằm ở phần trung tâm của mỏ giữa các đứt gãy F3,
F8, F9, F5. Đây là khối lớn với kích thước 2km x 4km ở móng.
• Khối H (5X): nằm về phía Tây khối D và phân chia với khối này
bởi một số đứt gãy không lớn lắm. Kết quả nghiên cứu RFT cho
thấy khả năng thông nhau của khối D, H, N từ tầng H100 trở lên.
• Khối K và J (1P): có hình dạng dải, bò phân chia bởi các đứt gãy
F2, F3, F4, F7. Theo BHP thì khối này được chia thành khối nhỏ
K và J, trên Đòa chấn có thể thấy sự thông nhau của K và J.
18
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Anh Đức
• Khối L (DH-2): là khối cao nhất, về mặt cấu tạo phân cách với
khối K và J bởi đứt gãy F2 và có biên giới Đông là các đứt gãy
F6, F7. Diện tích của khối tăng dần từ trên xuống dưới do hướng
đổ của các đứt gãy.
• Khối N và G: có cùng ranh giới phía Đông là đứt gãy F11.
 Các khối phía Tây Nam: bao gồm khối F (ĐH-1), B (8X), A, T, U, V và
Z.
 Phần phía Đông: có diện tích tương đối lớn (khối A) với sự mở rộng
của nó lên phía Bắc do sự yếu dần và mất đi của đứt gãy F12 về phía
Đông. Trên sơ đồ phân khối, mỏ có hiều đứt gãy nhỏ chạy theo hướng
Đông Bắc phân chia phần phía Nam ra nhiều dải hẹp.
19
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Anh Đức
SƠ ĐỒ PHÂN KHỐI, ĐỨT GÃY VÀ VỊ TRÍ CÁC GIẾNG KHOAN
THUỘC MỎ ĐẠI HÙNG
II. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐỊA CHẤT MỎ ĐẠI HÙNG
20
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Anh Đức
1. Giai đoạn Miocene sớm
Quá trình lắng đọng vật liệu trầm tích liên tục trong khu vực mỏ bắt đầu từ

các khu vực đáy của khối nâng L có các điều kiện cổ đòa lý rất tốt cho sự
thành tạo và phát triển các khối đá vôi san hô. Việc có kột khối lượng lớn các vật
liệu bào mòn và đá vôi ở cánh phía Đông của mỏ là do quá trình phá hủy các khối
san hô xảy ra trong vùng nâng cao nhất của mỏ Đại Hùng (khu vực giao của F6,
F7), hoặc có thể là do sự thay đổi quá nhanh của mực nước biển và của quá trình
bóc mòn.
Chỉ trong một thời gian rất ngắn (thời gian Đòa Chất) – giai đoạn Miocene
muộn – đã xảy ra một số thời kỳ gián đoạn trầm tích cũng như việc thay đổi nhanh
môi trường trầm tích. Do vậy, các tích tụ mang tính chu kỳ các vật liệu sét trong
quá trình tích tụ cánh phía Đông của mỏ Đại Hùng dọc theo đứt gãy F6, F7; điều
này giải thích cấu trúc phân lớp trong đá Carbonate của mỏ. Tầng chắn mang tính
khu vực cho tất cả các bể chứa trong khu vực bồn trũng là các tầng sét của điệp
Nam Côn Sơn.
4. Giai đoạn Pliocene – Đệ Tứ
Vào giai đoạn Pliocene – Đệ Tứ, biển tiến ồ ạt trên toàn khu vực thềm lục đòa
phủ ngập các đới nâng Côn Sơn, Khorat, Natuna. Trên bình đồ cấu trúc mỏ, các tập
trầm tích không còn mang tính kế thừa của giai đoạn trước mà chúng có xu hướng
nghiêng dần về phía biển Đông. Các thành tạo lắng đọng trong giai đoạn này được
xếp vào hệ tầng Biển Đông có tuổi N
2
– Q
1
bđ.
III. TIỀM NĂNG DẦU KHÍ CỦA MỎ ĐẠI HÙNG
A. ĐÁ SINH
Việc nghiên cứu đặc điểm về đá sinh trong khu vực mỏ Đại Hùng đã được
tiến hành dựa trên cơ sở nghiên cứu đặc tính của các tầng trầm tích có khả năng
sinh trong khu vực căn cứ vào các chỉ tiêu sau:
- Độ giàu vật chất hữu cơ (tổng hàm lượng carbon hữu cơ TOC).
22

Trưởng thành thật sự 0.55 – 0.72 435 – 440
Cửa sổ tạo dầu 0.72 – 1.3 440 – 446
Đới khí ướt và Condensat 1.3 – 2.0 446 – 500
Kết thúc trưởng thành > 2.0 > 500
1. Độ giàu vật chất hữu cơ
Một tầng trầm tích có thể được xếp vào loại có khả năng sinh dầu khí với hàm
lượng vật chất hữu cơ TOC đạt từ 0.5 – 1 % đối với trầm tích lục nguyên, từ 0.25 –
0.5 % đối với đá trầm tích carbonat, với S2 > 2 kg/T.
 Trầm tích Miocene dưới
Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh của trầm tích Miocene dưới theo các mẫu
trầm tích than và mẫu trầm tích lục lục nguyên mòn dưới đây.
Các chỉ số tầng sinh được phân tích trên các mẫu trầm tích có chứa than giếng
khoan DH-4: (Bảng 4)
Chiều sâu (m) TOC (%) T
max
(
o
C) S
1
(kg/T)
S
2
(kg/T)
R
o
(%)
2532 71.7 421 15.42 249.99 0.06
2565 71.7 426 18.60 315.29 0.06
2504 68.3 425 16.99 252.6 0.06
24

TOC (%) T
max
(
o
C) S
1
(kg/T)
S
2
(kg/T)
R
o
(%) PI
DH-1 0.42 436 43.00 0.92 0.52 0.32
DH-2 0.18 438 38.16 2.94 0.83 0.92
DH-3 2.09
63.48
445
440
0.17
14.43
1.02
162.78
0.75
0.93
0.14
0.08
DH-4 14.55
44.80
432


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status