TÀI LIỆU NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI FPI pot - Pdf 21

TÀI LIỆU
NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ
GIÁN TIẾP NƯỚC
NGOÀI FPI

1
Chương 1
Lý luận chung về nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài FPI
I. Khái niệm FPI
Theo quy định trong Khoản 3, Điều 3 của Luật Đầu tư mới: "Đầu tư
gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái
phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các
định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản
lý hoạt động đầu tư".
Theo cách hiểu này, đầu tư gián tiếp nước ngoài là các khoản đầu tư
gián tiếp do các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện – để phân biệt với đầu tư gián
tiếp trong nước do các nhà đầu tư trong nước thực hiện – thông qua 2 hình thức
chủ yếu sau:
• Nhà đầu tư trực tiếp mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy
tờ có giá khác của các doanh nghiệp, của chính phủ và của các tổ chức tự trị
được phép phát hành trên thị trường tài chính.
• Nhà đầu tư gián tiếp thực hiện đầu tư thông qua Quỹ đầu tư
chứng khoán hoặc định chế tài chính trung gian khác trên thị trường tài chính.
II. Đặc trưng của FPI
Thứ nhất, nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp
phát hành chứng khoán hoặc các hoạt động quản lý nói chung của cơ quan phát
hành chứng khoán.
Thứ hai, nhà đầu tư không kèm theo cam kết chuyển giao tài sản vật
chất, công nghệ, đào tạo lao động và kinh nghiệm quản lý như trong trực tiếp
đầu tư (FDI). FPI là đầu tư tài chính thuần túy trên thị trường tài chính.
2

dịch vụ tư vấn và dịch vụ định mức hệ số tín nhiệm doanh nghiệp và chứng
khoán. Dòng FPI sẽ chảy mạnh vào trong nước tỷ lệ thuận và cấp số nhân cùng
với sự gia tăng quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân
và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động hiệu quả ở trong
nước, cũng như cùng với việc nới rộng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư
nước ngoài trong các doanh nghiệp đó…
III. Tính chất của FPI
1. Tính thanh khoản cao
Do mục đích của FPI là tỷ suất lợi tức cao với một mức độ rủi ro nhất
định (hoặc tỷ suất lợi tức nhất định với mức rủi ro thấp nhất) chứ không quan
tâm đến quá trình sán xuất kinh doanh giống như trong phương thức FDI, cho
nên NĐT nước ngoài sẵn sàng bán lại những chứng khoán mà họ đang nắm
giữ để đầu tư sang thị trường khác hoặc chứng khoán khác với tỷ suất lợi tức
dự tính cao hơn, an toàn hơn. Tính thanh khoản cao của FPI khiến cho hình thức
đầu tư này trở thành khoản mục đầu tư ngắn hạn mặc dù cố phiếu được coi là
chứng khoán dài hạn và nhiều loại trái phiếu giao dịch trên TTCK có thời gian
đáo hạn dài hơn 1 năm.
2. Tính bất ổn định
Tính thanh khoản cao là nguyên nhân làm cho dòng vốn FPI mang tính
bất ổn định. Sự bất ổn định, trong một giới hạn nào đó có thể có lợi do nó làm
cho thị trường tài chính nội địa hoạt động năng động và hiệu quả hơn, vốn đầu
tư không ngừng được phân bổ lại, dịch chuyến từ nơi có tỷ suất lợi nhuận thấp
sang nơi có tỷ suất lợi nhuận cao. Tuy nhiên, nếu điều đó xảy ra với tốc độ quá
nhanh, những ảnh hưởng xấu đến hệ thống tài chính và tình trạng bất ổn định
của nền kinh tế xảy ra là không thể tránh khỏi. Vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn
đối với các nước có thị trường tài chính mới hình thành và nền kinh tế còn
trong giai đoạn chuyển đổi như Việt Nam.
4
3. Tính dễ đảo ngược
Tính dễ đảo ngược của dòng vốn FPI thực sự gây tác động xấu đến nền

Điểm khác biệt thứ nhất là quyền sử dụng và quyền sở hữu nguồn vốn. Với
FDI, nhà đầu tư có quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn còn FPI nhà đầu tư chỉ
có quyền sở hữu chứ không có quyền sử dụng vốn. Khi đầu tư theo hình thức
trực tiếp, nhà đầu tư vừa là người bỏ vốn, vừa là người trực tiếp quản lý điều
hành việc sử dụng vốn của mình, vừa có quyền tham gia vào hoạt động của
doanh nghiệp. Do đó, nhà đầu tư đặc biệt quan tâm tới hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp vì liên quan trực tiếp đến lợi nhuận của họ. Lợi ích thu
được theo lợi nhuận công ty và được chia theo tỉ lệ vốn góp. Trái lại, nếu đầu tư
theo hình thức vốn gián tiếp FPI, nhà đầu tư chỉ đơn thuần là hoạt động bỏ
vốn, đầu tư vốn vào doanh nghiệp thông qua việc mua bán chứng khoán hoặc
những tài sản có giá khác, nhà đầu tư không có quyền tham dự vào hoạt động
của công ty. Lợi nhuận thu được từ việc chia cổ tức hoặc việc bán chứng khoán
thu chênh lệch, Tuy nhiên, nếu nắm giữ một trên một tỷ lệ cổ phần nhất định,
FPI có thể trở thành FDI, nhà đầu tư có quyền ra quyết định đối với công ty họ
bỏ vốn.
Điểm khác biệt thứ hai là tốc độ luân chuyển vốn: FPI có khả năng luân
chuyển vốn tốt hơn FDI. Đặc điểm nổi bật nhất của FPI là tính bất ổn định. Việc
bán chứng khoán diễn ra đơn giản hơn nhiều so với việc hủy bỏ một dự án đầu tư
trong đầu tư trực tiếp nước ngoài. Do đó, tốc độ luân chuyển vốn của FPI cao
hơn nhiều so với FDI. Điều này có thể giúp các nền kinh tế mới nổi tăng tính
linh hoạt, thúc đẩy quá trình phát triển của mình. Tuy nhiên, trong thời kì nền kinh
tế suy thoái, lượng vốn ra và vào quá nhanh lại làm nền kinh tế mất tính cân bằng,
gây ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất, Ngược lại, FDI là nguồn bổ
sung vốn dài hạn cho nước chủ nhà không dễ bị rút đi trong thời gian ngắn vì gắn
liền với hoạt động của dự án. Nước chủ nhà sẽ được tiếp nhận một nguồn vốn
6
lớn bổ sung cho vốn đầu tư trong nước mà không lo phải trả nợ. Ví dụ như, nếu
nhà đầu tư chọn hình thức đầu tư trực tiếp FDI vào một dự án xây dựng 1 công
trình, muốn thu hồi vốn thì phải đợi công trình được hoàn thiện và như vậy có
thể sẽ mất tới rất nhiều năm. Trong khi đó, nếu đầu tư vào thị trường chứng

chính quốc tế.
V. Tác động của FPI
1. Tác động tích cực
FPI trực tiếp làm tăng tổng vốn đầu tư gián tiếp và gián triếp làm tăng
tổng vốn đầu tư trực tiếp xã hội, góp phần khai thác & nâng cao hiệu quả sử
dụng các nguồn lực trong nước, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy hội
nhập thị trường vốn quốc
tế.
FPI là một kênh dẫn vốn quy mô lớn sẽ trực tiếp làm tăng lượng FPI trên thị
trường vốn trong nước. Khi FPI gia tăng sẽ làm phát sinh hệ quả tích cực gia
tăng dây chuyền đến dòng vốn đầu tư gián tiếp trong nước. Nói cách khác, các
nhà đầu tư trong nước sẽ “nhìn gương" các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài và
tăng động lực bỏ vốn đầu tư gián tiếp của mình, Kết quả tổng đầu tư gián tiếp
xã hội sẽ tăng lên. Hơn nữa, FPI gia tăng sẽ là một bảo đảm và tạo động lực mới
hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư khác mạnh dạn thông qua các quyết định đầu
tư trực tiếp mới của mình, kết quả là gián tiếp góp phần làm tăng đầu tư trực
tiếp xã hội từ phía các nhà đầu tư cả nước ngoài, cũng như trong nước.
FPI góp phần tích cực vào sự phát triển của thị trường tài chính nói
riêng, hoàn thiện các thể chế và cơ chế thị trường nói chung. Do FPI có tính
thanh khoản cao, nên các giao dịch vốn trên thị trường sẽ trở nên sôi động hơn
khi có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, điều kiện và kết quả
đi kèm với sự gia tăng dòng FPI này là sự phát triển nở rộ các định chế & dịch
vụ tài chính – chứng khoán, trước hết là các loại quỹ đầu tư, công ty tài chính, và
các thể chế tài chính trung gian khác, cũng như các dịch vụ tư vấn, bổ trợ tư
pháp & hỗ trợ kinh doanh, xác định hệ số tín nhiệm, bảo hiểm, kế toán, kiểm
toán & thông tin thị trường. Đồng thời kéo theo sự gia tăng yêu cầu & hiệu quả
8
áp dụng các nguyên tắc cạnh tranh thị trường, trước hết trên thị trường chứng
khoán…Tất cả những điều này trực tiếp và gián tiếp góp phần phát triển mạnh
mẽ hơn các bộ phận và tổng thể thị trường tài chính nói riêng, các thể chế & cơ

khoán có thể chuyển đổi và mang tính thanh khoản cao trên thị trường tài
chính, nên các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài dễ dàng và nhanh chóng mở
rộng hoặc thu hẹp, thậm chí đột ngột rút vốn đầu tư của mình về nước, hay
chuyển sang đầu tư dưới dạng khác, ở địa phương khác tùy theo kế hoạch và
mục tiêu kinh doanh của mình. Đặc trưng nổi bật này cũng chính là nguyên
nhân hàng đầu gây nên nguy cơ tạo và khuếch đại độ nhạy cảm và chấn động
kinh tế ngoại nhập của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế
của nước tiếp nhận đầu tư. Cần nói thêm rằng, sự nhạy cảm và bất ổn kinh tế có
thể bắt nguồn từ các nguyên nhân bên trong, cũng có thể hoàn toàn do các
nguyên nhân bên ngoài nước tiếp nhận đầu tư (phản ứng dây chuyền, làn sóng
domino của các nhà đầu tư quốc từ đó dẫn tới khủng hoảng tài chính tiền tệ châu
Á cuối thập kỷ 90 thế kỷ trước)
Thứ hai, khi dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào quá nhiều, nhất là đầu tư
gián tiếp, có thể gây ra những rủi ro vĩ mô. Nguy cơ phổ biến nhất là tỷ giá tăng
lên quá mức (đồng bản tệ lên giá), chính điều đó phá vỡ cân bằng tài khỏan vốn
và làm tích tụ nợ nước ngòai (tỷ gía hối đóai thực tăng sẽ thúc đầy khả năng vay
ngoại tệ không có bảo đảm và gieo mầm cho tình trạng mất vốn khi tỷ giá giảm
xuống mức thấp hơn mức có thể kiểm sóat được). Bên cạnh đó, vốn đổ vào có
thể gây ra áp lực lạm phát trong một số trường hợp như: khi tỷ giá cố định đươc
duy trì, dòng vốn đổ vào dẫn đến tình trạng mở rộng điều kiện tiền tệ trong
nền kinh tế, qua đó sẽ tác động đến mức giá, tỷ lệ lạm phát có thể gia tăng.
Điều đó sẽ gây bất lợi cho hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động của hệ
thống trung gian tài chính nói riêng
10
Chương 2
Thực trạng huy động vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài FPI của
Việt Nam
I. Việc quản lý của nhà nước với dòng vốn FPI
1. Quy định về tỷ lệ nắm giữ sở hữu nước ngoài
Sau 12 năm mở cửa cho đầu tư trực tiếp nước ngoài, ngày 28/6/1999, Thủ

thành lập theo pháp luật nước ngoài và hoạt động kinh doanh tại nước ngoài hoặc
tại Việt Nam.
“Người nước ngoài không thường trú ở Việt Nam” là công dân nước
ngoài cư trú ở nước ngoài.
“Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam” là công dân nước ngoài và
người không có quốc tịch Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam.
“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” là người quốc tịch Việt Nam
và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.
Trong khi đó đối với công ty niêm yết, bằng quyết định số 146/2003/QĐ-
TTg ngày 17/3/2003 của Thủ tướng chính phủ tỷ lệ mua cổ phiếu từ 20% đã được
nâng lên mức 30%. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được nắm giữ không giới hạn tỷ
lệ trái phiếu lưu hành trên thị trường chứng khoán Việt Nam thay cho việc chỉ nắm
giữ 40% như trước kia. Tỷ lệ góp vốn của tổ chức kinh doanh chứng khoán nước
ngoài trong Công ty Chứng khoán liên doanh hoặc công ty quản lý quỹ liên doanh
tối đa là 49% vốn điều lệ tăng lên so với mức 30% như trong Quyết định
139/1999/QĐ-TTg.
12
Việc mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có lẽ sẽ mãi còn bị khống chế
ở tỷ lệ 30% nếu như còn sự phân biệt giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh
nghiệp trong nước.
Tuy nhiên đến năm 2005 với việc ra đời của Luật Doanh nghiệp và Luật
Đầu Tư sự phân biệt này đã được xóa bỏ. Theo tinh thần của hai đạo luật này nhà
đầu tư nước ngoài nói chung được đối xử bình đẳng như nhà đầu tư trong nước, cả
về quyền đầu tư, góp vốn, mua cổ phần (dù còn một số phân biệt nhất định).
Quyết định số 238/2005/QĐ-TTg về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào
TTCK Việt Nam ban hành ngày 29/9/2005, theo đó các tổ chức cá nhân người
nước ngoài mua bán chứng khoán trên TTCK được phép nắm giữ tối đa 49% tổng
số cổ phiếu niêm yết; tối đa 49% tổng số chứng chỉ quỹ đầu tư niêm yết, đăng ký
giao dịch của một quỹ đầu tư chứng khoán và không giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối với
trai phiếu lưu hành của một tổ chức phát hành.

Như vậy từ ngày 11/1/2008 (một năm sau khi gia nhập WTO), thực chất
rào cản chỉ nằm trong ba loại trường hợp đặc biệt còn lại theo quy định của Nghị
định 139/2007/NĐ-CP. Tuy nhiên khi Việt Nam thực thi lộ trình cam kết với
WTO những lĩnh vực hạn chế nói trên trong tương lai cũng sẽ “mở toang” cánh
cửa cho đầu tư nước ngoài.
Như vậy với hàng loạt những quy định trên, tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư
nước ngoài đã được nâng lên từ 20% trong gia đoạn đầu lên 49% trong giai đoạn
hiện nay. Hạn chế tỷ lệ sở hữu cho nhà đầu tư nước ngoài hiện nay cũng là một
trong những rào cản trong việc quản lý luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài.
2. Quy định giao dịch trên tài khoản vốn
14
Năm 2002, NHNN ban hành quyết định 998/2002/QĐ-NHNN ngày
13/9/2002 về quản lý ngoại hối đối với việc mua, bán chứng khoán trong đó, nhà
ĐTNN chỉ được chuyển phần vốn đầu tư thuộc giao dịch vốn ra nước ngoài sau 1
năm kể từ ngày phần vốn đó được chuyển vào tài khoản giao dịch chứng khoán
bằng VND.
Và năm 2004, với việc ban hành Quyết định 1550/2004/QĐ-NHNN ngày
6/12/2004 về quản lý ngoại hối đối với việc mua, bán chứng khoán của ĐTNN tại
TTGDCK đã tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước
ngoài. Cụ thể, quyết định này đã bỏ ràng buộc điều kiện rút vốn của nhà đầu tư
nước ngoài, trong khi Quyết định 998/2002/QĐ-NHNN trước đây quy định đối
tượng này chỉ được chuyển ra nước ngoài phần vốn đầu tư (thuộc giao dịch vốn)
sau 1 năm kể từ ngày phần vốn đó được chuyển vào tài khoản giao dịch chứng
khoán bằng VND. Đối với các khoản thu nhập tư đầu tư chứng khoán (cổ tức, trái
tức, chênh lệch giá ), việc chuyển ra nước ngoài cũng thuận lợi hơn. Cụ thể theo
Quyết định 1550, nhà đầu tư nước ngoài chỉ cần hoàn tất các nghĩa vụ về thuế với
Nhà nước là được quyền mua ngoại tệ để chuyển ra nước ngoài.
Bên cạnh đó, Quyết định 1550 cho phép nhà đầu tư nước ngoài được mở tài
khoản giao dịch chứng khoán tại công ty chứng khoán và các công ty này sẽ đảm
trách việc kiểm soát dòng tiền vào, ra của nhà đầu tư nước ngoài thông qua một

khoán trong thời gian 3 năm kể từ năm 2000 đến hết năm 2002.
Thuế thu nhập doanh nghiệp
Đối với công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ ưu đãi về thuế thu
nhập doanh nghiệp theo quy định hiện hành còn được ưu đãi thêm: miễn thuế một
năm và giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp 2 năm tiếp theo.
16
Đối với các tổ chức phát hành có chứng khoán được niêm yết được giảm
50% thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong hai năm tiếp theo kể từ khi niêm
yết chứng khoán lần đầu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán.
Thuế thu nhập các nhân
Các cá nhân đầu tư chứng khoán được miễn thuế thu nhập đối với người có
thu nhập cao cho phần thu nhập từ cổ tức, lãi trái phiếu, chênh lệch mua bán
chứng khoán.
Thực hiện quy định trên, Bộ tài chính đã có Thông tư số 74/2000/TT-BTC
ngày 19/7/2000 hướng dẫn thi hành Quyết định số 39/2000/QĐ-TTg ngày
27/3/2000 của thủ tướng Chính phủ quy định tạm thời ưu đãi về thuế đối với các
hoạt động kinh doanh chứng khoán.
Sau đó, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 72/2006/TT-BTC sửa đổi, bổ
sung Thông tư số 100/2004/TT-BTC ngày 20-10-2004 hướng dẫn về thuế giá trị
gia tăng (VAT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với lĩnh vực chứng
khoán (CK).
Thuế thu nhập doanh nghiệp
Công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán được áp
dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 20% trong thời hạn 10 năm, kể
từ khi khai trương hoạt động kinh doanh. Hết thời hạn hưởng thuế suất 20%, công
ty phải chuyển sang nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo mức thuế suất 28%.
Trường hợp công ty đã đi vào hoạt động kinh doanh và đã thực hiện kê khai
nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo thuế suất 32% (đối với doanh nghiệp hoạt
động theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước) hoặc theo thuế suất 25% (đối với
doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) thì kể từ năm

nhà đầu tư chứng khoán đăng ký tại các công ty chứng khoán sẽ phải nộp thêm
18
một khoản thuế thu nhập cá nhân với 2 phương án mà Tổng cục thuế đã đưa ra.
Một là, cá nhân chuyển nhượng chứng khoán đăng ký nộp thuế theo biểu thuế toàn
phần với thuế suất là 20%. Việc áp dụng thuế suất 20% phải tính trên tổng các loại
chứng khoán đang giao dịch trong năm Dương lịch. Cá nhân chuyển nhượng
chứng khoán đã đăng ký nộp thuế suất 20% vẫn phải tạm nộp theo thuế suất 0,1%
trên giá chứng khoán chuyển nhượng từng lần. Hai là trường hợp cá nhân chuyển
nhượng chứng khoán không đăng kí nộp thuế theo biểu thuế toàn phần với thuế
suất 20% thì áp dụng thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng chứng khoán từng
lần.
Đối với thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài thì theo Luật đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam, các tổ chức cá nhân tham gia đầu tư chứng khoán trên thị
trường chứng khoán Việt Nam phải nộp thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài 5%
trên số thu nhập chuyển ra nước ngoài.
Đến năm 2004, Nhà nước đã ban hành Thông tư số 26/2004/TT-BTC
hướng dẫn thực hiện quy định về thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và hoàn
thuế TNDN tái đầu tư với các nhà đầu tư nước ngoài. Theo Thông tư này, từ ngày
1/1/2004, các khoản thu nhập hợp pháp mà tổ chức kinh tế hoặc cá nhân nước
ngoài thu được do tham gia đầu tư vốn dưới bất kì hình thức nào theo quy định
của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, kể cả cá nhân là người Việt Nam định
cư ở nước ngoài đầu tư về nước và người nước ngoài thường trú ở Việt Nam theo
Luật khuyến khích đầu tư trong nước, khi chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc
giữ lại ngoài Việt Nam không phải nộp thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.
4. Hướng dẫn hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường
chứng khoán
Ngày 24/12/2008, Bộ Tài chính ký ban hành Quyết định 121/2008/QĐ-
BTC ban hành Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường
chứng khoán Việt Nam. Theo đó, Quy chế này lần đầu tiên hướng dẫn hoạt động
đầu tư của tất cả các tổ chức cá nhân nước ngoài; hoạt động cung cấp dịch vụ

Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện các hoạt động, giao dịch đầu tư thông qua
hình thức ủy quyền qua các văn phòng đại diện, nhân viên làm việc tại các văn
phòng đại diện phải chấm dứt việc ủy quyền. Văn phòng đại diện được nhận ủy
quyền đặt lệnh của công ty mẹ và phải thực hiện chế độ báo cáo cho UBCKNN.
II. Thực trạng huy động vốn FPI của Việt Nam
1. Thực trạng huy động vốn FPI của Việt Nam từ thị trường trong
nước
1.1. Thực trạng huy động vốn FPI qua các quỹ đầu tư
1.1.1. Phân loại các nhà đầu tư ở Việt Nam
Những công ty quản lý quỹ nước ngoài với định hướng chỉ đầu tư lâu
dài tại Việt Nam thì đều thành lập các Văn phòng tại Việt Nam, từ đó đi huy động
vốn tại các trung tâm tài chính quốc tế dưới hình thức thành lập quỹ đóng, quỹ mở
(hạn chế chức năng). Thuộc thành phần này là các tổ chức như MeKong capital,
Vina capital, Dragon Capital
Dòng vốn từ các định chế này là dài hạn, thông thường một quỹ có thời hạn
hoạt động từ 7 - 10 năm. Phương châm hoạt động của các tổ chức này thường là
đầu tư dài hạn và đầu tư giá trị, ít có các hoạt động đầu cơ lướt sóng, bởi vì họ
phải mất rất nhiều thời gian công sức để xây dựng một danh mục đầu tư. Hơn nữa,
những quyết định đầu tư, mua bán chứng khoán thường thông qua Hội đồng đầu
tư, Hội đồng quản trị và Ban đại diện quỹ nên đầu tư theo kiểu lướt sóng là khó
xảy ra. Tuy nhiên, các tổ chức này cũng sẵn sàng tái cấu trúc danh mục đầu tư khi
cảm thấy rằng nắm giữ loại cổ phiếu nào đó về mặt lâu dài là không chắc chắn
hoặc cẩn phải phân bổ nguồn vốn để phân tán rủi ro và đầu tư vào những cổ phiếu
khác có lợi hơn.
Hoạt động tái cơ cấu danh mục đầu tư của các tổ chức này không phải là
động thái rút vốn về nước, mặc dù họ có thể chuyển tiền thoái vốn sang ngoại tệ
mạnh trong một khoảng thời gian nào đó.
21
Nguồn vốn FPI từ các định chế này thường là dài hạn và ổn định, dĩ nhiên
trừ một số trường hợp quỹ phải giải thể thanh lý trước thời hạn, nguồn vốn này

Dòng vốn FPI từ các nhà đầu tư chiến lược (cùng ngành nghề với doanh
nghiệp sở tại). Ở nhiều nước, người ta coi đây là dòng vốn trực tiếp. Nhìn chung
các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài thường quan tâm tới những doanh nghiệp
lớn thuộc ngành bưu chính viễn thông, ngân hàng bảo hiểm, thực phẩm
Có một số hạn chế trong thu hút nhà đầu tư chiến lược như tỷ lệ sở hữu, tỷ
lệ cổ phần nhà nước. Để khắc phục những hạn chế trên thì thực tế có nhiều nhà
đầu tư chiến lược nước ngoài thực hiện việc hợp tác với công ty trong nước thông
qua việc thành lập công ty liên doanh
1.1.1. Thực trạng đầu tư của các quỹ đầu tư
Khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới và mở cửa ra bên ngoài và nhất là khi
ban hành Luật Đầu tư nước ngoài thì đầu tư gián tiếp nước ngoài đã xuất hiện tại Việt
Nam. Đây được coi là làn sóng FPI thứ nhất vào Việt Nam.
Giai đoạn từ 1988 đến 2000: là thời kỳ mở đầu cho dòng vốn FPI vào Việt Nam,
hoạt động đầu tư gián tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) ở mức độ rất khiêm
tốn, chủ yếu là thông qua các quỹ đầu tư. Giai đoạn này chỉ có khoảng 70 công ty cổ
phần của Việt Nam có vốn đầu tư gián tiếp với tổng số vốn khoảng 200 triệu USD.
Trong giai đoạn này, ở Việt Nam đã có bảy quỹ đầu tư nước ngoài được thành lập với
tổng số vốn được huy động khoảng 400 triệu USD. Các quỹ này đều do công ty quản lý
quỹ nước ngoài quản lý và những lĩnh vực được quan tâm là bất động sản, dịch vụ tài
chính, du lịch, sản xuất xi măng và thép. Cụ thể như sau:
Tháng 10 năm 1991: Vietnam Fund. Tổng số vốn là 75 triệu USD, dạng quỹ
đóng. Theo cơ cấu ngành, phần đầu tư chiếm tỷ trọng lớn nhất là bất động sản 24,8%,
tiếp đó là chế biến nông nghiệp 17,1%, công nghiệp chiếm 15%, dịch vụ tài chính chiếm
14,1% và du lịch 7,9 %. Nhìn chung thì danh mục đầu tư của quỹ là tương đối đa dạng,
dàn trải nhiều lĩnh vực khác nhau. Song tỷ lệ giữa các khoản đầu tư trong cùng một danh
mục lại không cân đối. Ví dụ trong khoản mục đầu tư nông nghiệp thì có tới 16% đầu tư
vào công ty đường Anglo,…
23
Tháng 06 năm 1992: Vietnam Keppel Fund (The Vietnam Investment Fund
Ltd.) Tổng số vốn 12,5 triệu USD, dạng quỹ đóng.

hoàn vốn nội bộ IRR là từ 25- 30%, chiến lược phát triển trong 3-5 năm và tỷ lệ chia cổ
tức là 10%. Khác với Beta Vietnam fund quỹ không có ý định kiểm soát công ty, trên
50% tài sản quỹ đầu tư vào công ty Việt Nam, tài trợ cho hoạt động quản lý của Việt
Nam. Lĩnh vực trọng tâm của quỹ là tài chính chiếm 37% tiếp đó là các ngành sản xuất
như xi măng 10%, thép 5,9%, Đồng thời quỹ cũng quan tầm đến một số lĩnh vực khác
như bất động sản, du lịch,
Tháng 09 năm 1994: Templeton Vietnam Opportunities Fund. Tổng số vốn 117
triệu USD, dạng quỹ đóng
Tháng 10 năm 1994: Lazard Vietnam Fund. Tổng số vốn 58,5 triệu USD, dạng
quỹ đóng.
Bảng 1: Danh sách quỹ và công ty quản lý quỹ
(trước tháng 7/1995)
Công ty quản lý quỹ Quỹ
Năm
thành
lập
Quy mô
(triệu
USD)
Tình trạng hiện
nay
1. Vietnam Fund
Management Co.Ltd.
Vienam Fund T10/91 75 Chấm dứt hoạt
động năm 2001
2. The Vietnam
Investment Fund Ltd.
Vietnam Keppel
Fund
T6/92 12.5 Thu hẹp quy mô


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status