nghiên cứu trung quốc số 1(65) - 2006 74 ạo giáo là tôn giáo ra đời và
phát triển ở Trung Quốc. Tuy
hình thành muộn hơn Phật giáo,
nhng ngọn nguồn t tởng của Đạo
giáo lại có từ rất sớm. Về đại thể, có bốn
nguồn chủ yếu sau: 1. Tôn giáo nguyên
thuỷ và thuật cúng bái (vu thuật). Trong
xã hội viễn cổ, ngời ta không thể lý giải
nổi những biến hoá của vạn vật trong tự
nhiên và hiện tợng sinh- lão- bệnh- tử
của con ngời. Họ cho rằng có một sức
mạnh siêu nhiên (Thần lực) chi phối tất
cả, từ đó xuất hiện sự sùng bái tự nhiên
và tổ tiên, cùng những biện pháp cúng tế
và cầu nguyện, mong đợc quỷ thần phù
hộ độ trì. Đó chính là thuật cúng.
Ngời hành nghề cúng bái gọi là Vu
nhân. Ngời thời đó cho rằng, thầy
cúng có khả năng nối liền quan hệ giữa
Đế trong truyền thuyết và Lão Tử thời
Xuân Thu là những ngời sáng lập Đạo
giáo. Theo họ, Hoàng Đế và Lão Tử đều
chủ trơng dùng thuật thanh tịnh để trị
thiên hạ, hơn nữa khái niệm Đạo mà
các Đạo gia sùng bái lại có khuynh
hớng thần bí hoá, và lý luận dỡng
sinh mà họ tán dơng cũng bao hàm t
tởng trờng sinh. Những nội dung t
tởng này đều đợc Đạo giáo tiếp nhận.
Sau đó, Hoàng Đế và Lão Tử lại không
ngừng đợc thần bí hoá và tôn giáo hoá.
Đến thời Đông Hán (năm 25- 220) thì
xuất hiện Đạo Hoàng Lão, suy tôn
Đ
Đạo giáo
75
Hoàng Đế và Lão Tử là giáo chủ. Đó
chính là tiền thân của Đạo giáo.
Vậy, Đạo giáo chính thức xuất hiện từ
bao giờ? Theo các học giả Trung Quốc,
tôn giáo này xuất hiện vào giữa thời
Đông Hán, nhng có hai giả thuyết khác
nhau. Theo giả thuyết thứ nhất, thời
Hán Thuận Đế có một ngời Lang Tà
tên là Vu Cát nói rằng mình có 170
quyển sách thần, gọi là Thái bình thanh
của ba anh em họ Trơng cũng dùng bùa
phép phù thuỷ để trị bệnh cứu ngời,
thu hút đợc đông đảo đạo đồ, để rồi sau
đó, Trơng Giác đã phát động cuộc khởi
nghĩa Hoàng Cân nổi tiếng trong lịch sử.
Thái Bình đạo chính là một lu phái của
Đạo giáo thời kỳ đầu.
Tín ngỡng căn bản của Đạo giáo
chính là Đạo (hoặc Đại Đạo). Đây là
một khái niệm mợn dùng của Đạo gia,
vì thế, nó vừa có mối liên hệ lại vừa có sự
khác biệt với phạm trù Đạo của Lão Tử.
Đạo giáo cho rằng, Đạo là Mối liên kết
h vô, tột cùng của tạo hoá, gốc của thần
linh, bắt đầu của trời đất (H vô chi hệ,
tạo hoá chi cực, thần minh chi bản, thiên
địa chi nguyên); vũ trụ, âm dơng, vạn
vật đều do Đạo hoá thành (vạn tợng dĩ
chi sinh, ngũ hành dĩ chi thành). Điều
này có nghĩa, Đạo là bản thể của vũ
trụ, là cội nguồn của vạn vật trong trời
đất. Nó tồn tại ở mọi nơi, sinh ra tất cả,
hoá thành tất cả, bao dung tất cả, là vật
sáng thế vô cùng trừu tợng. Đạo giáo
đồng thời còn cho rằng Đạo là vô vi tự
hoá; chỉ có thanh tĩnh vô vi, điềm đạm,
không ham muốn, ngời ta mới có thể
lĩnh hội đợc Đạo. Theo Đạo giáo, Lão
Tử chính là hoá thân của Đạo vậy. Trời
sinh Đạo, Đạo sinh Nguyên khí,
tơng tự nh hoàng đế ở cõi trần. Có
thuyết cho rằng vị thần này là con vua
nớc Quang Nghiêm Diệu Lạc, song từ
bỏ vơng vị, học đạo tu thân, trải qua
muôn vàn tai hoạ, cuối cùng trở thành
Ngọc Hoàng đại đế. Khác với Đạo giáo,
trong số các vị thần dân gian ở Trung
Quốc, Ngọc Hoàng lại là thiên thần tối
cao- nh tiểu thuyết Tây du ký từng
miêu tả, có thể chỉ huy đợc cả Thái
Thợng Lão Quân. Điều này hoàn toàn
khác với hệ thống thần tiên trong Đạo
giáo; Vị thần thứ hai là Trung thiên tử
vi bắc cực đại đế, giúp Ngọc Hoàng
quản lý khí hậu bốn mùa, mặt trời, mặt
trăng và các vì sao; Vị thần thứ ba là
Câu trần thợng cung thiên hoàng đại
đế, giúp Ngọc Hoàng cai quản Tam tài
(thiên, địa, nhân) và việc binh đao ở cõi
trần; Vị thứ t là nữ thần Thừa thiên
địa pháp thổ hoàng địa chi, quản lý việc
sinh đẻ, vẻ đẹp của vạn vật và núi non,
sông nớc. Ngoài ra, trong phả hệ thần
tiên của Đạo giáo còn có Vơng mẫu
nơng nơng cai quản tiên nữ; Cửu
thiên huyền nữ coi giữ thiên th; Tứ trực
công tào trông coi ngày, tháng, năm;
Tam thập lục thiên cang và Thất thập
nhị địa sát cai quản các vì sao,
Đạo giáo có đặc điểm căn bản là
Lại nh Ngũ đấu mễ đạo: Cháu trai của
Trơng Lăng là Trơng Lỗ đã dựa vào
đạo đồ đông đảo để công chiếm Hán
Trung và dựng lên ở đó một chính quyền
có tính khu vực, tồn tại suốt hơn 30 năm
mới bị Tào Tháo tiêu diệt. Từ cuộc khởi
nghĩa Hoàng Cân và chính quyền
Trơng Lỗ, Tào Tháo đã nhận ra sức
mạnh của Đạo giáo, nên sau khi đánh
dẹp chính quyền Trơng Lỗ, ông ta bèn
sử dụng chính sách phân hoá Đạo giáo
Đạo giáo
77
và lợi dụng tôn giáo này một cách hạn
chế. Về sự phát triển nhanh chóng của
Đạo giáo và một số thành công của nó, có
ba nguyên nhân chủ yếu sau: một là, t
tởng triết học mà Đạo giáo dựa vào
đợc sản sinh trên chính đất nớc Trung
Hoa, lại có quá trình lu hành gần 500
năm từ thời Chiến Quốc đến cuối thời
Đông Hán, gây đợc ảnh hởng rộng rãi,
nên nó có nền tảng dân tộc nhất định.
Những vị thiên thần mà Đạo giáo tín
ngỡng đều thoát thai từ những câu
chuyện thần thoại viễn cổ, truyền thuyết
dân gian và học thuyết của các nhà thiên
văn- địa lý, đợc ngời dân Trung Quốc
trờng sinh thì không thể; thành tiên thì
cha có ai thể nghiệm. Cả hai đều là h.
Lấy h để chứng h, tính mê hoặc của
nó vì thế không thể so với Phật giáo.
Giai đoạn phát triển quan trọng nhất
của Đạo giáo là thời kỳ Nguỵ- Tấn- Nam,
Bắc triều. Có hai nguyên nhân, một mặt
là sự phát triển của Phật giáo đã kích
thích Đạo giáo phát triển, nghĩa là về lý
luận và thực tiễn, Đạo giáo cần phải
phát triển năng lực đối kháng, nhằm
làm suy yếu ảnh hởng của Phật giáo,
nâng cao vị thế của mình; mặt khác, từ
các cuộc khởi nghĩa nông dân cuối thời
Đông Hán, các bậc đế vơng phong kiến
đã nhận ra sức mạnh của Đạo giáo, từ đó
chủ trơng lợi dụng tôn giáo này để ru
ngủ quần chúng, củng cố địa vị thống trị
của mình. Trong bối cảnh đó, đã xuất
hiện bốn nhân vật có cống hiến rất lớn
đối với sự phát triển của Đạo giáo. Ngời
thứ nhất là Cát Hồng (284- 364), hiệu là
Bão phác tử, ngời huyện Câu Dung,
tỉnh Giang Tô ngày nay. Thời trẻ, Cát
Hồng đã say mê thuật thần tiên, lại đợc
Cát Huyền- em ruột của ông nội- vốn là
một Phơng sĩ nổi tiếng thời Tam Quốc
dạy dỗ. Cát Hồng từng giữ một chức
quan nhỏ ở Triều Trung, sau đó ông ta
từ quan, sống ẩn c ở núi La Phù luyện
nên đợc Thái Võ Đế triều Bắc Nguỵ rất
tín nhiệm. Nghe lời tuyên truyền của
ông ta, Thái Võ Đế tiêu diệt Phật giáo,
đề cao Đạo giáo, cho ông ta quyền cải
cách Thiên s đạo. Khẩu hiệu của Khấu
Khiêm Chi là Trừ khứ tam Trơng
(Trơng Lăng, Trơng Hoành, Trơng
Lỗ) nguỵ pháp, sau đó lập ra tông phái
Bắc thiên s đạo, phục vụ chính quyền
đơng thời. Ngời thứ ba là Lục Tu Tĩnh
(406- 477), Đạo sĩ nớc Tống thời Nam
triều, ngời huyện Ngô Hng, tỉnh Chiết
Giang ngày nay. Từ nhỏ, Lục Tu Tĩnh
đã xuất gia tu đạo, thích nghề bán thuốc
nay đây mai đó. Về sau, đợc sự ủng hộ
mọi mặt của vơng triều Lu Tống, ông
ta đến L Sơn Noi theo tam Trơng ,
mở rộng nhị Cát (Cát Huyền, Cát Hồng)
(Tổ thuật tam Trơng, hoằng diễn nhị
Cát), tiến hành chỉnh lý hệ thống kinh
điển Đạo giáo, chế định các nghi thức,
quy phạm trai giới, khiến lý luận và
hình thức tổ chức của Đạo giáo ngày
càng hoàn thiện, sau đợc tôn là Nam
thiên s đạo. Đạo quán Giản Tịch ở L
Sơn ngày nay chính là Đàn phép của Lục
Tu Tĩnh lúc sinh thời. Ngời thứ t là
Đào Hoằng Cảnh (456- 536), đệ tử của
Lục Tu Tĩnh. Là ngời hiểu biết về lý
luận Đạo giáo, nghề thuốc và luyện đan,
nghiên cứu sách Đạo và những sáng tác
về chủ đề Đạo giáo ngày càng thịnh
hành, có tác dụng kích thích sự phát
triển của lý luận Đạo giáo. Đến thời
Tống, nhà nớc chủ trơng chỉnh lý kinh
điển Đạo giáo, đồng thời sức cho các nơi
xây dựng Đạo quán. Tống Huy Tông còn
tự xng là Giáo chủ đạo quân hoàng đế,
Đạo giáo
79
lệnh cho toàn quốc phải cầu tiên học Đạo.
Trong nhà Thái học còn lập ra học vị
Tiến sĩ Đạo đức kinh. Những chủ trơng
trên khiến Đạo giáo phát triển mạnh mẽ.
Hai triều đại Nguyên- Minh cũng rất tôn
sùng Đạo giáo. Minh Thế Tông thậm chí
còn tự xng là Huyền đô cảnh vạn thọ
đế quân, bản thân không màng đến
triều chính, tự lập đàn trai giới và tế
thần, bổ nhiệm Đạo sĩ vào những chức
vụ quan trọng trong triều, khiến quan
hệ giữa chính quyền với Đạo giáo ngày
càng mật thiết. Từ nửa sau triều Minh,
Đạo giáo quan phơng dần dần mất uy
thế, nhng Đạo giáo thông tục trong dân
gian vẫn hoạt động vô cùng sôi nổi. Bớc
vào triều Thanh, do tầng lớp thống trị
coi trọng Phật giáo, thế lực Đạo giáo dần
Riêng ở lĩnh vực văn học, trớc hết nó
đã góp phần làm phong phú sắc thái
lãng mạn trong nhiều tác phẩm văn
chơng qua các thời kỳ khác nhau. Nhà
thơ Lý Bạch thời Đờng là đại diện tiêu
biểu nhất trong số đó. Lại nh, một số
tác phẩm thành văn hoặc truyền miệng
đợc lu truyền rộng rãi trong dân gian,
nh Phong thần diễn nghĩa, Tây du ký
và Câu chuyện Bát tiên thì đều trực tiếp
lấy đề tài từ các hoạt động thần tiên của
Đạo giáo. Cuối cùng, ở lĩnh vực phong
tục và tập quán dân gian, có không ít
ngày lễ tết truyền thống thấm đợm nội
dung Đạo giáo. Nhiều vị thần của tôn
giáo này, nh Ngọc Hoàng đại đế, Vơng
mẫu nơng nơng, Văn Xơng đế quân,
Quan Thánh đế quân, đã trở thành tín
ngỡng phổ biến trong dân gian, có ảnh
hởng sâu sắc đối với kết cấu tâm lý văn
hoá của mọi ngời.
HƯƠNG THảO (biên khảo)
SáCH THAM KHảO
1. Trung Quốc lịch sử tam bách đề,
Thợng Hải Cổ tịch xuất bản xã, 1989
2. Trung Quốc văn hoá yếu lợc, Bắc
Kinh, Nhân dân xuất bản xã, 1994
3.
Trung Quốc triết học tam bách đề,
Thợng Hải Cổ tịch xuất bản