ghiên cứu cơ cấu cây trồng trên đất ruộng không chủ động nước tại thành phố lào cai - Pdf 22

1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt p :// w w

w. l rc

-tnu. e d

u. v

n
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
O0O
NGUYỄN LINH QUANG
NGHIÊN CỨU CƠ CẤU CÂY TRỒNG
TRÊN ĐẤT RUỘNG KHÔNG CHỦ ĐỘNG

ỚC
TẠI THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO
CAI
Chuyên ngành : Trồng
trọt
Mã số : 60.62.01
LUẬN VĂN
THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG
NGHIỆP
Ngƣời hƣớng
dẫn khoa học
PGS. TS Nguyễn Thế Đặng
Thái nguyên, 2007


n
3
LỜI CẢM
ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ nhiệt
tình của nhiều tập thể cá nhân, các cơ quan và địa
phƣơng
nơi thực hiện
đề tài.
Tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Thế
Đặng và tập thể các thầy cô giáo
trƣờng
Đại học Nông lâm Thái Nguyên
đã tận tình giúp đỡ,
hƣớng
dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân thành cảm ơn UBND Thành phố Lào Cai, UBND các
xã nơi thực hiện đề tài, Trƣờng Trung cấp Nghề tỉnh Lào Cai, Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai, phòng Kinh tế Thành phố,
phòng Nội vụ Thành phố, phòng Tài nguyên môi trƣờng Thành phố,
phòng Thống kê Thành phố, Trạm khuyến nông Thành phố, Trạm Khí
tƣợng
– Thuỷ văn, và đặc biệt là các hộ nông dân tham gia triển khai thử
nghiệm
Tập thể cán bộ khoa SĐH, khoa Nông học –
Trƣờng
Đại học Nông
lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học

1.3. Nghiên cứu các loại hình sử dụng đất 16
1.4. Tình hình nghiên cứu khai thác đất 1 vụ ở Việt Nam 20
CHƢƠNG
2: NỘI DUNG VÀ
PHƢƠNG
PHÁP 24
NGHIÊN
CỨU
2.1. Đối
tƣợng
nghiên cứu 24
2.2. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu 24
2.3. Nội dung nghiên cứu 24
2.3.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội tác động đến 24
sản xuất trên đất ruộng không chủ động nước trên địa
bàn Thành phố Lào cai.
2.3.2. Đánh giá thực trạng sản xuất trên đất ruộng không chủ 24
động nước của Thành phố Lào Cai.
2.3.3. Đánh giá cơ cấu giống cây trồng vụ Xuân hiện có trên 25
đất ruộng không chủ động nước của các xã vùng nghiên
cứu của Thành phố Lào Cai.
2.3.4. Tiến hành nghiên cứu và thử nghiệm cơ cấu cây trồng 25
vụ Xuân trên đất ruộng không chủ động nước của nông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt p :// w w

w. l rc

-tnu. e d

u. v

3.2.3. Xác định những khó khăn chính đối với việc khai thác 51
đất ruộng không chủ động nước
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt p :// w w

w. l rc

-tnu. e d

u. v

n
6
3.3. Đánh giá cơ cấu cây trồng vụ Xuân trên đất ruộng 52
không chủ động nƣớc
3.3.1. Thực trạng cơ cấu cây trồng trên đất ruộng không chủ 52
động nước
3.3.2. Đánh giá cơ cấu cây trồng vụ Xuân trên đất ruộng 56
không chủ động nước tại Thành phố Lào Cai
3.4. Kết quả thử nghiệm cơ cấu giống cây trồng vụ Xuân 67
trên đất ruộng không chủ động nƣớc
3.4.1. Thử nghiệm về cơ cấu giống ngô 68
3.4.2. Thử nghiệm về cơ cấu giống đậu tương 71
3.4.3. Thử nghiệm về cơ cấu giống khoai tây 73
3.4.4. Thử nghiệm về cơ cấu giống lạc 75
3.5. Tổng hợp kết quả 77
CHƢƠNG
4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 79
4.1. KẾT LUẬN 79
4.1.1. Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của 79
Thành phố ảnh hưởng tới sản xuất trên đất ruộng không

của Thành phố Lào Cai
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
STT NỘI DUNG
Trang
1
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất đai của Thành phố Lào Cai
37
2
Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của Thành phố
39
Lào Cai
3
Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất ruộng Thành phố Lào Cai
39
4
Bảng 3.4: Tỷ lệ hộ nghèo của Thành phố Lào Cai qua các năm
42
5
Bảng 3.5: Số lƣợng và sản lƣợng gia súc, gia cầm chủ yếu từ
44
năm 2002 đến 2006 của Thành phố Lào Cai
6
Bảng 3.6: Tình hình sử dụng đất ruộng không chủ động
nƣớc
của
47
Thành
phố Lào Cai
7
Bảng 3.7: Những khó khăn chính đối với việc khai thác đất

thị
trƣờng

62
khả năng cho giá trị kinh tế của các cây trồng vụ Xuân trên đất
ruộng không chủ động nƣớc
12
Bảng 3.12: Đánh giá khả năng chống chịu với điều kiện ngoại
64
cảnh
của các cây trồng vụ Xuân trên đất ruộng không chủ động nƣớc
13
Bảng 3.13: Tổng hợp xếp hạng chỉ tiêu đánh giá các cây trồng
66
vụ Xuân trên đất ruộng không chủ động nƣớc
14
Bảng 3.14 : Năng suất, hiệu quả kinh tế của các giống ngô và
69
lựa chọn của nông dân
15
Bảng 3.15: Năng suất, hiệu quả kinh tế của các giống đậu tƣơng
71
và lựa chọn của nông dân
16
Bảng 3.16: Năng suất, hiệu quả kinh tế của các giống khoai tây
74
và lựa chọn của nông dân
17
Bảng 3.17: Năng suất, hiệu quả kinh tế của các giống lạc và lựa
76

Nhà nước
ta đã và
đang

những chủ trương, chính
sách
nhằm hạn chế tối đa
việc chuyển
đổi đất
nông nghiệp sang
loại đất
khác.
Đồng thời,
các địa
phương cũng đang luôn chú trọng việc khai thác
đất
nông
nghiệp
sẵn có, trong đó
đặc biệt

nhóm
đất có độ
dốc
và đất
ruộng một
vụ ở
miền
núi.
Đối với sản xuất nông nghiệp ở miền núi từ lâu đã gắn liền với sản xuất

đất đai
phải đảm bảo canh
tác lâu
bền gắn
liền với
bảo
vệ môi trường.
Để hạn chế
những thiên
tai bất
thường, giảm thiểu
tình
trạng thoái
hoá
đất, Nhà nước đã có những quy định pháp lý,
nghiêm
cấm tình trạng phá rừng
làm
nương
dẫy tại các vùng miền núi, đưa việc sản xuất trên đất
nương
rẫy vào
quản lý chặt chẽ.
Trước
thực
trạng
trên để đảm bảo vấn đề
lương
thực cho
người

n
10
ruộng. Diện tích
đất
này

miền
núi
hiện
nay
một phần
lớn là đất
ruộng không
chủ
động
nước.
Đối với
Thành
phố Lào Cai cũng có một số yếu tố
không
nằm
ngoài
thực
trạng trên, song Thành phố cũng
đã có
những chính sách
cụ thể
thúc đẩy việc
khai
thác

sản
lượng lương thực cũng đang
dần
được tăng
lên.
Bên
cạnh
những thành
tựu đạt
được
thì sản
xuất
nông
nghiệp
của
Thành
phố vẫn
còn nhiều tồn tại và hạn chế, việc
chuyển
dịch cơ cấu cây trồng còn
chậm,
sản
phẩm hàng
hoá

mức thấp, chuyển giao tiến
bộ
khoa học
kỹ
thuật mới vào

trạng
trên và
nhằm đóng
góp
những
giải
pháp thích
hợp cho
khai thác triệt để tiềm năng đất đai, dần dần nâng cao năng lưc người dân,
phát huy
được những
tiến bộ
khoa
học kỹ
thuật mới
phù hợp với
điều kiện
của
địa phương,
nhất
là trên đất
ruộng
một vụ
không
chủ
động nước, chúng
tôi tiến
hành thực
hiện đề tài:
Nghiên

YÊU
CẦU
NGHIÊN
CỨU
-
Đánh
giá điều kiện tự
nhiên,
kinh tế xã hội tác
động
đến sản
xuất
trên
đất
ruộng không
chủ
động nước trên
địa
bàn Thành phố Lào
Cai.
- Đánh giá thực trạng sản xuất trên đất ruộng không chủ động nước của
Thành phố Lào
Cai.
- Xác
định những
trở
ngại
đối với việc
khai
thác đất

nhất là trong giai đoạn hiện
nay,
nhiều quốc
gia
trong
đó có Việt
Nam
đã có
nhiều những nghiên
cứu và ứng
dụng thành công nhiều giống cây trồng, vật nuôi và các biện pháp kỹ thuật
tiên tiến
nhằm không ngừng nâng
cao
năng
suất và chất
lượng nông
sản
phẩm,
lấy đó làm cơ sở
cho việc phát triển kinh
tế
của
đất nước.
Trong lịch
sử
phát triển
lâu đời
của sản xuất nông nghiệp
các hệ

thống
cũ.
Hiện
nay thì các hệ
thống
này tồn tại xen kẽ nhau và mỗi hệ
thống
tồn tại thích
hợp với từng điều
kiện
của
mỗi
địa phương.
Theo mức độ tiến bộ của tổ chức sản xuất người ta chia ra các hệ thống
nông nghiệp
như:
- Hệ
thống nông nghiệp
cổ truyền.
- Hệ
thống nông nghiệp chuyển
tiến.
- Hệ
thống nông nghiệp hiện
đại.
Hệ thống nông
nghiệp
cổ truyền thì mang nhiều tính chất địa
phương,
hệ

nghiệp phát triển, thay
đổi
toàn
bộ
điều kiện canh
tác,
trồng
các
loại
cây tạo ra
sản phẩm hàng hoá, cơ giới hoá và tự động hoá hầu như toàn bộ các quá
trình. Sử dụng
nhiều
phân bón,
thuốc
trừ sâu,
giống
mới năng suất cao, sử
dụng nước tưới và các công trình thuỷ lợi. Việc tiến hành hệ thống nông
nghiệp
hiện đại đòi hỏi
phải

nhiều điều kiện thuận
lợi
như
tập
trung ruộng đất,
thuận tiện
về

trồng
này với môi trường bên ngoài. Đó là sự thích nghi với điều kiện tự
nhiên, trình độ
canh
tác để
nhằm
đạt
hiệu quả cao
nhất.
Bố trí một hệ thống cây trồng hợp lý, phù hợp với một trong những
biện pháp kỹ thuật nhằm tận dụng các nguồn lợi tự nhiên kinh tế - xã hội,
nâng cao
hiệu quả kinh
tế
trên một đơn
vị
sản
xuất.
Trong
thực tế sản xuất, mỗi hệ thống cây trồng đều có ưu điểm và
nhược
điểm
của
chúng xong một
hệ
thống
cây
trồng
tối ưu
được

phát
triển
rộng rãi, khơi dậy được
lòng nhiệt tình của nhân dân
áp
dụng vào
sản xuất
Trong việc xác định hệ thống cây trồng cho một vùng, một khu vực sản
xuất nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế thì ngoài việc giải quyết tốt mối liên hệ
hệ
thống
cây
trồng
với các điều kiện thổ
nhưỡng,
khí
hậu,
tập
quán canh
tác còn
cần
phải quan
tâm tới
phương hướng
sản
xuất

vùng,
khu vực đó. Vì vậy
nghiên

giả
thiết tiền

hình của
hệ thống.
Thu thập
số
liệu:
Số
liệu thống
kê, số
liệu qua điều
tra.
Phân tích mẫu theo 4 đặc trưng: Không gian, thời gian, lưu thông, quyết
định.
Hệ thống phụ: Với mục đích phân chia từ hệ thống lớn thành những hệ
thống nhỏ nhằm phát hiện những thuận lợi và yếu tố hạn chế trong những
điều
kiện
cụ thể
hơn,
chi
tiết
hơn.
Xác định những mấu chốt trong quá trình phân
tích.
Thiết
kế, cải
tiến


cây
trồng

sẵn, dùng phương pháp phân
tích hệ
thống nhằm
tìm ra
những điểm
mấu chốt của hệ
thống,
đó là chỗ ảnh
hưởng không
tốt hoặc hạn
chế từ đó đề
xuất những hướng giải quyết chỉnh
sử hệ
thống hoàn chỉnh, hiệu
quả
hơn [22]. Hệ thống cây trồng là thành phần của giống và loài cây được bố trí
trong
không gian

thời gian
của các loại cây
trồng trong
một hệ sinh thái
nông
nghiệp
nhằm
tận

lao động và quản
lý [22]. Để xác định loại cây
trồng
đưa vào
nhằm
cải tiến hệ
thống
cây
trồng
cũ cần nắm
được:
- Hệ thống cây trồng cũ hiện có là gì ? Hiệu quả sản xuất của nó như thế
nào
? Có
điều kiện

khiếm khuyết
cải
tiến
?
-
Điều
kiện đất đai của vùng
chuyển
đổi như thế nào ? phù hợp với
những
loại
cây
trồng
gì ?

[12].
Với quan điểm về sinh thái học các nhà
nghiên
cứu cho rằng: Trong
một
kiểu vùng sinh thái, nhất định
cần
đảm bảo
độ
che phủ
đất
quanh năm,
tối
ưu,
phát huy
được
khả
năng quang
hợp của
nhiều
loại cây
trồng
xen,
ghép, tranh
thủ
được không gian với nhiều tầng sinh thái và hạn chế đến mức cao nhất tình
trạng rửa
trôi, xói mòn đất. Do đó khi
nghiên
cứu về hệ

trồng, giống
cây
trồng được
bố trí
hợp

trong không
gian
và thời gian, nhưng không phải là mối quan hệ thuần tuý giữa cây trồng
với nhau. Mà mối quan hệ này được gắn liền với các yếu tố bên ngoài như
điều kiện tự
nhiên,
điều kiện kinh tế xã hội (lao
động,
thị
trường,
quản lý sản
xuất, tập quán, kinh
nghiệm
sản
xuất,
. . .).
Năng
suất một loại cây
trồng
(Y)
chịu
ảnh
hưởng
của quản lý sản xuất (M) và môi

chọn dựa trên
lợi ích lớn
nhất
cho đa số
người dân,
cơ cấu cây
trồng phải
có độ an
toàn,
sác
xuất gặp
rủi do
thấp nhất, phù hợp với
tập
quán của
địa
phương, đảm
bảo an
toàn
hệ
sinh thái trong vùng.
Cơ cấu cây
trồng phải
đáp
ứng
được
yêu cầu phát triển chăn nuôi, phải kết hợp chặt chẽ với lâm
nghiệp,
thuỷ sản và đồng thời tạo cơ sở cho ngành nghề khác phát triển. Tiếp cận cơ
cấu cây trồng là tiếp cận hệ sinh thái

thì: Hệ
thống
canh tác là tổng hợp các
loại
cây trồng được
bố trí
theo không gian

thời gian với
hệ
thống biện pháp
kỹ
thuật
được thực hiện nhằm
đạt
năng suất
cây
trồng cao

nâng cao
độ
phì của
đất
[17].
Cơ cấu cây
trồng
là tỷ lệ các
loại
cây trên
một diện

ngành
nông
nghiệp,
lâm
nghiệp,
chăn nuôi, chế biến
nông
thuỷ sản . . . phản
ánh
mối quan
hệ tác
động
lẫn
nhau, giữa các yếu
tố
kinh
tế,
yếu
tố cấu
thành năng
suất,
quan
hệ sản
xuất
gắn liền với
không gian

thời gian nhất định
cả về số
lượng

quả,
cây
thực phẩm. Trong chăn nuôi giữa
gia súc
và gia cầm, thuỷ đặc sản . . .Hơn nữa cơ cấu cây trồng phải gắn liền với lưu
thông,
chế biến,
nghĩa

phải
có một nền
thương nghiệp, công nghiệp
chế bến
phát triển phản
ánh quá trình trao đổi giữa công
nghiệp
và nông
nghiệp
mở
rộng.
Thương nghiệp

cầu nối giữa sản xuất
và thị trường.
Trong thực tế sản xuất thì mỗi cơ cấu cây trồng đều có ưu, nhược điểm
song
sự
chuyển dich
cơ cấu cây
trồng

các
loại
cây
trồng
có sản
phẩm
có giá trị
xuất khẩu
thấp chính tỏ sản xuất ở vùng đó kém phát triển và ngược lại. Dựa
vào cơ cấu cây
trồng
ta có thể
biết được nền nông nghiệp của
tất cả
các nước
đang phát
triển.
Lịch
sử
phát triển nông nghiệp
chỉ rõ,
việc phát triển
nền
nông nghiệp
hàng
hoá trên cơ sở nền
nông
nghiệp tự cấp tự túc
được thực
hiện

mạng
kỹ thuật nông
nghiệp
của các nước Tây Âu được bắt đầu bằng một cuộc cách
mạng cơ cấu cây
trồng. Cuối
thế kỷ
XVIII
các
nước Anh, Pháp,
Bỉ, Hà
Lan
chủ
yếu độc
canh
cây lúa mì với
chế
độ
canh
tác 3 vụ,
năng suất
lúa mì
thấp
chỉ đạt
6 - 7 tạ/ha. Dân số tăng lên lương thực ở các nước này thiếu trầm trọng. Để
tăng sản lượng
lương
thực thì phải giảm diện tích trồng cỏ,
chuyển
sang trồng

dụng
cải tạo và tăng độ phì cho
đất, mặt khác có thức ăn cho gia súc nên chăn nuôi phát
triển, nguồn
phân bón
dồi dào. Vì vậy năng suất lúa mì vào thế kỷ 19 tăng lên đạt 14 - 18 tạ/ha và
sau đó lại đưa thêm
khoai
tây cơ
cấu cây trồng
đã
giúp cho hàng ngàn người khỏi
chết
đói.
Trong
cuộc cách mạng xanh đang diễn ra ở một số nước nhiệt đới
những năm gần đây khi đưa
giống
lúa mì
ngắn ngày năng
suất cao vào cơ cấu
cây trồng đã làm cho sản
lượng lương
thực tăng lên một cách nhảy vọt và còn
mở ra thêm
khả năng tăng
vụ, đặc
biệt
là với cây
thức


trong
mỗi giai
đoạn
lịch sử nhất
định.
Quá
trình
sản
xuất
xác lập
được
mối
quan
hệ cân đối về
lượng
thì lập tức lại
xuất
hiện khác nhau
về
chất,

phản ánh quy luật chung của phát
triển.

cấu
cây
trồng luôn biến
đổi
theo

thuật, không

một

cấu
cây
trồng nào
có sẵn
hoặc xuất
hiện
thay đổi cơ cấu cũ
ngay
lập tức. Mà nó là một quá
trình,
quá trình này
nhanh
hay
chậm
thì lại phụ
thuộc
vào
trình
độ
hiểu
biết của các chủ thể
quản
lý,
điều
kiện tự
nhiên,

kết quả
nghiên
cứu
khoa
học kỹ
thuật
để bố trí cây
trồng phải
có sự lựa
chọn,
cân
nhắc
để
tránh những
yếu tố bảo thủ
hoặc những công thức
đòi hỏi
phải

mức
đầu tư cao,
không thích hợp với điều kiện sản xuất của vùng
đó.
Theo Hoàng Đức Phương (1991),
thì cơ cấu cây
trồng
hợp lý
phải
đạt
được hiệu quả cao trên 3 mặt: Năng suất, sản lượng, thu nhập và bảo vệ môi

từng loại
cây
trồng, những điều
kiện ngoại cảnh
tác
động đến
cây
trồng
đó.
Cây trồng

sinh
vật
sống,

vậy chúng chịu
tác
động
rất lớn
vào điều
kiện: Đất đai, khí hậu, nước, sâu bệnh, trình độ hiểu biết của người quản lý nó,
điều
kiện
kinh tế xã hội,
khoa
học kỹ
thuật
. . .Vì
vậy, chuyển
dịch cơ cấu cây

cơ cấu cây
trồng.
Cơ cấu cây
trồng trước
hết phải lợi dụng được tất cả các
thuận
lợi của khí hậu như:
Nhiệt
độ, ẩm độ, ánh sáng . . . . Để bố trí như thế
nào cho cây
trồng
phát triển tốt
nhất,
cho năng suất sản
lượng
cao nhất. Tuy
nhiên
các yếu tố khí hậu cũng có lúc thuận và khi khó khăn cho sự phát triển
của cây trồng như
nhiệt
độ quá cao
hoặc
quá
thấp,
độ ẩm thay đổi
cũng
gây ra
úng
hoặc hạn.
Vì vậy khi xây

kiện
địa
hình,
độ
dốc,
chế độ
nước ngầm, thành phần

giới
của đất . . . để bố trí
hệ thống cây trồng phù hợp [2], [6], [25]. Việc sử dụng đất dốc, xói mòn
nhiều, các tính
chất

hoá của
đất và
các biện pháp canh
tác có thể áp
dụng
để
trống
sói
mòn
theo các điều kiện cụ thể của từng
vùng
sinh thái [1], [2]. Cây
trồng
phát triển tốt hay
xấu phụ thuộc nhiều vào
độ

mỡ của đất có thể
tăng
lên hay giảm đi là do quá trình đầu tư thâm canh
cây trồng, là kết quả của việc sử
dụng
đất và quá trình canh tác của con
người.
Vì thế độ mầu mỡ của đất thay đổi thì cơ cấu cây
trồng cũng thay
đổi cho phù
hơp,
tuy
nhiên trong
các
loại
cây trồng
có loại đòi hỏi phải được trồng ở nơi đất tốt
nhưng
có cây chịu được đất xấu,
ví dụ như: Cây sắn có thể chịu
được
điều kiện đất đai khắc
nghiệt. Muốn
khắc
phục để hàm
lượng
các chất dinh
dưỡng trong
đất tăng lên thì ta có thể bón
thêm

tính
sinh học của các loài và
giống
cây
trồng:

thành phần
chủ
yếu của hệ thống sinh thái nông
nghiệp,
cụ thể hơn là hệ sinh thái đồng ruộng.
Mỗi
loại
cây
trồng khác nhau nhưng
đều có
yêu
cầu về
điều kiện ngoại cảnh như
nhau:
Nước,
nhiệt độ, ánh sáng, ẩm độ . . . và các chất dinh
dưỡng
thì mới có
thể sinh
trưởng

phát triển
ổn
định

nhau,
để khi bố trí vào cơ cấu cây
trồng
tránh được
những
rủi do
-
Với sản xuất nông nghiệp nói chung

trồng trọt nói riêng đòi hỏi phải

đầu tư lao động, vật tư kỹ thuật cần thiết vào đồng ruộng thì cây trồng mới
cho
năng suất cao
và ổn định.
- Sâu
bệnh:
Do điều kiện khí hậu khác nhau thì
thành
phần cây
trồng
khác nhau và
thành phần
sâu bệnh cũng khác
nhau. Nắm
chắc
được
quy luật
phát sinh và mức độ phá hại do sâu bệnh ra trên đồng ruộng thì sẽ hạn chế
được mức độ

sâu
bệnh
hại để

biện pháp phòng
trừ.
-
Biện pháp
kỹ
thuật:
Là tác
động
của con
người vào đất, vào
cây
trồng
hay là vào quần thể sinh vật trong đồng ruộng như: Biện pháp làm đất, bón
phân
phòng
trừ
sâu bệnh
và cỏ dại . . .
Mục đích của
chúng
ta là điều
khiển được
hệ
thống
cây
trồng,

sẽ
kém hiệu
quả và
không
đạt
năng suất.
Vì thế tuỳ
theo
mỗi
vùng

người ta bố trí cơ
cấu
cây
trồng, đưa các giống mới vào sản xuất cho hợp
lý.
+ Cơ sở vật
chất,
cơ sở hạ
tầng:
Liên
quan
rất
nhiều
đến việc bố trí cơ
cấu cây
trồng:
Giao
thông
phải

tài
nguyên
nông
nghiệp
để thoả mãn nhu cầu của con
người
trong
khi
đó
vẫn duy
trì
hoặc nâng cao chất lượng của
hệ
sinh thái

bảo
tồn tài
nguyên thiên
nhiên.
Để phát triển theo con
đường
lâu bền này vấn đề đặt ra là:
Làm thế nào để xác định được sự bền vũng của một hệ thống nông
nghiệp
?.
Nhiều nhà
khoa
học đã bàn cãi về
quan niệm
này và đa số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status