PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ xa xưa con người đã biết biết tận dụng nguồn thực vật phong phú
trong thiên nhiên để làm dược thảo chữa các bệnh thông thường.
Theo thời gian cùng với sự phát triển của các ngành khoa học kĩ thuật
thì dược tính của các bài thuốc từ thực vật ngày càng được chứng tỏ và càng
sử dụng rộng rãi. Với tính chất dễ kiếm lại ít gây tác dụng phụ cho con người
các loài thực vật trong thiên nhiên đã thu hút được sự quan tâm của các nhà
nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực. Trong các loài thực vật được quan tâm
nghiên cứu có rau má.
Rau má (Centella asiatica) hay còn gọi là tích tuyết thảo, thường được
chế biến theo nhiều cách khác nhau để làm ra các món ăn thức uống bổ mát
như ép nước hoặc các loại trà giải khát có tác dụng thanh nhiệt, giải độc dùng
rất tốt trong mùa hè hay để chế biến thành những món ăn hằng ngày.
Theo y học cổ truyền, rau má có vị đắng, hơi ngọt, tính bình, có tác
dụng dưỡng âm, thanh nhiệt, nhuận gan, giải độc, lợi tiểu. Rau má thường
được dùng để làm thuốc bổ dưỡng, sát trùng, chữa thổ huyết, tả lỵ, khí hư,
bạch đới, mụn nhọt, rôm sẩy, giúp vết thương mau lành [4], [23].
Theo những nghiên cứu của y học hiện đại từ những năm 1940 đã nêu
ra thì rau má có chứa nhiều những hoạt chất thuộc nhóm saponins (còn được
gọi là tripernoids) bao gồm asiaticoside, madecassoside, madecassic acid và
asiatic acid có thể chữa được nhiều bệnh như tim mạch, các bệnh về da hay
một số loại bênh ung bướu…[17], [23]. Trong đó hoạt chất asiaticoside đã
được ứng dụng trong điều trị bệnh phong và bệnh lao [23].
Ngoài ra, trong rau má còn còn chứa một số các hợp chất ursolic,
oleanolic và boswellic acid, các triterpenes liên hệ đến asiatic acid (là chất
terpene chính có trong rau má) mà các nghiên cứu về tác dụng của chúng
trong vấn đề ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư cũng đã được tiến hành
(Journal of Ethnopharmacology Số 48-1995)
1
Mặt khác, rau má do có đặc điểm dễ trồng khả năng phát triển nhanh
Chi : Centella
Loài : C. asiatica
1.1.2. Đặc điểm phân bố Hình 1.1. Cây rau má
Rau má Centella asiatica là loài thực vật mọc bò lan trên mặt đất có lá
trông giống như những đồng tiền tròn được xếp nối tiếp nhau nên còn gọi là
Liên tiền thảo, thích hợp mọc ở những nơi ẩm ướt như thung lủng, bờ
mương, ruộng thuộc những vùng đất nhiệt đới.
Ở Việt Nam, rau má mọc hoang khắp nơi, thường gặp ở các bãi cỏ,
bờ ruộng, ven suối, sườn đồi, quanh các làng bản, những vùng ẩm ướt.
Rau má có thể thu hái cả bốn mùa nên khả năng nhân rộng diện tích và
tăng năng suất dễ dàng.
Việc trồng rau má không đòi hỏi đầu tư nhiều và việc chăm sóc tương
đối nhẹ nhàng. Người ta thường chỉ trồng rau má một lần là có thể thu hoạch
trung bình trong 10 năm. Ở chân đất bùn, rau má có thể đạt năng suất 1-1.2
tấn/ 500m
2
/ lứa thu hoạch, ở chân đất cao thì năng suất chừng 500kg/ 500m
2
/
3
lứa. Mỗi năm có thể thu hoạch 7-10 lứa, và thường thời gian còn lại thì nông
dân tiến hành làm cỏ. Giá bán rau má khoảng 4000- 8000 đồng/ kg [29].
1.1.3. Đặc điểm hình thái
Thân cây rau má gầy và nhẵn, thuộc loại thân bò lan, màu xanh lục hay
lục ánh đỏ, có rễ ở các mấu. Nó có các lá hình thận, màu xanh với cuống dài và
phần đỉnh lá tròn, kết cấu trơn nhẵn với các gân lá dạng lưới hình chân vịt. Các
lá mọc ra từ cuống dài khoảng 5-20 cm. Bộ rễ bao gồm các thân rễ, mọc thẳng
đứng có màu trắng kem và được che phủ bằng các lông tơ ở rễ [2], [4], [7].
Hoa rau má có màu từ ánh hồng tới đỏ, mọc thành các tán nhỏ, tròn gần
mặt đất. Mỗi hoa được bao phủ một phần trong 2 lá bắc màu xanh. Các hoa
lẻ, cả lá và dây, rửa sạch, làm món rau sống trong bữa ăn hoặc có thể giã nát
(hoặc xay) vắt lấy nước, bỏ thêm ít đường uống giải nhiệt, giải khát trong
những ngày nắng nóng, hay dùng để làm các bài thuốc trị bệnh thông thường
cảm cúm, sốt, nhức đầu, viêm họng, cổ đau.
Theo y học cổ truyền, rau má có vị đắng, hơi ngọt, tính bình, vào Can,
Tỳ Vị có tác dụng dưỡng âm, thanh nhiệt, nhuận gan, giải độc, lợi tiểu. Rau
má thường dùng để làm thuốc bổ dưỡng, sát trùng, chữa thổ huyết, tả lỵ, khí
hư, bạch đới, mụn nhọt, rôm sẩy.
Rau má có chứa nhiều hoạt chất rất tốt có thể chữa được nhiều bệnh:
Đối với thần kinh
Một số hoạt chất trong rau má như bracoside B có tác dụng lên hoạt
động của hệ thần kinh trung ương, tăng cường các chất chuyển hóa
(neurotransmitters), làm giảm căng thẳng tâm lý, tăng cường khả năng tập
trung tư tưởng và giúp cải thiện trí nhớ của người già. Người ta cho rằng dịch
chiết rau má có hiệu quả tốt với bệnh Alzheimer nhờ vào những dẫn xuất của
chất asiaticoside có khả năng bảo vệ các tế bào thần kinh khỏi tác động của
các độc tố beta-amyloid [2] [10].
Đối với tim mạch
Hoạt chất bracoside A kích thích sự bài tiết nitric oxide của mô để làm
dãn nở vi động mạch cùng mao quản, nên lượng máu di chuyển qua mô được
nhiều hơn nên có khả năng chấm dứt được các cơn đau tim, đồng thời các
chất độc dễ được đào thải giúp tế bào sống thoải mái trong một môi trường
lành mạnh. Khám phá quan trọng này mang lại giải thưởng Nobel về Y năm
1998 cho 3 Giáo Sư Hoa Kỳ R. Furchgott, L. Ignarro và F. Murad [31].
Trong tuần hoàn huyết, những hoạt chất của rau má có tác dụng cải
thiện vi tuần hoàn ở các tĩnh mạch, mao mạch, bảo vệ lớp áo trong của thành
mạch và làm gia tăng tính đàn hồi của mạch máu. Do đó rau má cũng thường
5
được dùng trong các chứng tăng áp lực tĩnh mạch ở các chi dưới. Trong thực
tế người ta thường uống dịch rau má để trị các bệnh về tĩnh mạch như sa tĩnh
6
Cả oleanolic acid và ursolic acid đều làm giảm sự sinh sản của tế bào
nội mạc (Planta Medica Số 64-1998) nên có thể sẽ hữu dụng để trị ung thư
bằng cách ngăn chặn tiến trình angiogenesis (tiến trình tăng trưởng của các
mạch máu tân tạo để nuôi dưỡng tế bào tân sinh) cần đến sự sinh sản của các
tế bào nội mạc để tạo ra các mạch máu mới.
Các acid oleanolic và ursolic cũng có các tác động chống u bướu (in
vivo) (Cancer Letter Số 111-1997). Vì vậy ở Nhật một đặc chế của các chất
này được dùng để trị ung thư máu loại leukemia nonlymphatic.
Một acid khác cũng được xếp vào nhóm hợp chất triterpenoid (như
asiatic acid) có trong rau má là boswellic acid. Acid này đã được nghiên cứu
khá nhiều và đã được ghi nhận về khả năng ức chế sự sinh sôi nẩy nở và tạo
ra sự phân cắt của các dòng tế bào ung thư hệ thần kinh trung ương và ung
thư leukemia [30].
Thực tế có một nghiên cứu xác định được tính chất diệt bào của
boswellic acid. Có ít nhất ba nghiên cứu trên các u bướu thú vật ghi nhận
boswellic acid có khả năng ức chế sự tăng trưởng của các tế bào ung thư não
và ung thư leukemia được chuyển sang cho loài gậm nhấm. Có 2 nghiên cứu
thực hiện nơi người cho thấy dịch chiết từ Boswellia hay boswellic acid có
khả năng làm giảm sự phù nơi não nên có thể có hoạt tính điều trị bổ sung
trong các trường hợp ung thư não [30].
Asiaticoside một hoạt chất chiếm hàm lượng tương đối lớn trong rau
má cũng đã góp phần không nhỏ ngặn chặn sự phát triển của các tế bào ung
thư. Người ta cho rằng khi hấp thụ vào cơ thể asiaticosie sẽ phân cắt tạo thành
khoảng 62% asiatic acid và các glycosid. Asiatic acid này cũng có thể có các
hoạt tính tốt như oleanolic acid và ursolic [31].
Ngoài những tác dụng trên thì rau má còn có tác dụng trị khớp. Trong
những năm gần đây, nhiều phương tiện thông tin đã phổ biến cách chữa bệnh
thấp khớp mãn tính bằng cách ăn hai lá rau má tươi mỗi ngày. Một chương
trình phóng sự của đài truyền hình số 9 ở Sydney công bố vào tháng 12/2003
C [4] [14].
1.2.3. Tác dụng dược học của asiaticoside
Từ những năm 1940, y học hiện đại bắt đầu nghiên cứu những tác dụng
của rau má. Những hợp chất chính có giá trị ở rau má là asiaticoside,
8
madecassoside và asiatic acid đã được phát hiện, nghiên cứu và ứng dụng.
Trong đó có asiaticoside là một triterpene glycoside nó được xem như một
kháng sinh. Asiatociside giúp chữa lành vết thương nhanh chóng nhờ vào cơ
chế kích thích tạo collagen và sự tổng hợp glycosaminoglycan [2] [14].
Hoạt chất asiaticoside cũng đã được ứng dụng trong điều trị bệnh
phong và bệnh lao. Người ta cho rằng trong những bệnh này, vi khuẩn được
bao phủ bởi một màng ngoài giống như sáp khiến cho hệ kháng nhiễm của cơ
thể không thể tiếp cận. Chất asiaticoside trong dịch chiết rau má có thể làm
tan lớp màng bao này để hệ thống miễn dịch của cơ thể tiêu diệt chúng [2]
[14] [27].
Năm 1990, Maquart và cs đã có công trình nghiên cứu công bố khả
năng làm lành vết thương bị lở loét của asiaticoside. Dược tính đáng kể của
hoạt chất này là giảm bớt kích thước của vùng vết thương trên da ở lưng
chuột sau 9 ngày thử nghiệm [14].
Theo nghiên cứu của Inhee và cs (1999) cho thấy, các dẫn xuất của
chất asiaticoside có khả năng bảo vệ thần kinh, chống lại độc tố β-amyloid
gây hại đối với nơtron thần kinh. Ba trong số 28 dẫn xuất của asiaticoside có
thể được đưa vào nghiên cứu điều trị bệnh Alzheimer nhờ khả năng bảo vệ
các tế bào thần kinh khỏi tác động của β-amyloid. Một số báo cáo được xuất
bản từ 1967 đến 1999 mô tả việc sử dụng thuốc mỡ chứa đựng những liều cao
từ 0,1-0,2% dịch chiết của rau má để tăng cường phục hồi vết thương bị bỏng
[11] [13].
Asiaticoside kích thích hệ reticuloendothelial nên sức miễn nhiễm của
cơ thể được mạnh hơn. Asiaticoside giúp tế bào da chống oxy hóa, phát triển
mô liên kết, nên làm mạnh tế bào da, mô da căng trẻ, và giúp cho vết mổ, vết
dung môi, nên yêu cầu dung môi:
Có tính hòa tan chọn lọc, nghĩa là chỉ hòa tan cấu tử cần tách,
không hoặc hòa tan rất ít các cấu tử khác.
Không độc, không ăn mòn thiết bị.
Rẻ tiền, dễ kiếm.
Không có khuynh hướng hình thành nhũ tương. Không có phản
ứng thuận nghịch giữa dung môi và chất tan.
Dễ dàng tách chất cần tách ra khỏi dung môi.
10
1.3.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình trích ly
1.3.4.1. Nồng độ của dịch trích ly
Thực chất quá trình trích ly là quá trình khuyếch tán, nên đòi hỏi có sự
chênh lệch nồng độ giữa pha lỏng (dung môi) với pha chứa chất cần trích ly.
Khi nồng độ các chất hòa tan trong dung môi thấp thì lượng chất trích
ly từ nguyên liệu tăng, thời gian trích ly giảm. Vì vậy để đảm bảo quá trình
trích ly tốt người ta thường thực hiện tăng tỷ lệ dung môi so với nguyên liệu.
1.3.4.2. Đặc điểm của nguyên liệu
Vật liệu rắn có kích thước càng nhỏ thì khả năng trích ly càng lớn do
diện tích tiếp xúc giữa chúng và dung môi tăng lên tạo điều kiện cho quá trình
trích ly dễ dàng hơn. Phương pháp nghiền nhỏ hay băm nhỏ là phương pháp
thường áp dụng, tuy nhiên nếu kích thước vật liệu quá nhỏ cũng gây trở ngại
cho quá trình trích ly vì nó có thể làm tắc các ống mao dẫn và làm phức tạp
cho các quá trình xử lý tiếp theo.
Ngoài ra cấu trúc bên trong hay thành phần hóa học, tính chất của vật
liệu cũng ảnh hưởng đến quá trình trích ly, nếu độ ẩm cao thì nước có thể
tác dụng với thành phần protein và các chất háo nước khác có thể ngăn cản
sự di chuyển của dung môi thấm sâu vào nguyên liệu làm chậm quá trình
khuyếch tán. Hay đối với vật liệu non, mềm thì dung môi thấm vào dễ dàng
nên khi xay chỉ cần xay thô không cần xay mịn để tránh trích ly nhiều tạp
chất vào dịch chiết…
giảm, nồng độ chất tan trong dung môi tăng lên, chênh lệch nồng độ bên trong
và bên ngoài tế bào giảm dần làm cho quá trình khuyếch tán cũng giảm nên
quá trình trích ly chậm dần. Lúc này cần phải khuấy trộn để di chuyển lớp
dịch chiết ở phía sát màng tế bào ra xa và dung môi ở phía xa vào sát màng tế
bào để tạo ra sự chênh lệch nồng độ cho quá trình khuyếch tán.
1.3.5. Một số phương pháp chiết xuất dược liệu
Chiết xuất dược liệu nhằm mục đích thu nhận các hoạt chất có lợi tồn
tại trong dược liệu ở dạng tinh khiết có thể, để tạo nguồn nguyên liệu cung
cấp cho quá trình bán tổng hợp một số thuốc mới nhằm tăng ưu điểm cho
thuốc: Tăng tác dụng điều trị, giảm bớt các tác dụng phụ của thuốc hay tạo ra
những tác dụng mới. Ngoài ra nó còn làm cho việc bảo quản dược liệu dễ
dàng và lâu hơn, phương pháp kiểm nghiệm rõ ràng và có thể làm gia tăng
mục đích sử dụng.
12
1.3.5.1. Phân loại phương pháp chiết xuất
Có nhiều cách phân loại dựa vào các yếu tố sau:
Dựa vào nhiệt độ
Chiết nóng
Chiết nguội (chiết ở nhiệt độ thường)
Dựa vào chế độ làm việc của quá trình chiết
Chiết gián đoạn
Chiết liên tục
Chiết bán liên tục
Dựa vào chuyển động tương hỗ giữa hai pha
Ngược dòng
Xuôi dòng
Chéo dòng
Dựa vào áp suất
Áp suất thường
Áp suất giảm (áp suất chân kông)
Ngấm kiệt phân đoạn (tái ngấm kiệt): là phương pháp ngấm kiệt có sử
dụng dịch chiết loãng để chiết mẻ mới hoặc chiết các mẻ chiết có mức độ
chiết khác nhau.
Ưu điểm của phương pháp này là dược liệu được chiết kiệt hơn, đỡ tốn
dung môi hơn phương pháp ngâm.
Nhược điểm là năng suất thấp, phải thao tác thủ công, thao tác phức táp
hơn phương pháp ngâm. Đối với ngấm kiệt đơn giảm thì tốn nhiều dung môi.
Phương pháp chiết xuất ngược dòng [3]
Phương pháp chiết xuất ngược dòng: Là phương pháp sử dụng một số
chuỗi thiết bị chiết xuất, cho dung môi và dược liệu chuyển động ngược chiều
nhau trong thiết bị. Dịch chiết di chuyển trong thiết bị nhờ những cơ cấu
chuyên dùng khác nhau. Dược liệu trước khi lấy ra khỏi thiết bị được tiếp xúc
với dược liệu mới nên dịch chiết thu được đậm đặc hơn, bã dược liệu trước khi
ra khỏi thiết bị được tiếp xúc với dung môi mới nên bã được tách kiệt hơn.
Ưu điểm:
Năng suất làm việc cao, không phải thao tác thủ công.
Dịch chiết thu được đậm đặc.
Dược liệu được chiết kiệt, ít tốn dung môi.
Có thể cơ giới hóa, tự động hóa được quá trình.
Nhược điểm:
Thiết bị có cấu tạo phức tạp, đắt tiền, khó vận hành
14
Chiết xuất bằng khí hóa lỏng siêu tới hạn [23]
Phương pháp chiết xuất chất lưu siêu tới hạn (SFE): Là phương pháp
tận dụng chất lưu ở trạng thái siêu tới hạn làm chất chiết xuất, chiết xuất
thành phần hiệu quả trong dược liệu từ trong chất rắn hoặc chất lỏng rồi tiến
hành phân tách.
Chất lỏng siêu tới hạn hình thành khi nhiệt độ và áp suất vượt quá điểm
tới hạn (critical point). Ở trạng thái này, tỷ trọng của pha lỏng và pha khí bằng
nhau, ranh giới phân biệt giữa 2 pha biến mất.
Phá vỡ một phần tế bào.
Tăng cường sự xáo trộn của hỗn hợp.
Có tác dụng làm nóng tại chỗ.
Phương pháp siêu âm tuy làm tăng cường quá trình chiết xuất nhưng
phương pháp này chỉ mới được nghiên cứu ở quy mô phòng thí nghiệm.
15
1.4. Một số nghiên cứu về tách chiết asiaticoside trong rau má
Việc nghiên cứu quá trình chiết để thu hồi asiaticoside có trong rau má
đã được khá nhiều nhà nghiên cứu ở nước ngoài tiến hành và công bố nhưng
ở nước ta thì chưa thấy có nghiên cứu nào được công bố.
Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của dung môi và phương pháp chiết
xuất asiaticoside đã được các tác giả Wan Joo Kim và các đồng sự ở Hàn
Quốc (KIST: Korea institute of Science and Technology) tiến hành. Các ông
đã khảo sát khả năng tách asiaticoside của các dung môi ethanol, methanol, và
nước riêng lẻ ở nhiệt độ sôi của dung môi bằng phương pháp chiết ngược
dòng với thời gian 5h và kết quả thu được ở phương pháp này là sử dụng
ethanol sẽ cho hiệu quả tốt nhất [22].
Tuy nhiên, một nghiên cứu khác về khảo sát khả năng chiết asiaticoside
bằng phương pháp ngâm lắc trong 4h với các loại dung môi Chloroform, etyl
acetat, methanol, ethanol, nước của nhóm các nhà nghiên cứu R. K. Verma và
các đồng sự ở Central Institute of Medicinal and Aromatic Plants, PO
CIMAP, Lucknow 226015, India tiến hành lại không cho như vậy. Và kết kết
quả họ đưa ra đã cho rằng khả năng thu hồi asiaticoside khi chiết bằng
methanol là tốt nhất với hàm lượng 0.36% theo khối lượng chất khô còn
ethanol chỉ đạt mức 0,04% [18]. Điều này đã nói lên việc lựa chọn dung môi
tối ưu cho quá trình quả trình chiết chưa có một sự thống nhất.
Nhóm nghiên cứu của Wan Joo Kim còn so sánh khả năng chiết khi sử
dụng phương pháp chiết SCCO
2
và phương pháp kết hợp giữa SCCO
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Rau má
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là cây rau má (Centella asiatica L)
lấy từ làng Phước Yên xã Quãng Thọ huyện Quãng Điền tỉnh Thừa Thiên Huế.
2.1.2. Thiết bị, dụng cụ và hóa chất trong quá trình nghiên cứu
Thiết bị:
Hệ thống soxhlet Gerhadt 6 chỗ dùng cho loại bình 500ml .
Hình 2.1. Bộ soxhlet 6 chỗ
Máy lọc hút chân không Gast Manufacturing, Inc/ USA với bình lọc
GG17- Shuniu 1000ml.
Hình 2.2. Hệ thống máy lọc chân không
18
Máy lắc của Trung Quốc.
Hình 2.3. Máy lắc tách béo
Máy sấy WTC Binder 7853 Tuttling/ Germany.
Hình 2.4. Máy sấy
Máy xay khô MX- J210PN Panasonic
Hình 2.5. Máy xay
19
Máy sắc kí
Hình 2.6. Hệ thống sắc kí
Dụng cụ: Phễu Beune, bình tam giác (100ml, 250ml, 500ml), cốc
đong (250ml, 500ml), ống nghiệm, rây 0.5mm…
Hóa chất:
Methanol: Merck (HPLC).
Màng lọc: 0.45µm (Whaman).
Asiaticoside chuẩn của Sigma (Singaphore).
Các loại hóa chất khác: ethanol, methanol, ethyl acetat…
2.2. Phương pháp nghiên cứu
6
= 60:40
Công thức 4: CT
7
= 70:30
Công thức 5: CT
8
= 80:20
Công thức 6: CT
9
= 90:10
Khảo sát thời gian chiết với 5 công thức:
Công thức 1: CT
10
= 3h
Công thức 2: CT
11
= 4h
Công thức 3: CT
12
= 5h
Công thức 4: CT
13
= 6h
Công thức 5: CT
14
= 7h
Khảo sát nhiệt độ chiết với 3 công thức:
Công thức 1: CT
15
nguyên liệu trước và sau khi sấy khô, từ đó tính ra phần trăm nước có trong
nguyên liệu.
Tiến hành
21
Tiến hành cân 9 cốc sấy, đem sấy khô ở nhiệt độ 100-150
o
C đến khối
lượng không đổi. Để nguội trong bình hút ẩm.
Cân chính xác 9 mẫu, mỗi mẫu có khối lượng 5g cho vào 9 cốc sấy.
Chuyển cốc vào tủ sấy, sấy ở 60-80
o
C trong vòng 2 giờ. Sau đó nâng
nhiệt độ lên 100-150
o
C, sấy khô liên tục trong 3h. Lấy ra để nguội trong bình
hút ẩm, đem cân ghi kết quả lần 1. Cho lại tủ sấy 100-150
o
C trong 30 phút,
lặp lại như trên đến khối lượng không đổi.
Tính kết quả
Độ ẩm theo % ( X) tính bằng công thức:
X = [(G
1
- G
2
) * 100]/ (G
1
– G)
Trong đó: X: Độ ẩm của thực phẩm (%).
G: Khối lượng cốc sấy (g).
Nguyên lý
Nguyên tắc tách chiết bằng soxhlet là dung môi được đun sôi đến nhiệt
độ bay hơi đi lên trên gặp ống sinh hàn thì hơi được làm lạnh và ngưng tụ lại
ngấm dần vào nguyên liệu tạo điều kiện trích li các chất trong rau má. Dịch
trích ly theo thời gian tăng dần lên chứa ở phần thân nhờ hệ thống thông nhau
giữa phần thân và bình cầu mà khi dịch chiết đạt độ cao nhất định sẽ chảy trở
22
lại bình cầu và tiếp tục được đun sôi để bay hơi. Quá trình này tuần hoàn liên
tục trong thời gian khảo sát. Dịch chiết thu được lấy ra ở bình cầu.
Tiến hành
Cân 2g bột rau má cho vào giấy lọc buộc kĩ để tránh bột rau chảy ra
ngoài. Sau đó cho gói bột vào phần thân của bình soxhlet, còn dung môi cho
khoảng 250ml vào bình cầu bên dưới rồi tiến hành tách chiết ở nhiệt độ sôi
của dung môi.
Ưu, nhược điểm
Hệ thống soxhlet cho phép thu hồi lại dung môi, tiết kiện được thời
gian chiết và dung môi sử dung cho quá trình chiết do dung môi bay hơi và
ngưng tụ liên tục làm cho dịch chiết thay đổi tránh được sự bão hòa trong dịch
chiết. Tuy nhiên dịch chiết thu hồi ở bình cầu luôn chịu tác dụng của nhiệt
đun sôi nên các hoạt chất có thể thay đổi tính chất và làm giảm hàm lượng thu
hồi.
2.2.2.4. Phương pháp sắc kí
Mẫu sau khi chiết được xử lý qua các công đoạn lọc tinh sẽ cho dịch
chiết bay hơi bớt hàm lượng dung môi còn khoảng 30ml, tiến hành pha loãng
dịch chiết 30 lần và lấy 50µl để chạy HPLC pha ngược.
Điều kiện chạy HPLC như sau: cột C
18
(150×4.6mm), pha động ethanol
100%, tốc độ dòng 1.0ml/phút, tốc độ hấp phụ quang được đo ở 254nm, nhiệt
độ cột là nhiệt độ phòng. Mẫu chuẩn là asiaticoside có nồng độ 2mg/ml trong
4
)
2
SO
4
. Sau đó dùng NaOH
đẩy NH
3
ra và dùng hơi nước lôi cuốn NH
3
ra khỏi thiết bị chưng cất vào cốc
hứng chứa H
2
SO
4
0,1N dư, cuối cùng dùng NaOH 0,1N chuẩn độ lại H
2
SO
4
dư, từ đó ta tính được hàm lượng nitơ tổng số.
Tính kết quả
Nitơ toàn phần (%) = V.1,42.100/P
Trong đó:
V: số ml H
2
SO
4
0.1N chuẩn độ.
1,42: Số mg N tương ứng với 1 ml H
2
0,1N dùng để chuẩn độ Fe
2+
hình thành, tra bảng để
có số mg đường glucose, maltose, lactose hoặc saccarose, nhân với hệ số pha
loãng, ta có hàm lượng đường trong 100g nguyên liệu.
Tóm tắt quá trình định lượng đường khử theo sơ đồ sau:
RCHO + Cu(OH)
2
→
RCOOH + Cu
2
O + H
2
O
Cu
2
O + Fe
2
(SO
4
)
3
+ H
2
SO
4
→
2FeSO
O
Các phương pháp định lượng glucid bằng phương pháp hoá học đều
dựa vào tính chất khử của nhóm aldehy hay aceton tự do trong phân tử glucid,
24
cho nên muốn định lượng glucid rất phức tạp phải thuỷ phân các chất này
thành các monaosaccharid. Mặt khác, các hợp chất protêin, lipid, đều ảnh
hưởng đến định lượng glucid nên cần phải được khử trước khi chuẩn độ
glucid. Do đó, trong chuẩn bị dịch thử có hai khâu kỹ thuật quan trọng cần
chú ý là:
Cách thuỷ phân: Cho 5g mẫu đã nghiền vào bình tam giác 250ml, sau
đó cho thêm 50ml nước cất vào, 5ml HCl tinh khiết và thuỷ phân trên nồi
cách thuỷ như sau: thuỷ phân đường saccharose duy trì nhiệt độ 70
0
C trong 5
phút.
Sau khi thuỷ phân cần làm lạnh ngay dưới vòi nước nóng.
Trung hoà lại bằng NaOH 30%, sau đó bằng NaOH 1N, rồi NaOH 0,1N
với dung dịch phenolphtalein cho tới khi dung dịch chuyển màu hồng.
Khử tạp chất bằng chì acetat:
Dịch đã thuỷ phân và trung hoà được cho vào bình định mức dung tích
100ml, cùng với nước rửa. Sau đó cho 7ml dung dịch chì acetat 30% lắc đều
và để lắng trong 5 phút, nếu thấy xuất hiện một lớp chất lỏng trong suốt ở bên
trên lớp cặn thì việc khử tạp chất đã xong.
Cho vào 18–20ml Na
2
SO
4
để loại chì acetat thừa. Lắc đều và để lắng tủa
xuống. Thêm nước cất vừa đủ 100ml. Lắc đều và lọc qua giấy qùy.
Tính kết quả