Đoàn Thị Mai Xuân – K37 Khóa luận tốt
nghiệp
MỞ ĐẦU
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh khá phổ biến, đang lan tràn và phát
triển. Ngày nay đái tháo đường được coi là bệnh xã hội và được cộng đồng rất
quan tâm. Những biểu hiện rõ ràng nhất của bệnh là rối loạn chuyển hóa, tăng
bất thường nồng độ các chất trong máu, đặc biệt glucose.
Đái tháo đường đang là một trong ba bệnh có tốc độ phát triển nhanh
nhất sau ung thư và tim mạch, thậm chí ĐTĐ đang là nguyên nhân chính gây
nên biến chúng như: mù lòa và các biến chứng tim mạch, trí tuệ suy giảm,
hoại tử các cơ quan vận động và suy thận suy gan.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 190 triệu người mắc bệnh ĐTĐ dự
tính đến năm 2025 có khoảng 300- 350 triệu người mắc bệnh ĐTĐ chiếm tỉ
kệ 5,4% dấn số toàn cầu (theo WHO), còn theo Quỹ đái tháo đường thế giới -
WDF sẽ có khoảng từ 300 đến 339 triệu người trong đó ở các nước phát triển
tỷ lệ bệnh tăng 42% còn các nước đang phát triển tăng 170% [1].
Kết quả nghiên cứu gần đây của bệnh viện Nội tiết trung ương năm
2008 về tình trạng mắc bệnh ĐTĐ ở Việt Nam cho thấy tỉ lệ ĐTĐ ở nước ta
tăng mạnh từ 2,7 % dân số (năm 2001) đến nay đã tăng trên 5% với khoản 4,5
triệu người mắc bệnh này. Độ tuổi mắc bệnh ngày càng trẻ hóa từ 30-64 tuổi
do béo phì, lười vận động, trong đó tập trung ở thành thị với tỉ lệ 4%, nông
thôn là 2,5 %, Đặc biệt ở nhưng khu công nghiệp và các thành phố lớn như:
Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh…tỉ lệ này lên tới 7,2 %.
Bệnh ĐTĐ là một bệnh điển hình của rối loạn chuyển hóa, chủ yếu là
rối loạn chuyển hoá glucose, do đó có nhiếu biến chứng xảy ra ở nhiều cơ
quan khác nhau như: biến chứng mạch máu lớn , mạch máu nhỏ, thận, tim
mạch, hôn mê do đái tháo đường. Trong đó số bệnh nhân được chuẩn đoán là
1
Đoàn Thị Mai Xuân – K37 Khóa luận tốt
nghiệp
ĐTĐ thì 40% bệnh nhân là ĐTĐ túy 2 có bệnh lý mạch máu lớn , 40% có
1.3 Phân loại bệnh ĐTĐ
Tổ chức Y tế thế giới WHO đã phân loại ĐTĐ thành các thể chính như sau:
1.3.1 Đái tháo đường typ 1: (ĐTĐ phụ thuộc insulin–IDDM)
Phần lớn xảy ra ở trẻ em và người lớn tuổi và thường do yếu tố miễn
dịch. Loại này chiếm khoảng 5-10% tổng số bệnh nhân ĐTĐ. Ở Việt Nam
3
Đoàn Thị Mai Xuân – K37 Khóa luận tốt
nghiệp
chưa có số liệu đầy đủ về tỷ lệ ĐTĐ týp 1 [2]. Cơ chế gây bệnh là do tế bào
beta của tủy tạng bị phá hủy dẫn tới thiếu insulin hoàn toàn.
ĐTĐ týp 1 tự miễn; tế bào beta bi phá hủy do bệnh tự miễn dịch do đột
biến gen đồng thời có sự tham gia của các yếu tố mang tính khởi động do môi
trường, virut…
- Virut tế bào bêta tổn thương khởi động quá trình tự miễn tế
bào bị phá hủy > 90% bệnh nhân ĐTĐ.
- Xuất hiện tự kháng thể tế bào bêta của tiểu đảo tủy trong huyết thanh
bệnh nhân
- liên quan đến hệ kháng nguyên bạch cầu người HLA DR3, DR4 bất
thường.
- ĐTĐ typ 1 vô can
1.3.2 Đái tháo đường túy 2 ( ĐTĐ không phụ thuộc insulin - NIDDM)
Chủ yếu ở người trưởng thành , nhưng bệnh đã gia tăng gặp ở cả những
người trẻ tuổi, thậm trí cả trẻ em, bệnh thường được phát hiện ở tuổi 40 trở
lên, số người mắc bệnh ĐTĐ túy 2 chiếm khoảng 85-90%. Bệnh liên quan
đến béo phì, tăng cân nhanh, béo bụng, ít vận động thể lực, nhiễm độc và cách
sống không điều độ, không khoa học [4] .
Cơ chế gây bệnh ĐTĐ typ 2 là:
- Do kháng insunlin phối hợp với giảm bài tiết insulin tương đối
- Tăng sản xuất đường nội sinh ( gluconeogenesise) tử gan do hiện tượng
kháng insulin từ tế bàogan
nghiệp
với sự giảm dung nạp đường dẫn tới tình trạng đường máu tăng liên tục mãn
tính. HbAlc tăng trong trường hợp tăng đường huyết mãn tính, là một chỉ số
khách quan cho biết mức đường huyết trung bình của người bệnh trong vòng
2 -3 ngày trước đó.
Không thấy có yếu tố di truyền , tình trặng tăng cetonic huyết ít xảy ra
1.5 Biến chứng của bệnh ĐTĐ
ĐTĐ có thể dễ dàng bị bỏ qua, đặc biệt ở giai đoạn sớm khi cơ thể khoẻ
mạnh và không biểu hiện các triệu chứng lâm sàng. Nhưng ĐTĐ phát triển sẽ
ảnh hưởng lên mọi cơ quan chính trong cơ thể. ĐTĐ tạo ra biến chứng trước
mắt và lâu dài. Các biến chứng sớm đòi hỏi được điều trị ngay nếu không sẽ
chuyển sang biến chứng lâu dài tiến triển dần dần gây tàn phế và đe dọa tính
mạng người bệnh [7].
1.5.1 Biến chứng sớm
- Hạ đường huyết xảy ra khi nồng độ đường huyết dưới 60 mg/dl. Phổ
biến ở nhưng người điều trị bằng insulin, nhưng cũng có thể xảy ra khi sử
dụng thuốc uống có tác dụng tăng hoạt động của insulin. Đường huyết có thể
giảm do nhiều nguyên nhân như nhịn ăn, hoạt động thể lực căng thẳng hơn
mức bình thường hoăc không điều chỉnh thuốc khi đường huyết thay đổi.
Triệu chứng sớm bao gồm đổ mồ hôi, run, yếu cơ, đói bụng, và nôn ói nếu
đường huyết dưới 40mg/dl, có thể nói lắp. Nếu có các dấu hiệu kể trên ăn
hoặc uống các chất có thể làm tăng đường huyết như: kẹo, soda, nước trái cây
hoặc viên glucose. Điều trị tốt nhất là tiêm glucagon, một loại hormone có
chức năng kích thích glucose vào máu.
- Tăng đường huyết (Hội chứng ĐTĐ ưu trương). Tình trạng này gây
lượng đường trong máu tăng quá cao (trên 600 mg/dl), máu trở nên đậm đặc
6
Đoàn Thị Mai Xuân – K37 Khóa luận tốt
nghiệp
đường. Chu yếu xảy ra ở ĐTĐ type 2, đặc điểm là khi không theo dõi lượng
căng chân hoặc tay, thiếu máu, hơi thở ngắn, và tăng huyết áp. Nặng hơn nũa
co thể dẫn đến suy thận [6].
- Tổn thương mắt (bệnh lý võng mặc). Hầu như tất cả bệnh nhân ĐTĐ
typ 2 bị tổn thương mạch máu võng mặc vào lúc ĐTĐ đã diễn ra được 20 năm.
Bệnh nhân ĐTĐ cũng gây đục thủy tinh thể và tăng nhãn áp. Nhiều khi chỉ bị
tổn thương nhẹ ở mắt, những tổn thương trầm trọng có thể gây ra mù lòa [6].
- Bệnh lý mạch máu và tim. ĐTĐ làm gia tăng xuất hiện hội chứng bệnh
lý tim mạch,gồm bệnh lý mạch vành với đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, đột
quỵ , xơ vữa động mạch và cao huyết áp. ĐTĐ cũng thường làm tăng nông độ
triglyceride trong máu và làm giảm nồng độ của lipoprotein tỷ trọng cao là
HDL-c một loại lipoprotein vận chuyển cholesterol vào gan để chuyển hóa
thành axit mật giúp bảo vệ tim, chống bệnh mạch vành [5].
- Nhiễm trùng nồng độ đường huyết cao làm giảm khả năng miễn dịch
và tăng nguy cơ nhiễm trùng. Miệng, nứa răng, phổi, da, chân, tay, thận, bàng
quang và vùng sinh dục là nhưng cơ quan dễ bị nhiễm trùng, gây nên hiện
tượng hoại tử.
2. MỘT SỐ CHỈ SỐ HÓA SINH LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN ĐTĐ
2.1 Chỉ số đường huyết (glucose máu)
Glucose là loại đường đơn có trong thức ăn và là chất dinh dưỡng chính
cung cấp năng lượng cho tế bào trong cơ thể hoạt động. Tuy nhiên glucose
không thể vào trong tế bào một cách tự do mà phải nhờ đến inslin để đưa vào
tế bào. Lượng glucose trong máu là một hằng số. Nếu không có insulin tế bào
không sử dụng được năng lương từ glucose. Như vậy nồng độ glucose trong
8
Đoàn Thị Mai Xuân – K37 Khóa luận tốt
nghiệp
máu tăng và làm glucose bị thải ra quá nhiều qua nước tiểu. Sau khi ăn
glucose trong máu tăng cao. Để đáp ứng với sự tăng này, tụy sẽ bài tiết ra
insulin giúp đưa glucose vào trong tế bào và như thế sẽ làm lượng đường
trong máu trở về bình thường với hệ thống điều hòa như vậy giúp kiểm soát
ĐTĐ ở nữ có thai khi đo 2 lần đường huyết lúc đói trên 150 mg%, hoặc 1 giờ
sau uống nước đường, xét nghiệm trên 190 mg%, 2 giờ đo trên 165mg% , 3
giờ đo trên 145mg%.
2.2 Chỉ số đường niệu
Theo tài liệu của tổ chức y tế thế giới: người bình thường không có
glucose trong nước tiểu. Do vậy glucose xuất hiện trong nước tiểu cũng là
một trong những nhân tố chuẩn đoán và theo dõi hiệu quả của quá trình điều
trị ĐTĐ. Bình thường 0.5 mmol glucose trong nước tiểu sau 24h là giới hạn
của đường niệu bệnh lý .Vượt qua 200 hoặc 250 mmol, là bệnh lý thường gặp
trong bệnh ĐTĐ.
2.3 Chỉ số cholesterol
Cholesterol la 1 chất béo steroid, có màng tế bào của tất cả các mô
trong cơ thể và được vận chuyển trong huyết tương của mọi động vật. Hầu hết
chloeterol không có nguồn gốc từ thức ăn mà nó được tổng hợp bên trong cơ
thể. Nó hiện diện với nồng độ cao ở mô tổng hợp bên trong cơ thể.
10
Đoàn Thị Mai Xuân – K37 Khóa luận tốt
nghiệp
Lipoprotein lớn nhất vận chuyển mỡ từ ruột đến gan, được gọi là
chylomicron và choleteronl đến các mô như gan, mỡ và cơ vần . Tại các nơi
đó lipoprotein lipase (LPL) thủy phân triglycerinde trong chylomicronthanh
acid béo tự do các aicd béo này được dùng để tổng hợp lipoprotein tỉ trọng rất
thấp (VLDL). Ở gan được oxi hóa năng lượng ở cơ thể đươc dự trữ ở mô mỡ
VLDL la lipoprotein tương tự chylomiccron có thành phần triglyceride
cao.VLDL được tổng hợp acid béo tự do có nguồn gốc từ chuyển hóa
chylomicron ở gan hoặc nội sinh.
Ttriglyceride của VLDL bị thủy phân bởi lipoprotein lipase mao mạch
để cung cấp acid béo cho mô mỡ và cơ. Phần lipid còn lại là lipoprotein (IDL)
sau đó IDL chuyển thành lipoprtein tỉ trong thấp (LDL) bởi tác dụng của
lipase gan vì vậy nồng độ LDL cao liên hệ với tăng nguy cơ bị tim mạch. Các
chuân của WHO năm 2000.
- Tất cả người bệnh được chọn ngẫu nhiên và có độ tuổi trên 40.
- bệnh nhân dã dùng thuốc điều trị ĐTĐ.
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 phương pháp xét nghiệm glucose
Hàm lượng glucose được xác định sau khi tiến hành phản ứng oxi hóa
bởi glucose oxidase, sau khi cho phản ứng sản phẩm quinon tạo ra được đo
dưới bước sóng 500nm. Hàm lượng glucose được tính theo công thức sau:
Glucose[mg/dl] =
Achuân
Amâu
∆
∆
× C
chuân
[mg/d]
12
Đoàn Thị Mai Xuân – K37 Khóa luận tốt
nghiệp
Hóa chất cho 1 đơn vị phản ứng gồm
TT Tên hóa chất Đơn vị cho phản ứng
1 Đệm photphat pH 7.5 250mmol/l
2 phenol 5mmol/l
3 4- Aminnoantippyrine 0.5 mmol/l
4 glucose oxidase(GOD)
≥
10ku/l
5 peroxidase(POD)
≥
+ 4q-Amininoatipyrine + phenol
→
PDO
Quinoneimine + 4 H
2
O
Trong đó CHE: choleterol esterane; CHO: choleterol oxidase; POD:
peroidase
Thành phần hóa chất cho phản ứng
TT Tên hóa chất Đơn vị cho phản ứng
1 đệm photphat pH 6,7 50 mmol/l
13
Đoàn Thị Mai Xuân – K37 Khóa luận tốt
nghiệp
2 phenol 5mmol/l
3 4- Aminoantipyrine 0.3mmol/l
4 glucose oxidase (GOD)
≥
50ku/l
5 peroxidase(POD)
≥
3ku/l
6 Chuẩn glucose 5.2 mmol/l
Sản phẩm quinoneimine tạo ra được đo dưới bước sóng 500mm. Hàm
lượng choleterol được tính toán theo công thức sau
Cholesterol [mg/dl] =
Achuân
Amâu
∆
2
O
2
+Aminoantipyrine +4-chlorophenol
→
POD
Quinoneimine + HCL+
4H
2
O
Thành phần cho 1 phản ứng gồm
TT Tên hóa chất Đơn vị cho phản ứng
1 đệm Good pH 7.2 50mmol/l
2 4-chlorophenol 4mmol/l
3 ATP 2mmol/l
14
Đoàn Thị Mai Xuân – K37 Khóa luận tốt
nghiệp
4 Mg
2+
15mmol/l
5 Glycerokinase (GK)
≥
0.4kU/l
6 peroxidase (POD)
≥
2kU/l
7 Lipoprotein lipase (LPL)
≥
2kU/l
2
O +O
2
→
CHOandCHE
cholest-4-en-3+ axit béo +H
2
O
2
H
2
O
2
+ 4-AA+F - DAOS
→
POD
Blydye
+
+F +2H
2
O
Thành phần cho 1 phản ứng gồm
15
Đoàn Thị Mai Xuân – K37 Khóa luận tốt
nghiệp
TT Tên hóa chất Đơn vị cho phản ứng
1 cholesterol esterase (CHE) 0.8 IU/ml
2 cholesterol oxidase (CHO) 4.4IU/ml
3 Peroxidase (POD) 1.7IU/ml
4 Ascorrbate oxidase 2.0IU/ml
Amadori không theo hướng ngược lại.
Thành phần cho 1 phản ứng gồm
16
Đoàn Thị Mai Xuân – K37 Khóa luận tốt
nghiệp
TT HbA1c R1 HbA1c R2
1 HbA1c Antibody(mouse) couple particles HbA1c Hapten
2 Albumin huyết thanh bò Albumin huyết thanh bò
3 Đệm pH 8.1 Đệm pH 2.0
4 Surfactant: 0.6%Non-ionic detrgent Surfactant
5 Preservative 0.1 % Proclin Preservative 0.1 % Proclin
Hemoglobin tổng số: Tổng Hemoglobin R1; NaOH 0.4%; pH 13
Surfactant: 0.7% chất tẩy rửa
Giá trị tham khảo tuyến tính
giá trị bình thường khoảng tuyến tính
HbA1c 5-6,5% 0-14.5%
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÌNH LUẬN
3.1 NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT CÁC BỆNH NHÂN ĐTĐ
Chúng tôi tiến hành khảo sát một số đặc điểm đối với 45 bệnh nhân
ĐTĐ typ 2 đến khám tại Bệnh viện Quân Y 108.
Bảng 2: Số bệnh nhân chia theo độ tuổi
Độ tuổi Số bệnh nhân ( người) Tỷ lệ ( %)
45-50
51-55
56-60
61-65
5
7
9
13
28.89
24.44
0
5
10
15
20
25
30
tỷ lệ
%
45-50
51-55
56-60
61-65
trên 66
Đoàn Thị Mai Xuân – K37 Khóa luận tốt
nghiệp
Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở nam giới lớn hơn nữ giới, nguyên nhân có thể
do chế độ ăn uống ở nam giới có sử dụng nhiều các chất có tính kích thích,
uống nhiều rượu bia hơn so với nữ giới.
Bảng 4: Biểu hiện nồng độ đường huyết ở các bệnh nhân
Đánh giá tiên lượng bệnh Đường huyết lúc đói số bệnh nhân tỷ lệ (%)
Tốt 4,4-6,1mmol/l 7 15,5
Vừa ≤ 7,8 mmol/l 15 33,3
Kém > 7,8 mmol/l 23 51,2
Tổng 45 100
Hình 2: Biểu đồ nồng độ đường huyết lúc đói
Kết quả trên bảng 5 và hình 4 cho thấy: Đường huyết lúc đói đạt tỷ lệ
đạt mức ĐHLĐ > 7,8 mmol/l tốt là 15,5%; Trong khi nồng độ đường huyết
ĐTĐ
8,43 5,08 2,38 1,23 7,81
SD 2,32 1,13 1,6 0,34 1,32
Hình 3: Biểu đồ so sánh các trị số của bệnh nhân ĐTĐ
Kết quả nghiên cứu về chỉ số đường huyết tăng cao cho thấy ở nhóm
bệnh nhân này tỷ lệ dung nạp đường rõ rệt, Ở bệnh nhân ĐTĐ chúng tôi
nghiên cứu thì tỷ lệ triglycerid tăng cao hơn so với người bình thường 2 lần,
20
Đoàn Thị Mai Xuân – K37 Khóa luận tốt
nghiệp
tăng triglycerid còn ảnh hưởng tới khả năng phân huỷ fibrin, Các yếu tố trên
phối hợp với nhau gây rối loạn chuyển hóa lipoprotein trầm trong hơn và dẫn
đến xơ vữa động mạch
Các chỉ số khác đều tăng cao hơn mức bình thường, thậm chí có bệnh
nhân có chỉ số cao hơn từ 3 -5 lần. Như vậy ở nhóm bệnh nhân này nguy cơ
biến chứng do ĐTĐ là rất lớn.
3.2.1. Đánh giá hàm lượng glucose huyết thanh ở bệnh nhân ĐTĐ
Glucose huyết thanh la một chỉ tiêu cơ bản thường được làm đề tài phát
hiện và theo dõi điều trị ĐTĐ, Kết quả nghiên cứu của chúng tôi là
Bảng 6: Hàm lượng glucose huyết thanh bệnh nhân ĐTĐ
Số bệnh nhân
X
mmol/l SD
Nam
Nữ
35
10
8,47
8,30
2,32
cao hơn khoảng 0,53 mmol/l. Kết quả nghiên cứu của bệnh nhân ĐTĐ nữ cao
hơn bệnh nhân nam là 0,18mmol/l (bảng 8).
3.2.4. Đánh giá hàm lượng triglycerid huyết thanh ở bệnh nhân ĐTĐ
Bảng 8: Hàm lượng triglycerid huyết thanh bệnh nhân ĐTĐ
Số bệnh nhân
X
mmol/l SD
Nam
Nữ
35
10
2,40
2,31
1,84
1,13
Tổng số 45 2,38 1,6
Bệnh nhân ĐTĐ có trị số cao hơn trị số bình thường 1,21 mmol/l; Trị
số kết quả nghiên cứu bệnh nhân nữ thấp hơn bệnh nhân nam là 0,09 mmol/l
ở bệnh nhân ĐTĐ (bảng 9).
Triglycerid có tới 86% trong chylomicron thành phần của lipoprotein,
Chylomicron cận chuyển TG trong huyết tương để qua đường bạch mạch để
vào hệ tuần hoàn máu. Tăng TG trong ĐTĐ là có rối loạn lipoprotein, đây là
nguy cơ quan trọng liên quan đến xỡ vữa động mạch dễ dẫn đến nhồi máu cơ
tim và tổn thương động mạch não,
3.2.5. Đánh gia hàm lượng cholesterol -HDL huyết thanh ở bệnh nhân ĐTĐ
Bảng 9: Hàm lượng HDL-C huyết thanh bệnh nhân ĐTĐ
22
Đoàn Thị Mai Xuân – K37 Khóa luận tốt
nghiệp
Số bệnh nhân
bệnh nhân nam là 0,48 mmol/l ở bệnh nhân ĐTĐ (bảng 11).
Theo nghiên cứu của Trần Văn Thọ hiện có khoảng 18% số bệnh nhân
tiểu đường đang điều trị ở việt nam kiểm soát tốt HbAlc. Bệnh nhân chỉ cần
thay đổi chế độ ăn trong một vài ngày là có thể giảm mức đường huyết lúc
đói, nhưng chỉ số HbAlc chỉ giảm khi bênh nhân tuân thủ chế độ ăn uống , tập
luyện, thuốc thang trong vài tháng. Đây là chỉ số trung thực nhất để đánh giá
kết quả điều trị.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Khoa Diệu Vân, HbAlc chỉ cần giảm 1%
số bệnh nhân đã bớt đươc 43% nguy cơ cắt cụt chi, 37% nguy cơ suy thận và
mù mắt, giảm đán kể các biến chứng khác như nhồi máu cơ tim và đột quỵ…
23
Đoàn Thị Mai Xuân – K37 Khóa luận tốt
nghiệp
4. THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ ĂN VÀ LUYỆN TẬP Ở BỆNH NHÂN
Trong 45 bệnh nhân có 15 bệnh nhân (33,3%) chưa được hướng dẫn về
chế độ ăn uống và luyện tập, 30 bệnh nhân (66,7%) bệnh nhân đã được hướng
dẫn. Tỷ lệ thực hiện chế độ ăn và tập luyện của 45 bệnh nhân như sau :
24
Đoàn Thị Mai Xuân – K37 Khóa luận tốt
nghiệp
Bảng 11: Tỷ lệ thực hiện chế độ ăn và luyện tập của bệnh nhân ĐTĐ
Thực hiện chế độ ăn
và luyện tập
Số bệnh
nhân
Tỷ lệ (%)
Glucose máu
(
X
mmol/l)