Tiểu luận môn marketing quốc tế Nền kinh tế Mỹ - Pdf 22

Marketing quốc tế - Nhóm 7
BÁO CÁO MARKETING QUỐC TẾ
Nền kinh tế Mỹ
Thực hiện nhóm 07 – D07 QT2 – HVCNBCVT
Các thành viên bao gồm:
Vũ Ngọc Anh
Lê Thanh Hoài
Nguyễn Thành Trung
Nguyễn Phương Ngân
Trần Thị Vân Anh
Lê Đức Anh
D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 1
Marketing quốc tế - Nhóm 7
MỤC LỤC
I: Đặc thù nền kinh tế Mĩ và những nhận định về cơ hội, thách thức đối với DN
Việt Nam 3
1: Cái nhìn toàn cảnh sự phát triển của kinh tế Mỹ từ năm 1947 đến 2010 11
3.1: Suy thoái kinh tế Mỹ bắt đầu vào tháng 12/2007 và kết thúc vào tháng 6/2009, kéo dài 18
tháng 19
3.3: Suy thoái cuối thập kỷ 90 20
3.4: Suy thoái đầu những năm 1980 20
3.5: Khủng hoảng dầu mỏ những năm 1973 21
3.6: Suy thoái năm 1958 22
3.7: Suy thoái năm 1953 22
3.8: Suy thoái năm 1947 22
3.9: Đại suy thoái năm 1930 23
III: Nền kinh tế Mỹ vận hành như thế nào? 24
1: Chính phủ cố gắng điều ?ết nền kinh tế, nhưng quyền lực quyết định về kinh tế là ở các doanh
nghiệp, các cá nhân 24
IV: Giới thiệu doanh nghiệp cụ thể hoạt động trên nền kinh tế thị trường Mỹ.28
1: JPMorgan Chase (NYSE: JPM): 28

được giao làm một công việc nào đó theo nhóm, họ họp nhau lại, phân công công việc cụ
D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 3
Marketing quốc tế - Nhóm 7
thể cho từng người, khi dự án hoàn thành, mỗi một cá nhân lại trở về công việc của mình,
không hề phụ thuộc vào nhau. Trong quan hệ công việc giữa cấp trên và cấp dưới hình
thành một ranh giới rõ ràng. Các sếp luôn được ưu ái hơn so với nhân viên dưới quyền ở
nhiều điểm: chỗ để xe riêng, phòng ăn riêng, phòng họp riêng, các chế độ đãi ngộ riêng.
Và đó có lẽ cũng là nét đặc trưng của xã hội Mỹ: chức vụ càng cao, anh càng khác biệt
với những người cấp dưới, và lúc này người có chức vụ cao thường hạn chế đến mức tối
đa các mối quan hệ tiếp xúc với người cấp dưới. Trong các công ty Mỹ cơ cấu tổ chức rất
rõ ràng, mỗi nhân viên đều có một chức vụ, vị trí nhất định, và họ không được quên rằng
tất cả mọi vấn đề bàn bạc phải được thống nhất với những người lãnh đạo trực tiếp trước
khi được báo cáo lên cho lãnh đạo cao cấp.
-Số lượng nhân công sẵn có, và điều quan trọng hơn là năng suất lao động của họ, đã
góp phần quyết định tình trạng lành mạnh của nền kinh tế. Xuyên suốt lịch sử của mình,
nước Mỹ đã có sự tăng trưởng liên tục về lực lượng lao động, và chính điều đó lại góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế gần như liên tục. Cho đến ngay sau Chiến tranh thế giới
thứ nhất, hầu hết số lao động là người nhập cư từ châu Âu, con cái họ, hoặc người Mỹ
gốc Phi, những người mà tổ tiên họ bị mang đến Mỹ làm nô lệ. Vào những năm đầu thế
kỷ XX, có một số lượng lớn người châu Á nhập cư vào Mỹ, và rất nhiều người nhập cư
Mỹ Latinh đến vào những năm sau đó.
Mặc dù nước Mỹ đã trải qua một vài thời kỳ thất nghiệp cao và những thời kỳ khác
thiếu cung về lao động, nhưng khi có rất nhiều việc làm thì người nhập cư lại có xu
hướng đến đây. Họ thường sẵn sàng làm việc với mức lương thấp hơn đôi chút so với
lương lao động có văn hoá; và họ nhìn chung đều phát đạt, kiếm được nhiều tiền hơn rất
nhiều so với ở quê hương. Nước Mỹ cũng thịnh vượng làm cho nền kinh tế phát triển
nhanh, đủ sức thu hút nhiều người mới đến hơn nữa.
-Đối với sự thành công về kinh tế của một đất nước, chất lượng lao động sẵn có, mọi
người sẵn sàng làm việc chăm chỉ như thế nào và tay nghề của họ ra sao - ít nhất cũng
quan trọng như số lượng lao động. Trong buổi ban đầu của nước Mỹ, cuộc sống tại vùng

phân công lao động, được coi là phản ánh cách “quản lý khoa học” dựa trên phân tích hệ
thống.
Rất nhiều doanh nghiệp vẫn tiếp tục vận hành với cấu trúc truyền thống, nhưng cũng
có nhiều doanh nghiệp khác đã thay đổi quan điểm quản lý. Đối mặt với tình trạng cạnh
tranh gia tăng trên toàn cầu, các doanh nghiệp Mỹ đang tìm kiếm những cấu trúc tổ chức
linh hoạt hơn, đặc biệt trong các ngành công nghiệp công nghệ cao đòi hỏi tuyển dụng
những lao động tinh xảo và phải phát triển, cải tiến sản phẩm và thậm chí đáp ứng thị
hiếu khách hàng một cách nhanh chóng. Việc phân cấp và phân công lao động quá mức
ngày càng bị coi là ngăn cản sự sáng tạo. Do vậy, nhiều công ty đã “san phẳng” cấu trúc
tổ chức của họ, giảm số lượng các nhà quản lý và trao quyền nhiều hơn cho các nhóm
công nhân thuộc nhiều lĩnh vực.
2: Một nền kinh tế hỗn hợp.
Nước Mỹ được coi là có một nền kinh tế hỗn hợp, bởi vì cả doanh nghiệp sở hữu tư
nhân và chính phủ đều đóng những vai trò quan trọng. Quả thực, một số trong những
cuộc tranh luận kéo dài nhất của lịch sử kinh tế Mỹ tập trung vào vai trò tương đối của
các khu vực nhà nước và tư nhân.
Hệ thống doanh nghiệp tự do của Mỹ nhấn mạnh đến sở hữu tư nhân. Các doanh
nghiệp tư nhân tạo ra phần lớn hàng hóa và dịch vụ, và gần hai phần ba tổng sản lượng
kinh tế của quốc gia là dành cho tiêu dùng cá nhân (một phần ba còn lại được mua bởi
chính phủ và doanh nghiệp). Trên thực tế, vai trò của người tiêu dùng lớn đến mức quốc
gia này thỉnh thoảng được mô tả là có một “nền kinh tế tiêu dùng”.
Sự nhấn mạnh này đối với sở hữu tư nhân xuất phát một phần từ niềm tin của người
Mỹ về tự do cá nhân. Ngay từ thời lập quốc, người Mỹ đã lo sợ quyền lực quá mức của
chính phủ, và họ luôn tìm cách hạn chế uy quyền của chính phủ đối với cá nhân - bao
gồm cả vai trò của chính phủ trong lĩnh vực kinh tế. Hơn nữa, người Mỹ nhìn chung đều
D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 6
Marketing quốc tế - Nhóm 7
tin rằng một nền kinh tế được đặc trưng bởi sở hữu tư nhân dường như hoạt động hiệu
quả hơn so với nền kinh tế đặc trưng bởi sở hữu nhà nước.
Tuy vậy, doanh nghiệp tự do cũng có những hạn chế. Người Mỹ luôn tin rằng một số

mức không tuân theo các lực lượng thị trường. Họ dựa vào chính phủ để giải quyết những
vấn đề mà kinh tế tư nhân bỏ qua, từ giáo dục cho đến bảo vệ môi trường. Và mặc dù ủng
hộ tích cực các nguyên lý thị trường, nhưng thỉnh thoảng họ vẫn sử dụng chính phủ để
nuôi dưỡng các ngành công nghiệp mới, và thậm chí để bảo vệ các công ty Mỹ trong
cạnh tranh.
3: Nền kinh tế thương mại điện tử.
Nói đến Mỹ có lẽ không thể không nói đến thương mại điện tử. Các giao dịch thương
mại trên mạng đang phát triển với tốc độ chóng mặt. Đây là cơ hội nhưng cũng là thách
thức cho tất cả các doanh nghiệp và các quốc gia. Ở Mỹ hiện nay có thể mua hầu hết mọi
thứ trên mạng từ sách vở, DVD, quần áo, thức ăn, máy vi tính và phụ kiện, các tiện nghi
trong gia đình (bàn ghế) đến vé máy bay, mua tour du lịch, đặt phòng khách sạn, thuê xe
hơi, rồi đến tra bản đồ để tìm đường đi đến địa chỉ cần thiết, các thông tin về tình hình
giao thông (kẹt xe) trên các xa lộ. Tất cả đều trên mạng. Thời gian đầu khách hàng đều
rất ngại mua hàng trên mạng vì những lý do an toàn thông tin và cảm giác không yên tâm
khi đối diện với các nhà cung cấp “ảo”. Nhưng càng sử dụng họ càng thấy hệ thống rất
ổn định và đáng tin cậy. Thông thường mua hàng trên mạng giá rẻ hơn và đây là một thị
trường trong suốt về giá. Nghĩa là khi mua một sản phẩm khách hàng trên mạng thường
tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và nguồn nào cho giá rẻ nhất với dịch vụ tốt
nhất thì mua. Trong những cái tên lớn, phải kể đến Amazon.com, không chỉ là nhà cung
cấp rất nhiều chủng loại sản phẩm trên mạng, Amazon còn là một thị trường tập hợp các
nhà cung cấp khác nhau, ai muốn bán sản phẩm thì đăng ký với Amazon và sẽ được đăng
trên mạng này. Khi bán được sản phẩm nhà cung cấp trích phí cho Amazon. Để đảm bảo
D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 8
Marketing quốc tế - Nhóm 7
chất lượng cung ứng, sau khi hoàn tất một giao dịch, khách hàng được yêu cầu đánh giá
chất lượng nhà cung cấp và đây là một thông số quan trọng để các khách hàng chọn nhà
cung cấp. Mặt khác, với các giao dịch giá trị lớn khách hàng được khuyến cáo mua bảo
hiểm để tránh rủi ro. Một cái tên lớn khác – E-bay.com lại là một thị trường bán đấu giá,
bán đủ thứ trên trời dưới đất. Sản phẩm và giá cả rất đa dạng và phản ứng rất theo cung
cầu của thị trường. Cần thấy rằng khi các giao dịch trên mạng phát triển thì hàng loạt các

nuốt cá bé”. Và đầy là thách thức rất lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam – chủ
yếu là các doanh nghiệp nhỏ.
Điển hình là vụ cá tra cá basa Việt Nam bị kiện bán phá giá. Ngày 17/6/2003 đã
thông báo quyết định cuối cùng về vụ kiện cá tra, cá basa . Theo đó, DOC cho rằng, DN
Việt Nam đã bán phá giá sản phẩm cá tra, cá basa đông lạnh vào thị trường này. Sản
phẩm trên sẽ phải chịu thuế chống bán phá giá 44,66- 63,88%. Đây là mức thuế bất hợp
lý, bất bình đẳng trong xu thế giao dịch thương mại toàn cầu đang được tuân theo các chế
tài của WTO.
Theo thông tin thu thập được , ngày 6/8, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản
Việt NamnVASEP cho biết thêm, ngày 5/8, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đã chính thức
công bố khoản trợ cấp 34 triệu USD của Chính phủ Mỹ hỗ trợ cho các chủ trại cá nheo
Mỹ về các thiệt hại do "thời tiết không thuận và thiên tai" trong các năm 2001-2002. Như
vậy, một mặt trong đơn kiện nộp cho Bộ Thương mại Mỹ (DOC) và Ủy ban Thương mại
quốc tế Hoa Kỳ (ITC), Hiệp hội các chủ trại cá nheo Mỹ (CFA) cố tình che giấu thực tế,
đưa ra các bằng chứng giả, đổ tội cho các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá filet đông
lạnh cá tra, cá basa, gây thiệt hại vật chất cho ngành nuôi cá nheo Mỹ, để các cơ quan này
kết luận sai, áp thuế chống bán phá giá trừng phạt Việt Nam. Mặt khác, CFA lại chứng
minh với USDA rằng thiệt hại của họ là do thiên tai để xin được hưởng tiền trợ cấp của
Chính phủ Mỹ. VASEP cho rằng việc xử lý của các cơ quan chính quyền Mỹ cũng tỏ ra
D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 10
Marketing quốc tế - Nhóm 7
không thống nhất, thiếu phối hợp, mang nặng tính bảo hộ sản xuất trong nước, trái với
tinh thần tự do thương mại và cạnh tranh bình đẳng.
Nhìn rộng ra, mức thuế cao trên không chỉ đe doạ trực tiếp đến người nuôi cá tra,
basa, mà các DN đang xuất mặt hàng này có nguy cơ mất thị trường Mỹ, nơi vẫn tiêu thụ
gần 50% lượng cá tra, basa của Việt Nam. Việt Nam làm gì để vừa bảo vệ lợi ích của các
nhà nuôi catfish Mỹ mà vẫn đưa được cá basa sang thị trường này?
Và qua đây, chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam có thêm những bài học về kinh
nghiệm khi tham gia vào nền kinh tế toàn cầu. Một thị trường rộng mở nhưng đầy khó
khăn thách thức, không phải cứ mặt hàng xuất khẩu của ta ngon, rẻ đã là một lợi thế. Sau

những đợt lạm phát sâu sắc, thất nghiệp cao, và thâm hụt ngân sách nặng nề của chính
phủ trong nửa cuối thế kỷ XX. Nước Mỹ cuối cùng đã có được một giai đoạn ổn định
kinh tế vào những năm 1990: giá cả ổn định, thất nghiệp giảm xuống mức thấp nhất trong
vòng gần 30 năm qua, chính phủ công bố thặng dư ngân sách, và thị trường chứng khoán
tăng vọt chưa từng thấy.
Năm 1998, tổng sản phẩm quốc nội của Mỹ - gồm toàn bộ sản lượng hàng hóa và
dịch vụ trong nước - đạt trên 8,5 nghìn tỷ USD. Mặc dù chiếm chưa đến 5% dân số thế
giới, nhưng nước Mỹ lại chiếm tới hơn 25% sản lượng kinh tế toàn thế giới. Nhật Bản,
nước có nền kinh tế đứng thứ hai thế giới, cũng chỉ tạo ra gần một nửa sản lượng trên.
Trong khi nền kinh tế Nhật Bản và nhiều nền kinh tế khác vật lộn với tăng trưởng chậm
và các vấn đề khác vào những năm 1990 thì nền kinh tế Mỹ lại có được thời kỳ phát triển
liên tục và kéo dài nhất trong lịch sử của mình.
Nhưng, Nền kinh tế này cũng phải đối mặt với những thách thức đang diễn ra liên tục
trong dài hạn. Mặc dù nhiều người Mỹ có sự bảo đảm về kinh tế và một số người tích lũy
được rất nhiều của cải, nhưng còn một số lượng đáng kể - đặc biệt là các bà mẹ không
D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 12
Marketing quốc tế - Nhóm 7
chồng cùng con cái họ - tiếp tục sống trong cảnh nghèo khó. Chênh lệch về của cải, tuy
không cao như một số nước khác, nhưng cũng lớn hơn so với rất nhiều nước. Sự hội nhập
kinh tế toàn cầu mang đến những bất ổn nhất định bên cạnh các lợi thế. Đặc biệt, các
ngành công nghiệp chế tạo truyền thống sa sút, quốc gia bị thâm hụt thương mại lớn và
dường như không thể đảo ngược được trong buôn bán với các nước khác.
1.2: Phân tích tình hình nền kinh tế Mỹ qua những con số.
Những số liệu chỉ giúp đánh giá tình trạng lành mạnh của nền kinh tế, nhưng chúng
không đo được hết mọi phương diện của phúc lợi quốc gia. GDP cho biết giá trị thị
trường của hàng hóa và dịch vụ mà một nền kinh tế tạo ra, nhưng nó không đo được chất
lượng cuộc sống của một quốc gia và một vài biến số quan trọng - ví dụ như sự bình an
và hạnh phúc cá nhân, hoặc môi trường trong sạch hay sức khỏe tốt - hoàn toàn nằm
ngoài phạm vi của nó.
Biểu đồ chỉ số dữ liệu lịch sử.

cải thiện từ năm 1979, khi có tới 31% người da đen chính thức được coi là nghèo, và đây
là tỷ lệ nghèo đói thấp nhất của nhóm người này kể từ năm 1959. Các gia đình do các bà
mẹ độc thân làm chủ hộ đặc biệt dễ lâm vào cảnh nghèo túng. Một phần do hiện tượng
này mà năm 1997, gần một phần năm trẻ em (18,9%) thuộc diện nghèo. Tỷ lệ nghèo của
trẻ em Mỹ gốc Phi là 36,7%, của trẻ em gốc Tây Ban Nha là 34,4%.
D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 15
Marketing quốc tế - Nhóm 7
-Dù trong trường hợp nào, một điều rất rõ rang ta nhận ra là thực tế hệ thống kinh tế
của Mỹ không phân phối công bằng của cải làm ra. Theo Viện chính sách kinh tế, một
tổ chức nghiên cứu có trụ sở tại Washington, năm 1997, một phần năm số gia đình Mỹ
giàu nhất chiếm tới 47,2% thu nhập quốc dân. Ngược lại, một phần năm số gia đình
nghèo nhất chỉ chiếm 4,2% thu nhập quốc dân, và 40% dân số nghèo nhất chỉ chiếm 14%
thu nhập quốc dân.
-Mặc dù nền kinh tế Mỹ nhìn chung là thịnh vượng, nhưng những lo lắng về tình
trạng bất bình đẳng vẫn tiếp tục kéo dài. Cạnh tranh toàn cầu tăng lên đe dọa các công
nhân trong nhiều ngành sản xuất công nghiệp truyền thống, và đồng lương của họ bị o ép.
Cùng lúc đó, chính phủ liên bang lại nới lỏng các chính sách thuế, những chính sách tìm
cách hỗ trợ các gia đình có thu nhập thấp bằng chi phí của các gia đình giàu, và nó cũng
cắt giảm chi tiêu cho nhiều chương trình xã hội trong nước trợ giúp người có hoàn cảnh
khó khăn.
2: Nền kinh tế Mỹ năm 2010, và những tháng đầu năm 2011.
-Theo NBER - Cục Nghiên cứu kinh tế quốc gia Mỹ (NBER), một tổ chức phi lợi
luận của các nhà kinh tế hàng đầu đến từ các hãng nghiên cứu, trường đại học và một số
cơ quan khác. Cơ quan này luôn chịu trách nhiệm tính ngày bắt đầu và kết thúc của mỗi
cuộc suy thoái kinh tế, chính thức công bố kinh tế Mỹ bước vào suy thoái kể từ tháng
12/2007 đến tháng 6/2009 đã chấm dứt. Theo một số ý kiến kết luận rằng từ đó đến nay
mọi chuyện đã cải thiện và rằng nền kinh tế đã tăng trưởng lại ở tốc độ bình thường, nếu
kinh tế Mỹ trong tương lai có đi xuống sẽ là một đợt suy thoái mới chứ không phải tiếp
diễn suy thoái đã bắt đầu vào tháng 12/2007.
-Nhưng có một số ý kiến khác, như Ông Robert Hall, giáo sư kinh tế đại học

Marketing quốc tế - Nhóm 7
Tuy nhiên ông cũng thừa nhận đà phục hồi lần này không giống những lần phục hồi
trước đây. Hiện kinh tế Mỹ mới chỉ lấy lại được 9% số lượng việc làm đã mất trong thời
kỳ suy thoái kinh tế.
Khả năng kinh tế rơi vào suy thoái lần 2 khá hiếm. Lần gần nhất kinh tế Mỹ suy thoái
lần 2 là vào năm 1981 – 1982 sau khi kinh tế suy thoái vào năm 1980.
Chỉ số giá cho việc mua bán chung trong nước tăng 2,1% trong quý thứ tư, so với
mức tăng từ 0,7% trong quý ba.
Chi tiêu dùng cá nhân tăng 4,4% trong quý thứ tư, so với mức tăng 2,4 % trong quý
ba.
Dù Lạm phát Mỹ tăng 1,5% trong tháng mười hai, năm 2010, nhưng Tỷ lệ thất
nghiệp vẫn đã giảm 0,4 % trong tháng mười hai, và việc làm phi nông nghiệp tăng lương
103.000 (Cục Thống kê Lao động Mỹ báo cáo). Việc làm tăng trong giải trí và khách sạn
và trong chăm sóc sức khỏe, nhưng rất ít thay đổi trong ngành công nghiệp lớn khác.
Cũng tình trạng tương tự cuối năm 2010, Theo tính toán của Cục thống kê Lao động
của Mỹ, Lạm phát Mỹ tăng 1,6% trong tháng Giêng, năm 2011, nhưng Tỷ lệ thất nghiệp
Mỹ giảm đến 9% trong tháng Giêng 2011.
3: Mỹ và những cuộc suy thoái tồi tệ nhất trong lịch sử.
Dù là cường quốc kinh tế số một hiện nay trên thế giới, nhưng nền kinh tế Mỹ cũng
đã phải trải qua những cuộc suy thoái tồi tệ nhất trong lịch sử nước Mỹ.
Cường quốc kinh tế số một thế giới không lạ lẫm với cụm từ suy thoái vì từ sau thế
chiến thứ nhất tới nay, đã 8 lần người dân nước này sống trong tình cảnh này.
So sánh những lần kinh tế Mỹ suy thoái tính từ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai
D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 18
Marketing quốc tế - Nhóm 7
3.1: Suy thoái kinh tế Mỹ bắt đầu vào tháng 12/2007 và kết thúc vào tháng 6/2009,
kéo dài 18 tháng.
Suy thoái kinh tế Mỹ tồi tệ nhất trong 70 năm, bắt đầu từ tháng 12/2007 đã kết thúc
vào tháng 6/2009. Từ quý 4/2007 cho đến quý 2/2009, kinh tế Mỹ tăng trưởng âm 4,1%,
mức đi xuống tồi tệ nhất tính từ thập niên 1930. Chi tiêu của các hộ gia đình trong năm

Anh cũng bị cuốn theo vòng xoáy suy thoái.
Dù thị trường chứng khoán hồi phục khá nhanh nhưng thị trường bất động sản, lao
động, giá năng lượng, cán cân thương mại và GDP của Mỹ và một số quốc gia khác vẫn
đi xuống cho tới 2 năm sau khủng hoảng.
3.4: Suy thoái đầu những năm 1980
Cuộc cách mạng tại Iran đã đẩy giá dầu thế giới tăng với tốc độ chóng mặt trong thập
niêm 70. Đây chính là tiền đề cho cuộc khủng hoảng kéo dàn 30 tháng tại Mỹ và được
coi là lần suy thoái tồi tệ nhất kể từ đại khủng hoảng 1930. Giá năng lượng đi lên kéo
D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 20
Marketing quốc tế - Nhóm 7
theo lạm phát gia tăng, đạt đỉnh 13,5% trong năm 1980, đã buộc Cục Dự trữ Liên bang
(FED) phải thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ.
Không chỉ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng một cách đáng lo ngại với từ mức
5,6% của tháng 5/1979 lên 7,5% một năm sau đó. Bất kể kinh tế bắt đầu hồi phục trong
năm 1981, tỷ lệ thất nghiệp vẫn được duy trì ở mức cao kỷ lục 7,5% và đạt mức lịch sử
10,8% trong năm 1982.
Hậu quả của suy thoái lên ngành công nghiệp xe hơi, nhà đất, và sản xuất thép tồi tệ
đến nỗi các ngành trên liên tục sụt giảm trong 10 năm sau, cho tới tận khi cuộc khủng
hoảng tiếp theo kết thúc.
3.5: Khủng hoảng dầu mỏ những năm 1973
Bắt đầu vào ngày 15/9/1975, khủng hoảng dầu mỏ là hậu quả của việc các thành viên
OAPEC, gồm tổ chức xuất khẩu dầu mỏ OPEC và hai nước Ai Cập và Syria, thực hiện
cấm vận dầu mỏ với Mỹ và các quốc gia ủng hộ Israel trong cuộc chiến với Ai Cập và
Syria.
Trước đó vào năm 1971, việc Mỹ rút khỏi Chế độ tiền tệ Bretton Woods, hệ thống
quy định chung giữa các cường quốc, trong đó giá vàng chỉ được neo giữ duy nhất vào
đôla với giá 35 đôla một ounce, và tiến hành thả nổi đồng đôla là tiền đề cho cuộc khủng
hoảng. Lý do là hệ thống Bretton Woods đã giới hạn hoạt động chi tiêu của Mỹ và thế
giới do lượng vàng của là có hạn trong khi nhu cầu sử dụng tiền lại lớn hơn rất nhiều.
Việc Mỹ in tiền phục vụ cho việc tài trợ cho Chiến tranh Việt Nam hoặc viện trợ cho các

3.8: Suy thoái năm 1947
Lần suy thoái này của nước Mỹ bắt nguồn từ những bước tiền thần tốc của giai đoạn
hồi phục kinh tế sau chíến tranh thế giới. Tính tới đầu năm 1947, nước Mỹ chiếm tới 50%
tổng sản lượng nông nghiệp toàn thế giới, trước chiến tranh thế giới con số này chỉ là
D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 22
Marketing quốc tế - Nhóm 7
30%, tỷ lệ thất nghiệp của nước Mỹ cũng ở mức thấp kỷ lục khi gần như 100% người lao
động có việc làm. Năm 1947 chính là giai đoạn kinh tế Mỹ đạt đỉnh của chu kỳ tăng
trưởng sau chiến tranh. Cũng từ thời điểm này, ngoại trừ lương thực, nhu cầu tiêu thụ
hàng hóa nói chung của nước Mỹ đã trở nên bão hòa do hàng hóa được sản xuất nhiều tới
mức thừa mứa.
Dù Tổng thống Truman cũng như nội các của ông đã dự đoán được rủi ro từ lạm phát
cũng như những bất ổn kinh tế, nhưng lãnh đạo nước Mỹ lại không tính tới lạm phát gia
tăng tại phần còn lại của thế giới. Dù hậu quả của cuộc suy thoái 1947 là không quá tồi tệ
nhưng nó cũng đủ gây trì trệ kinh tế, khiến nhiều doanh nghiệp phá sản cũng như tỷ lệ
thất nghiệp leo thang.
3.9: Đại suy thoái năm 1930
Cuộc đại suy thoái hay còn gọi là đại khủng hoảng diễn ra cách đây đã gần 8 thập kỷ
nhưng vẫn ghi dấu ấn là giai đoạn suy sụp kinh tế tồi tệ nhất trong lịch sử hiện đại. Bắt
đầu vào năm 1929 và kết thúc vào thởi điểm chuyển giao giữa hai thập niên 30 và 40,
cuộc suy thoái có sức ảnh hưởng hủy diệt với kinh tế toàn cầu, cả các nước phát triển và
đang phát triển. Mọi khía cạnh của nền kinh tế từ sản xuất, tiêu dùng, thương mại, thu
nhập cá nhân, hoạt động tiêu dùng, thị trường lao động, lạm phát đều chịu ảnh hưởng
xấu. Các nước phụ thuộc nhiều vào công nghiệp chịu tác động sâu sắc nhất. Ngoài ra khu
vực nông nghiệp cũng điêu đứng khi giá ngô, một trong những nông sản chính tại
phương tây, giảm tới 60%.
Có nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân cho cuộc suy thoái, chẳng hạn như sự sụp
đổ hàng loạt của các ngân hàng hay thị trường chứng khoán, được đánh dấu bằng "ngày
thứ ba đen tối" 29/10/1929, hay suy giảm giao dịch quốc tế do Mỹ tăng thuế. Tuy nhiên,
ý kiến chung được nhiều nhà kinh tế đồng thuận, trong đó có cả đương kim Chủ tịch

Marketing quốc tế - Nhóm 7
Mỹ là một đất nước được xây dựng trên lòng tin vào cá nhân và ngờ vực uy quyền.
Và cách nền kinh tế Mỹ được vận hành được tóm tắt bằng một thuật ngữ tiếng Pháp
“laissez-faire” (hãy để mặc nó). Khái niệm này xuất phát từ các học thuyết kinh tế của
Adam Smith, một nhà kinh tế học người Xcôtlen ở thế kỷ XVIII, người mà các tác phẩm
của ông đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Mỹ. Ở đây, lợi ích cá
nhân được coi cần có tự do hoàn toàn, chừng nào các thị trường còn tự do và cạnh tranh
thì hoạt động của từng người, được thúc đẩy bởi lợi ích cá nhân, sẽ có thể phối hợp để tạo
ra lợi ích lớn hơn cho xã hội. Trong đó, chính phủ chủ yếu thiết lập nên những qui tắc
cơ bản cho doanh nghiệp tự do, để bảo vệ người tiêu dùng, cũng như các doanh
nghiệp (thường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ) trước sự khống chế của các tập đoàn
tài chính lớn được nắm giữ bởi một số nhà tài phiệt chóp bu của phố Wall, cũng như
bảo vệ các doanh nghiệp có lợi thế trước sức tấn công bên ngoài. T
Thực tế nước Mỹ, trong rất nhiều trường hợp, việc thực thi chính sách tự do kinh
doanh không ngăn cản các nhóm lợi ích cá nhân hướng tới chính phủ để nhờ giúp đỡ.
Các công ty đường sắt chấp nhận sự giúp đỡ về đất đai và tiền trợ cấp công ích trong thế
kỷ XIX. Các ngành công nghiệp đương đầu với cạnh tranh mạnh mẽ của nước ngoài từ
lâu đã kêu gọi sự bảo hộ thông qua chính sách thương mại. Ngành nông nghiệp Mỹ, hầu
như toàn bộ nằm trong tay tư nhân, đã hưởng lợi từ những chính sách trợ giúp của chính
phủ. Nhiều ngành công nghiệp khác cũng tìm kiếm và nhận được sự giúp đỡ của chính
phủ từ việc cắt giảm thuế cho đến trợ cấp toàn bộ…
Sự điều tiết của chính phủ đối với ngành công nghiệp tư nhân có thể được chia thành
hai phạm trù - điều tiết kinh tế và điều tiết xã hội. Hoạt động điều tiết kinh tế chủ yếu tìm
cách kiểm soát giá cả. Được xây dựng về mặt lý thuyết để bảo vệ người tiêu dùng và
những công ty nhất định (thường là các doanh nghiệp nhỏ) trước các công ty có thế lực
mạnh hơn. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các hoạt động điều tiết kinh tế lại được
tiến hành nhằm bảo vệ các công ty tránh khỏi sự cạnh tranh tiêu cực. Ngược lại, điều tiết
xã hội lại thúc đẩy các mục tiêu không mang tính kinh tế - chẳng hạn như điều kiện làm
D07 QT Marketing - HVCNBCVT Page 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status