nghiên cứu tính kháng kháng sinh trong viêm phổi do vi khuẩn ở trẻ em tại bệnh viện nhi thanh hóa - Pdf 22

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
==== ====
LÊ VĂN TRÁNG
NGHIÊN CỨU TÍNH KHÁNG KHÁNG SINH
TRONG VIÊM PHỔI DO VI KHUẨN Ở TRẺ EM
TẠI BỆNH VIỆN NHI THANH HÓA
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
1
HÀ NỘI - 2012
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
==== ====
LÊ VĂN TRÁNG
NGHIÊN CỨU TÍNH KHÁNG KHÁNG SINH
TRONG VIÊM PHỔI DO VI KHUẨN Ở TRẺ EM
TẠI BỆNH VIỆN NHI THANH HÓA
CHUYÊN NGÀNH: NHI - HÔ HẤP
Mã số : CK.62.72.16.10
LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
Người hướng dẫn khoa học:
TS. NGUYỄN THỊ YẾN
HÀ NỘI - 2012
2
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BC Bạch cầu
BN Bệnh nhân
CRP C- reactive protein
CS Cộng sự
CLSI Clinical and Laboratory Standards Institute
CTM Công thức máu

Cô giáo trong Hội đồng, Bộ môn Nhi Trường Đại học Y Hà Nội đã tận tình
truyền đạt, trang bị cho tôi những kiến thức trong chuyên môn cũng như
phương pháp nghiên cứu khoa học và giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại
học, các Bộ môn của Trường Đại học Y Hà Nội đã tạo điều kiện vô cùng
thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới BCHĐU, BGĐ, Các Khoa, Phòng của
BV Nhi Thanh Hóa đã hỗ trợ về tinh thần cũng như về vật chất, tạo mọi điều
kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các Khoa, Phòng, đặc biệt là
Khoa Hô hấp BV Nhi Trung Ương đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá
trình học tập, nghiên cứu.
Tôi xin dành tình cảm chân thành lòng biết ơn sâu sắc đến Bố, Mẹ, Vợ,
Con và những người thân trong gia đình đã luôn động viên, lo toan giúp đỡ
tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành bản luận văn này.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn tới Anh, Em, Bạn bè, Các đồng nghiệp luôn
dành những tình cảm, chia sẻ kinh nghiệm để giúp đỡ tôi trong thời gian học
tập và hoàn thành luận văn này.
Lê Văn Tráng
4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những kết quả và số liệu trong luận văn này là hoàn
toàn có thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu
khoa học nào.
Hà nội, ngày 10 tháng 11 năm 2012
Lê Văn Tráng
5
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) là bệnh phổ biến trên toàn
thế giới với tỷ lệ mắc bệnh và tử vong đứng hàng đầu trong các bệnh nhiễm

kêu gọi các quốc gia khẩn cấp có kế hoạch đối phó tình trạng kháng thuốc.
TCYTTG lấy khẩu hiệu của ngày sức khỏe Thế giới năm 2011 là: “Không
hành động ngày hôm nay, ngày mai không thuốc chữa” [72].
Bệnh viện Nhi Thanh Hóa là bệnh viện hạng I được thành lập năm 2007, từ
khi thành lập đến nay số bệnh nhân đến khám và điều trị ngày một gia tăng, đặc
biệt là tỷ lệ bệnh nhân viêm phổi nhập viện rất cao, để phát hiện được sớm các
triệu chứng, cũng như hiểu rõ được căn nguyên gây viêm phổi, từ đó lựa chọn
kháng sinh đúng, điều trị kịp thời nhằm giảm tỷ lệ tử vong và giảm tỷ lệ
kháng kháng sinh của vi khuẩn gây viêm phổi. Xuất phát từ thực tiễn tại Bệnh
viện Nhi Thanh Hóa chưa có đề tài nghiên cứu nào về tính kháng kháng sinh
của vi khuẩn gây viêm phổi. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Nghiên cứu tính kháng kháng sinh trong viêm phổi do vi khuẩn ở trẻ em
tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa” với hai mục tiêu chính sau:
1. Mô tả đặc điểm dịch tễ học lâm sàng, cận lâm sàng của viêm phổi do
vi khuẩn ở trẻ em từ 2 tháng đến 5 tuổi tại BV Nhi Thanh Hóa.
2. Xác định tỷ lệ kháng kháng sinh và khảo sát một số yếu tố liên quan
đến tính kháng kháng sinh của vi khuẩn gây viêm phổi.
Hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ giúp các Bác sĩ lâm sàng hiểu rõ hơn về
mô hình vi khuẩn gây viêm phổi và lựa chọn kháng sinh phù hợp giúp việc
điều trị hiệu quả, giảm chi phí cho gia đình và xã hội.
7
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU, SINH LÝ BỘ MÁY HÔ HẤP
Bộ máy hô hấp được hình thành từ tuần thứ 3-4 trong thời kỳ bào thai.
Sau khi trẻ ra đời bộ máy hô hấp vẫn chưa hoàn thành mà còn tiếp tục phát
triển và hoàn thiện [23].
Ở trẻ nhỏ mũi và khoang hầu tương đối nhỏ, lỗ mũi và ống mũi hẹp,
niêm mạc mũi mỏng, mịn, giầu mạch máu dễ xung huyết do đó dễ bị tắc.
Thanh, khí, phế quản có đường kính tương đối hẹp, tổ chức đàn hồi kém phát

môn theo chu kỳ thở.
* Phản xạ ho: phản xạ ho rất quan trọng giúp cơ thể tống đẩy được dị vật
và các chất viêm nhầy xuất tiết ra khỏi đường thở.
* Hàng rào niêm mạc và hệ thống nhung mao: khoảng 80% tế bào lát hệ
thống phế quản lớn là tế bào biểu mô hình trụ có nhung mao giả tầng. Mỗi tế
bào có khoảng 250 – 275 lông rung, sự vận động của các lông rung này theo
kiểu làn sóng với tần số 1000 lần/phút được chuyền theo hướng về phía hầu
họng. Tất cả các vật thể lạ cùng chất nhầy bị tống ra ngoài với vận tốc
10nm/phút. Hàng rào niêm mạc đã ngăn chặn phần lớn vi vật thể có kích
thước trên 5μm không lọt vào phế nang [28], [42].
* Hệ thống thực bào: bao gồm lớp tế bào biểu mô nằm trên mặt màng
đáy phế nang, tế bào diệt tự nhiên (Natural killer). Có tác dụng bắt, bất hoạt
hoặc tiêu diệt các vi sinh vật, các kháng nguyên lạ xâm nhập vào cơ thể.
* Hàng rào miễn dịch (Tế bào và dịch thể): Lympho T sau khi nhận diện
kháng nguyên sẽ hoạt hóa và biệt hóa lympho B thành tương bào để sản xuất
kháng thể đặc hiệu. Sản phẩm kháng thể được chuyển tới mô kẽ, lòng phế
nang làm bất hoạt kháng nguyên [18].
* Các dịch tiết của hệ hô hấp (Surfactant, lysozyme…): cũng đóng vai
trò rất quan trọng trong chống nhiễm khuẩn để bảo vệ hệ hô hấp [28].
9
Tóm lại: Hệ hô hấp có rất nhiều cơ chế bảo vệ khác nhau nhưng chúng
quan hệ rất mật thiết và hoạt động hỗ trợ nhau để đạt được hiệu quả quan
trọng nhất là chức năng tự bảo vệ.
1.3. KHẢ NĂNG ĐỀ KHÁNG CỦA TRẺ
Sau đẻ, trẻ được bảo vệ chủ yếu bằng lượng IgA của mẹ truyền qua rau
thai và sữa mẹ. Thời kỳ dưới 1 tuổi, nồng độ γ globulin máu do cơ thể trẻ tạo
ra rất thấp [18]. Ở trẻ em, tổng hợp globulin miễn dịch IgA chậm hơn nhiều
so với các globulin miễn dịch khác. Nồng độ IgA rất thấp cả trong huyết
thanh lẫn trong dịch tiết ở phổi [18], [29].
Các tế bào miễn dịch nằm rải rác ở các nơi trong phổi. Khả năng huy động

Không những tỷ lệ mắc cao, viêm phổi là một trong những nguyên
nhân hàng đầu gây tử vong của trẻ em. Theo số liệu của chương trình “Gánh
nặng bệnh tật” của WHO năm 2004, hàng năm có khoảng 10,8 triệu trẻ em
dưới 5 tuổi tử vong, 17% trong số đó tử vong vì NKHHC [69]. Theo thống kê
trong năm 2007, trên toàn thế giới có khoảng 9 triệu trẻ em tử vong, trong đó
có tới 20% tử vong do viêm phổi (khoảng 1,8 triệu) [71].
Tại Bắc Mỹ hàng năm tỷ lệ mắc viêm phổi là 35 – 45 trường hơp/1.000
trẻ/năm ở trẻ dưới 5 tuổi [57]. Ở các nước đang phát triển viêm phổi chiếm
95% tổng số bệnh nhi viêm phổi trên toàn thế giới. Các nhà nghiên cứu ước
tính rằng có khoảng 150 triệu bệnh nhi mắc bệnh mới/năm ở trẻ dưới 5 tuổi
[55], [62].
Ở Việt Nam, bệnh đường hô hấp chiếm 34% trong mô hình bệnh tật
của trẻ em trên toàn quốc, chiếm 28,82% trong mô hình bệnh tật của trẻ em
11
tại các bệnh viện tỉnh và đứng hàng đầu trong các bệnh viện trẻ em [26]. Tỷ lệ
tử vong do viêm phổi đứng đầu trong các bệnh về hô hấp 75%, chiếm 21% so
với tử vong chung của trẻ em [26], [28].
1.4.3. Căn nguyên gây viêm phổi ở trẻ em
* Căn nguyên
Các nghiên cứu về tác nhân gây bệnh trong viêm phổi trẻ em cho thấy
nguyên nhân viêm phổi rất đa dạng, bao gồm: virus, vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm,
hoặc do tác nhân hóa học hay dị ứng miễn dịch, gồm viêm phổi hít, viêm phổi do
hóa chất hay xạ trị ung thư. Tỷ lệ các căn nguyên gây bệnh phụ thuộc vào hoàn
cảnh mắc bệnh tại cộng đồng, tại nhà trẻ, trại trẻ mồ côi hay tại bệnh viện.
- Vi khuẩn: là tác nhân thường gặp ở các nước đang phát triển trong đó
có Việt Nam. Tần xuất xuất hiện các tác nhân liên quan đến độ tuổi và mức
độ nặng của bệnh. Đa số các trường hợp viêm phổi tại cộng đồng ở trẻ < 3
tuổi là do H.influenzae còn S.pneumoniae thường là căn nguyên gây viêm
phổi ở trẻ học đường [59]. Trong khi đó viêm phổi ở những trại trẻ mồ côi,
nhiễm khuẩn từ bệnh viện thì căn nguyên chủ yếu là E.coli, K.pneumoniae,

- Hít phải các hạt mang vi khuẩn trong không khí: Bình thường không
khí thở chứa đựng khá nhiều vi sinh vật bay lơ lửng, bao gồm cả vi khuẩn và
vi rus, mỗi phút cơ thể hít vào khoảng 8 con vi khuẩn tương đương 10.000 vi
khuẩn mỗi ngày, trường hợp viêm phổi do H.influenzae, Legionella… thường
xâm nhập vào phổi theo đường này.
- Theo đường máu: thường gặp nhất là viêm phổi do S.aureus. Bệnh nhi
thường có viêm mủ ngoài da hoặc viêm nội tâm mạc, từ các ống thông đặt
vào mạch máu. VK theo đường máu đến các cơ quan gây bệnh.
13
- Nhiễm trực tiếp: người bệnh bị nhiễm trực tiếp từ ống đặt nội khí quản,
các thủ thuật xâm nhập đường thở hoặc từ các vết thương thấu ngực.
- Theo đường tiếp cận: vi khuẩn có thể lan tràn vào phổi từ các cơ quan
lân cận bị nhiễm khuẩn: Viêm mủ màng tim, áp xe gan
1.4.4.2. Cơ chế gây tổn thương phổi
Sau khi các tác nhân gây bệnh vào đến tiểu phế quản hoặc phế nang,
tình trạng nhiễm khuẩn sẽ khởi phát và diễn biến thành thâm nhiễm phổi,
đông đặc hay hoại tử phổi tùy thuộc vào hai yếu tố: đặc tính của vi khuẩn gây
bệnh và khả năng miễn dịch của cơ thể. Khi tác nhân gây bệnh xâm nhập vào
cơ thể mà cơ thể không đủ khả năng chống đỡ, quá trình bệnh lý sẽ xảy ra qua
4 giai đoạn:
- Nhiễm khuẩn: trẻ bị viêm phổi có thể do hít phải vi khuẩn gây bệnh
trong không khí hoặc do vi khuẩn gây bệnh cư trú ở đường hô hấp trên tràn
xuống. Khả năng xâm nhập vào phổi đầu tiên là ở chỗ chuyển từ vi phế quản
cuối sang vi phế quản phế nang, vì ở đây lòng phế quản được mở rộng nên
không khí đi chậm lại. Mặt khác, có sự thay đổi từ liên bào lông sang liên bào
hình khối của phế nang. Vi khuẩn muốn gây bệnh tại phổi trước tiên phải
chống lại bẫy của màng nhầy để không bị đẩy ra ngoài nhờ sự chuyển động
hướng của các nhung mao hoặc phản xạ ho, hắt hơi [28].
- Bám dính: vi khuẩn bám dính vào bề mặt tế bào của mô hô hấp nhờ cấu
trúc đặc biệt bởi lông mà bản chất là glycoprotein. Nhưng việc bám dính

C. Đôi khi có thể gặp tình trạng hạ thân nhiệt đối với những trẻ
bị bệnh quá nặng, trẻ sơ sinh, trẻ SDD nặng [30].
- Ho: là triệu chứng đặc hiệu của đường hô hấp. Phản xạ ho giúp cơ thể
tống được dị vật và các chất viêm nhầy xuất tiết ra khỏi đường thở. Trong một số
nghiên cứu về viêm phổi thì triệu chứng ho chiếm từ 82,8% đến 96,8% [15], [34].
15
- Nhịp thở nhanh: nhịp thở là thông số sớm nhất thay đổi khi có tổn
thương phổi ở trẻ em [60]. Tùy thuộc mức độ nặng nhẹ của bệnh, nhịp thở có
thể nhanh, hoặc chậm hay không đều. Khi có cơn ngừng thở là biểu hiện của
suy hô hấp nặng. Theo một số nghiên cứu gần đây, viêm phổi có nhịp thở
nhanh trên 70 lần/ phút chiếm từ 19,8% đến 26,7% [15],[60].
- Khò khè: khi trẻ bị viêm nhiễm sự tăng tiết đờm dãi kết hợp với sự co thắt
làm hẹp lòng đường thở, cản trở thông khí gây ra tiếng khò khè.
- Khó thở: biểu hiện bằng cánh mũi phập phồng, đầu gật gù theo nhịp
thở, rút lõm lồng ngực là một dấu hiệu của viêm phổi nặng [27].
- Tiếng ran ở phổi: tình trạng viêm tiết dịch trong lòng phế nang tạo ra ran
ẩm to, nhỏ hạt. Khi có tình trạng co thắt, bít tắc đường thở tạo ra ran rít, ngáy.
- Tím tái: khi trẻ bị viêm phổi nặng có thể có dấu hiệu tím tái với nhiều
mức độ, tím quanh môi, đầu chi hoặc tím toàn thân [69].
Ngoài các triệu chứng trên có thể còn gặp các triệu chứng: nôn, trớ, tiêu
chảy, suy tim, biểu hiện thần kinh như kích thích vật vã hoặc li bì [27].
1.4.5.2. Triệu chứng cận lâm sàng
* Xét nghiệm huyết học: Số lượng bạch cầu (BC), tỷ lệ BC đa nhân
trung tính tăng là những dấu hiệu chỉ điểm căn nguyên gây bệnh do VK.
Nghiên cứu về sự khác nhau giữa viêm phổi do căn nguyên VK và virus;
Vikki có nhận xét: tỷ lệ các bệnh nhi có số lượng BC và tốc độ máu lắng tăng
không khác nhau giữa hai nhóm bệnh nhi viêm phổi do VK và do virus [66].
Chỉ số Hb cần phải quan tâm vì ở trẻ có thêm biểu hiện thiếu máu thì tình
trạng suy hô hấp sẽ trở nên nặng hơn.
* Các xét nghiệm sinh hóa:

- Các nốt mờ mô kẽ lan tỏa
- Tổn thương phối hợp
Tuy nhiên trong một số trường hợp hình ảnh X-quang phổi có thể bình
thường như:
17
- Những trường hợp không có khả năng tạo phản ứng viêm
- Khi còn quá sớm (viêm phổi tụ cầu lan bằng đường máu)
- Viêm phổi do pneumocystis carinii ở bệnh nhân HIV.
1.4.5.3. Xét nghiệm vi khuẩn
- Xét nghiệm đờm chỉ cho kết quả dương tính trong khoảng 50% các
trường hợp bệnh do vi khuẩn gây bệnh.
- Một số vi khuẩn yếm khí, Mycoplasma, Chlamydia, nấm không thể
nuôi cấy bằng các phương pháp thông thường.
- Cấy máu cũng thường được sử dụng để tìm nguyên nhân gây viêm
phổi khi có dấu hiệu nhiễm khuẩn huyết, tuy nhiên mức độ dương tính thấp.
Mặc dù việc xác định nguyên nhân gây viêm phổi ở trẻ em gặp nhiều
khó khăn, tuy nhiên rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện và có những kết quả
xác định được nguyên nhân gây bệnh.
1.4.6. Chẩn đoán
1.4.6.1. Chẩn đoán xác định viêm phổi do vi khuẩn
-Lâm sàng: Toàn thân có hội chứng nhiễm trùng, ho, nhịp thở nhanh, rút
lõm lồng ngực (khi có tổn thương phổi nặng), nghe phổi có ran ẩm nhỏ hạt.
- Cận lâm sàng: tổn thương phổi trên phim X-quang là những chấm nốt
mờ rải rác ở 2 phổi cùng với xét nghiệm có số lượng bạch cầu tăng, CRP
tăng.
1.4.6.2. Chẩn đoán mức độ [27], [70].
- Viêm phổi rất nặng: triệu chứng chính là ho, khó thở kèm theo:
+ Tím tái trung tâm hoặc
+ Không uống được
+ Rút lõm lồng ngực xuất hiện thường xuyên

<95%;
PaO
2
<70mmHg; PaCO
2
bình thường.
19
+ Suy hô hấp cấp có tăng PaCO
2
máu >45 mmHg; SaO
2
và PaO
2
giảm.
1.4.7.2. Suy tim
Nhịp tim nhanh là một trong những triệu chứng lâm sàng thường gặp
trong suy hô hấp. Suwanjutha và cs [62] khi nghiên cứu suy tim ở trẻ viêm
phổi đã kết luận: suy tim phải mà biểu hiện là tăng nhịp tim, gan to, tĩnh mạch
cổ nổi là phổ biến ở bệnh nhi viêm phổi nặng. Trong một nghiên cứu tại khoa
Nhi Bệnh viện Thanh Nhàn, Tô Văn Hải cho biết tỷ lệ suy tim gặp trong viêm
phổi nặng là 16,3% [17].
1.4.7.3. Biến chứng khác: Sau các biến chứng sớm và nặng nề như suy hô
hấp và suy tim, tràn dịch màng phổi, tràn mủ màng phổi cũng là những biến
chứng hay gặp được nhiều tác giả thừa nhận.
1.4.8. Nguyên tắc điều trị viêm phổi do vi khuẩn
1.4.8.1. Điều trị căn nguyên
Việc lựa chọn kháng sinh phụ thuộc căn nguyên gây bệnh. Tốt nhất là
biết rõ tác nhân gây bệnh, mức độ cảm thụ của tác nhân gây bệnh với kháng
sinh, mức độ nặng của bệnh. Đối với viêm phổi nặng đường dùng kháng sinh
tốt nhất là tĩnh mạch. Thời gian sử dụng kháng sinh thường từ 7 đến 14 ngày.

- Bệnh phẩm là dịch mũi họng:
Ở trẻ bình thường có thể có vi khuẩn cư trú tại vùng mũi họng nên bệnh
phẩm này có độ đặc hiệu không cao. Vi khuẩn được coi là căn nguyên gây
bệnh nếu như cao trội hơn hẳn các vi khuẩn khác [35].
- Bệnh phẩm là đờm:
Thường lấy bệnh phẩm đờm vào buổi sáng sớm. Chọn chỗ đờm nghi
ngờ để xét nghiệm. Đặt ống thông dạ dày hút dịch vị chứa đờm, được dùng để
21
tìm vi khuẩn lao nhờ tính chất kháng cồn, kháng toan của vi khuẩn này.
- Bệnh phẩm dịch khí quản:
Dịch thu được bằng hút qua ống nội khí quản. Bệnh phẩm lấy bằng
phương pháp này để phân lập vi khuẩn có độ đặc hiệu khá cao (80-90%) [37].
Bình thường đường hô hấp dưới không có vi khuẩn gây bệnh, khi phân lập vi
khuẩn thì gần như chắc chắn đó là nguyên nhân.
- Bệnh phẩm dịch rửa phế quản phế nang:
Bệnh phẩm dịch phế quản, dịch rửa phế quản phế nang thu được qua
nội soi phế quản có giá trị rất cao trong xác định nguyên nhân vi khuẩn gây
bệnh. Độ nhạy lớn (70-80%) đặc biệt độ đặc hiệu rất cao (90-95%) là ưu điểm
của phương pháp này [37]. Kết quả phân lập vi khuẩn, nếu dương tính thì có
giá trị gần như tuyệt đối, hầu như không có dương tính giả [35].
- Bệnh phẩm là dịch phổi thu được khi chọc qua thành ngực:
Về lý thuyết, bệnh phẩm này đáng tin cậy nhất để xác định căn nguyên
vi khuẩn gây bệnh viêm phổi trẻ em. Độ nhạy của phương pháp này từ 30-
50%, độ đặc hiệu lên đến 96-98%. Nhưng thực tế ít được áp dụng do kỹ thuật
phức tạp, nhiều tai biến và kim chọc có thể không đúng vị trí tổn thương.
Các nguyên nhân gây viêm phổi ở trẻ em rất đa dạng, song một số
nghiên cứu chỉ ra một số loại vi khuẩn chủ yếu sau:
* Nhóm vi khuẩn Gram dương:
- Streptococcus pneumoniae: Năm 1883 Talamon phân lập được
S.pneumoniae từ đờm và dịch chọc hút phổi và máu của những bệnh nhân

sự kết hợp của đặc tính phát triển cần các yếu tố có ở máu (haemophilus: ưa
máu) và có mối liên quan lịch sử với cúm (influenzae) của vi khuẩn.Về hình
23
thể H.influenzae có kích thước khoảng 1-1.5µm, có vỏ mang tính kháng
nguyên tạo ra được kháng thể đặc hiệu với 6 typ huyết thanh từ a đến f. Trong
đó 95% chủng gây bệnh là typ b.
Đặc điểm nuôi cấy như sau:
Là cầu trực khuẩn nhỏ mảnh đa dạng, bắt màu Gram âm, khuẩn lạc
trong xám nhẹ, óng ánh khi chiếu sáng, không gây tan huyết.
+ Phát triển thuần nhất trên môi trường chọn lọc (thạch chocolate có
Bacitracin).
+ Phát triển được cần có đủ yếu tố X và V
+ Định typ huyết thanh: các chủng gây bệnh hầu hết thuộc typ b (nếu
điều kiện không có kháng huyết thanh đặc hiệu, không đòi hỏi phải xác định
tiêu chuẩn này).
Tổn thương mô bệnh học của viêm phổi do H.influenzae thường có tính
chất lan tỏa không khu trú thành từng thùy hay phân thùy [59]. Hình ảnh tế bào
biểu mô hư hoại hàng loạt, tổ chức xen kẽ xung huyết, thâm nhiễm rất nhiều tế
bào như bạch cầu đa nhân, lympho bào. Biểu hiện lâm sàng viêm phổi do
H.influenzae rất đa dạng. H.influenzae hay gây viêm phổi ở trẻ dưới 3 tuổi, nhất
là những bệnh nhân có tình trạng thiếu hụt hay suy giảm miễn dịch [27].
- Moraxella catarrhalis: Được Morax phát hiện đầu tiên vào năm1896,
Là vi khuẩn song cầu khuẩn Gram âm, có khả năng đề kháng cao với các KS
nhóm beta-lactam, hiện nay M.catarrhalis được coi là tác nhân gây viêm phổi
đứng hàng thứ 3 sau S.pneumoniae và H.influenzae. M.catarrhalis gây bệnh
nhờ nội độc tố của nó, vi khuẩn không có khả năng sinh ngoại độc tố và các
enzym ngoại sinh [35], điều kiện thuận lợi để M.catarrhalis gây bệnh là tình
trạng suy giảm miễn dịch, sử dụng corticoid dài ngày. Biến chứng bệnh viêm
phổi do M.catarrhalis có thể là tràn dịch màng phổi, tắc nghẽn phế quản gây
khí phế thũng hay nhiễm khuẩn máu.

Trích đoạn PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CÁC THÔNG SỐ NGHIÊN CỨU Triệu chứng lâm sàng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status