i
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
Lãnh Thị Duyên VĂN HÓA BẢN CỦA NGƢỜI TÀY – NÙNG Ở HUYỆN
SƠN ĐỘNG TỈNH BẮC GIANG (TỪ 1945 ĐẾN 2010)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
ii
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề. 3
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu nghiên cứu: 6
3.1. Mục đích nghiên cứu: 6
3.2. Đối tượng nghiên cứu: 6
3.3. Phạm vi nghiên cứu: 6
3.4. Nhiệm vụ nghiên cứu: 6
4. Nguồn tư liệu: 6
5. Phương pháp nghiên cứu: 7
6. Đóng góp của luận văn: 7
7. Cấu trúc của luận văn: 8
Chƣơng1. Điều kiện địa lý tự nhiên và nguồn gốc của ngƣời Tày- Nùng ở
huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang. 9
1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên. 9
1.2. Một số đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội huyện Sơn Động. 13
1.2.1. Kinh tế: 13
1. 2.2. Văn hoá xã hội và truyền thống: 16
1. 3. Nguồn gốc của người Tày - Nùng ở huyện Sơn Động. 17
1. 3.1. Lịch sử về nguồn gốc và quá trình phát triển của cư dân ở huyện
Sơn Động. 17
1.3.2 Nguồn gốc của người Tày - Nùng ở huyện Sơn Động. 18
Phần kết luận 141
Tài liệu tham khảo 144
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta có 54 thành phần dân tộc cùng cư trú. Mỗi dân tộc đều có
một bản sắc văn hoá riêng. Cùng với những biến động của lịch sử qua dòng
chảy thời gian, văn hoá của mỗi dân tộc cũng vận động và biến đổi theo
những quy luật nhất định, vừa liên tục, vừa đứt đoạn, vừa độc lập, vừa kế thừa
và hoà quyện, đan xen những yếu tố cũ và mới, tuy hoà nhập mà không hoà
tan. Để rồi làm nên những nét độc đáo rất riêng của mỗi dân tộc. Như một
bông hoa rực rỡ sắc hương nhưng không thể nhầm lẫn với một bông hoa nào
khác trong vườn hoa văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.
Với sự phát triển như vũ bão của thế giới về mọi mặt, với xu thế toàn
cầu hoá đã tạo điều kiện cho các quốc gia, các dân tộc trên thế giới có cơ hội
để phát triển toàn diện: Phát triển kinh tế, nâng cao mức sống và thu nhập. Từ
đó có điều kiện để giao lưu và tạo thêm nhiều giá trị văn hoá mới, làm giàu
thêm cho bản sắc văn hoá của dân tộc mình: Vừa đậm đà lại vừa phong phú.
Tuy nhiên, thời cơ đấy mà thách thức cũng là đấy. Bên cạnh sự phát triển là
nhiều nguy cơ trước mắt cũng như nguy cơ tiềm ẩn lâu dài và âm ỉ. Đó là sự
phá hoại của các lực lượng thù địch đang tìm mọi cách thực hiện âm mưu diễn
biến hòa bình. Mà đối tượng chính chúng nhằm vào chính là các dân tộc thiểu
số sinh sống ở những vùng núi cao và những khu vực biên cương của tổ quốc,
nơi mà điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ dân trí và mức hưởng thụ văn hoá
còn thấp. Bởi vậy, mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam và đặc
biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số luôn phải hiểu biết, bảo tồn và phát huy
dân tộc mình tôi hầu như chỉ còn được biết đến qua lời kể của ông bà và
những người cao tuổi. Với tình yêu quê hương, mong muồn giữ gìn và phát
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
huy những bản sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc mình; mong
muốn góp phần nhỏ bé của mình trong việc tìm hiểu những giá trị văn hoá
đang dần mất đi và phát huy những giá trị văn hoá đang còn được bảo tồn của
dân tộc mình nói riêng và các dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung. Tôi
quyết định chọn vấn đề “Văn hoá bản của người Tày - Nùng ở huyện Sơn
Động, tỉnh Bắc giang (từ 1945 đến 2010)” làm đề tài luận văn của mình. Hơn
nữa, tôi là một giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch Sử ở huyện vùng cao Sơn
Động - Nơi có đông đảo đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống đặc biệt là người
Tày - Nùng. Tôi chọn đề tài này để nghiên cứu còn với mục đích phục vụ cho
quá trình giảng dạy lịch sử địa phương, giảng dạy ngoại khoá nhằm giáo dục
cho các thế hệ học sinh lòng tự hào, tình yêu đối với quê hương đất nước, với
dân tộc mình. Đó cũng chính là những mục đích mà luận văn này hướng tới.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Văn hoá là một lĩnh vực tương đối rộng lớn và hấp dẫn đối với những
nhà nghiên cứu. Nói đến văn hóa của người dân tộc thiểu số, chúng ta thấy
rằng đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu hoặc là toàn diện, hoặc ở
những góc độ khác nhau và ở nhiều thời điểm khác nhau. Về vấn đề văn hoá
của người Tày, Nùng cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứư đề cập tới,
như một số công trình sau đây:
- Cuốn “Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt
Nam” của các tác giả Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn do Nxb (Nhà xuất bản)
Khoa học xã hội Hà Nội xuất bản năm 1968. Cuốn sách đã giới thiệu sơ lược
về làng bản và những nét văn hóa truyền thống của người Tày, Nùng.
- Các tác giả Hà Văn Thư, Lã Văn Lô đã biên soạn cuốn “Văn hóa Tày
trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, cuốn sách còn giới thiệu các nghi lễ
phổ biến của người Tày, Nùng như tang ma, lễ cấp sắc, lễ mừng thọ, lễ đầy
tháng…
5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu, bài viết nghiên cứu về văn
hoá dân tộc thiểu số như:
- Phan Hữu Dật với cuốn “Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam”,
Nxb Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản năm 1999.
- Nguyễn Từ Chi với cuốn: “Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc
người”, Nxb Văn hoá Dân tộc, tạp chí Văn hoá nghệ thuật Hà Nội xuất bản
năm 2003…
Nói về văn hoá của người Tày – Nùng ở tỉnh Bắc Giang có bài viết của
tác giả Vi thị Tỉnh: “Nghi lễ vòng đời của dân tộc Nùng thôn Đồng Thuỷ” nói
về nét văn hoá truyền thống đặc sắc của dân tộc Nùng Ở thôn Đồng Thuỷ, xã
Hương Sơn, huyện Lạng Giang ( Bắc giang). Đăng tại Tạp chí Văn hoá thể
thao và du lịch Bắc Giang,số 3-2009…
Những công trình nghiên cứu nói trên nhìn chung đều đã đề cập tới vấn
đề văn hoá ở nhiều khía cạnh khác nhau và đặc biệt chú trọng tới vấn đề văn
hoá dân tộc thiểu số. Riêng những công trình nghiên cứu về văn hoá của
người Tày - Nùng đã góp phần nghiên cứu văn hoá trên phương diện rộng
(phạm vi quốc gia) của hai dân tộc Tày và Nùng, bao gồm cả văn hoá vật chất,
văn hoá tinh thần, văn hóa xã hội. Đồng thời, cũng có những công trình
nghiên cứu về văn hoá trên phương diện hẹp (phạm vi một tỉnh, thậm chí một
xã, một thôn). Ta có thể thấy rằng trong một nền văn hoá chung đó có sự giao
lưu và tiếp biến văn hoá để tạo nên một nền văn hoá vừa phong phú lại vừa
đậm đà bản sắc dân tộc. Tuy nhiên, nói về văn hoá của người dân tộc thiểu số
ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang nói chung và văn hoá của người Tày -
4. Nguồn tƣ liệu:
7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Nguồn tư liệu chung: bao gồm một số sách nghiên cứu về văn hóa của
người Tày, Nùng; các văn kiện Đảng có ý nghĩa chỉ đạo đối với lĩnh vực văn
hóa; các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: tài liệu về dân tộc thiểu
số, tài liệu về kiến trúc, văn hóa dân gian, văn hoá làng xã, tôn giáo
- Nguồn tư liệu địa phương: Các tài liệu tập huấn, tuyên truyền chính
sách dân tộc thiểu số và chính sách 135 đối với đồng bào dân tộc thiểu số
huyện Sơn Động; Lịch sử Đảng bộ huyện Sơn Động; Lịch Sử Đảng bộ các xã.
- Nguồn tư liệu điền dã bao gồm: Hương ước bản làng, gia phả của một
số gia đình người Tày, Nùng. Ngoài ra, còn các tư liệu truyền miệng do các
cụ cao niên ở một số bản làng cung cấp như: Tổ chức làng bản, Tổ chức dân
dã, truyện dân gian, những nghi lễ thờ cúng, những tập tục, các kinh nghiệm
về kỹ thuật nghề truyền thống
Vì là đề tài nghiên cứu về lịch sử địa phương nên có sự hạn chế về
nguồn tài liệu thành văn. Bởi vậy những tài liệu thực địa, điền dã là nguồn tư
liệu phong phú và vô cùng quan trọng mà tôi đặc biệt quan tâm để hoàn thành
luận văn này.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Đề tài vận dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lô gíc;
phương pháp tổng hợp hoá, khái quát hoá; phương pháp phân tích, so sánh,
điền dã; các phương pháp xử lý tư liệu và một số phương pháp cần thiết khác.
6. Đóng góp của luận văn:
Luận văn nghiên cứu về “Văn hoá bản của người Tày – Nùng ở huyện
Sơn Động, tỉnh Bắc Giang (từ 1945 đến 2010)” là công trình đầu tiên nghiên
cứu một cách toàn diện, có hệ thống về văn hoá của người Tày - Nùng ở địa
phương này. Từ đó thấy được những đặc điểm tương đồng, vai trò quan trọng
0
41’11” đến 107
0
,02’40”kinh độ đông.
Từ 21
0
08’46” đến 21
0
30’28” vĩ độ bắc.
Phía bắc của huyện giáp với huyện Lộc Bình của tỉnh Lạng Sơn. Phía
nam giáp huyện Ba Chẽ, Hoành Bồ, Đông Triều của tỉnh Quảng Ninh. Phía
đông giáp huyện Đình Lập của tỉnh Lạng Sơn, phía tây giáp huyện Lục Ngạn,
Lục Nam của tỉnh Bắc Giang.[Hình 1.2]
Trung tâm huyện lỵ là thị trấn An Châu nằm trên ngã ba quốc lộ 31 và
279, cách thị xã Bắc Giang 80 km
2
về phía đông bắc.
Ngày 13-2-1909, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập
huyện Sơn Động gồm ba tổng cắt ra từ huyện Lục Ngạn:
Tổng Biển Động (được sáp nhập thêm xã Phúc Thắng thuộc tổng An
Châu, tỉnh Quảng Yên).
Tổng Niên Sơn (được sáp nhập thêm toàn bộ đất đai đồn điến Schnaider
nằm ven bờ sông Lục Nam tuộc tổng Trù Hựu).
Tổng Hả Bộ gồm bảy xã: Giá Sơn, Hả Bộ, Hộ Đáp, Hữu Bằng, Kỷ
Công, Phúc Lập, Xuân Trí.
Huyện lỵ đặt tại Biển Động.
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
bao gồm một phần của tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh và huyện Lục Ngạn ngày
nay.
Với vị trí địa lý của huyện Sơn Động như vậy đã khiến nơi đây trở
thành địa bàn chiến lược quan trọng đối với mọi thời kỳ lịch sử cũng như
trong tương lai và không chỉ đối với lĩnh vực kinh tế mà còn đối với lĩnh vực
chính trị, quân sự…Bởi vị trí tiếp giáp với các tỉnh có biên giới với Trung
Quốc. Từ Sơn Động có thể dễ dàng xuôi về Hà Nội và sang Trung Quốc.
ngoài ra còn có nhiều trục đường để có thể thông thương dễ dàng với các tỉnh
lân cận.
Xét về điều kiện tự nhiên: Sơn Động là nơi có địa hình núi non trùng
điệp, đa số diện tích đất của huyện là đồi núi, chủ yếu là núi cao, dốc dần từ
đông bắc xuống tây nam với độ dốc khá lớn, đặc biệt là các xã nằm ven dãy
núi Yên Tử như: Thanh Sơn, Thanh Luận và các xã có vị trí tiếp giáp với
huyện Đình Lập, Lộc Bình ( Lạng Sơn) như: Hữu Sản, Vân Sơn, Thạch Sơn,
bình quân trên 25độ. Độ cao trung bình của huyện là 450 m so với mặt nước
biển, cao nhất là đỉnh núi Yên Tử (1.068m), thấp nhất (52 m) thuộc khu vực
thung lũng sông Lục nam. Giữa các triền núi là những cánh đồng nhỏ hẹp, tuy
vậy cũng khá thuận lợi cho việc trồng lúa nước. Với những điều kiện như trên,
có thể nói Sơn Động là địa bàn rất phù hợp với đặc điểm sinh sống, tập quán
canh tác của đồng bào dân tộc thiểu số. Vì vậy, Sơn Động là nơi tập trung rất
nhiều đồng bào dân tộc thiểu số có nguồn gốc khác nhau, trong đó đa phần là
người Tày và Nùng.
Sơn Động ở cách biển không xa, nhưng do bị án ngữ bởi dãy núi Yên
Tử ở phía nam nên có đặc điểm khí hậu lục địa vùng núi. Nhiệt độ trung bình
hàng năm là 22,6
0
C. Nhiệt độ trung bình cao nhất 32,9
0
C, nhiệt độ trung bình
Sông suối trong huyện chiếm 1,53% diện tích tự nhiên (1.292km). Trên
địa bàn huyện có một sông chính chảy qua, đó là sông Lục Nam hay dân địa
phương còn gọi là sông Bè, sông Dông. Thượng nguồn sông Lục Nam bắt
nguồn từ Đình Lập ( Lạng Sơn), chảy vào Sơn Động ở Hữu Sản, An Lạc qua
địa phận huyện Sơn Động khoảng 40km. Từ Hữu Sản, Khe Rỗ ( An Lạc) sông
13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
chảy theo hướng đông bắc – tây nam, đến Lệ Viễn đổi hướng đông – tây chảy
qua An Lập, An Châu, An Bá Yên Định rồi hợp lưu với ba nhánh sông khác
đó là: Sông Rãng, Sông Cẩm Đàn và sông Tuấn Đạo.
Mạng lưới giao thông của huyện chỉ có hệ thống đường bộ, được phân
bố tương đối hợp lý. Toàn huyện có 543 km đường bộ, bình quân 0,64km/km
2
đất tự nhiên, bao gồm:
Đường quốc lộ có hai tuyến dài 63 km:
Quốc lộ 31 (trước đây là quốc lộ 13B) từ Cẩm Đàn qua thị trấn An
Châu đến Hữu Sản sang Lạng Sơn.
Quốc lộ 279 từ xã An Châu đi Quảng Ninh
Đó là hai tuyến đường quan trọng để đồng bào các dân tộc huyện Sơn
Động có thể dễ dàng giao lưu Kinh tế, văn hóa với các tỉnh Lạng Sơn, Quảng
Ninh – nơi có đông đảo đồng bào Tày và Nùng sinh sống. Từ xa xưa, người
Tày – Nùng từ hai tỉnh này đã vượt qua đèo Hạ Mi, đèo Trinh (ngăn cách giữa
xã Long Sơn của huyện Sơn Động và Tỉnh Quảng Ninh), đèo Hữu Sơn (ngăn
cách giữa xã Hữu Sản của huyện Sơn Động Với tỉnh Lạng Sơn) để đến với
những vùng đất khác nhau của huyện Sơn Động để làm ăn, sinh sống. [8, tr.9-
10]
1.2. Một số đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội huyện Sơn Động.
1.2.1. Kinh tế:
Đồng Rì, công ty khai thác than Đồng Rì, công ty may ở An Lập, nhà máy sản
xuất bột giấy Cẩm Đàn….
Dịch vụ cũng đang là một ngành kinh tế phát triền khá nhanh. Nếu
trước công cuộc đổi mới 1986 dịch vụ còn kém phát triển, hàng hoá ở Sơn
Động còn rất khan hiếm thì hiện nay các loại hình dịch vụ phục vụ cho nhu
cầu của nhân dân được phát triển ở khắp mọi nơi, với lượng hàng hoá vô cùng
15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
phong phú đến tận những vùng sâu, xa nhất, đảm bảo cho cuộc sống và sinh
hoạt của người dân.
Lao động: Tính đến cuối năm 2008, toàn huyện có 45.554 lao động
trong độ tuổi.
Trong những năm qua, đồng bào nhân dân các dân tộc trong huyện đã
được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư nhiều các chương trình, dự án. Đặc
biệt, đồng bào các dân tộc thiểu số đã được hưởng lợi đầu tư trực tiếp từ các
chương trình trợ giá, trợ cước; chương trình 134, 135; hỗ trợ lãi suất; dự án
giảm nghèo…Chỉ tính từ năm 1999 trở lại đây, toàn huyện đã huy động được
gần 175 tỷ đồng đầu tư cho các công trình cơ sở hạ tầng như điện, đường,
trường, trạm tại các xã khu vực đặc biệt khó khăn góp phần tạo nên một diện
mạo mới của vùng cao, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của địa
phương. Song song với việc lưu giữ bản sắc văn hoá truyền thống, các hủ tục
trong việc cưới, việc tang đã được loại bỏ. Trong phát triển kinh tế gia đình bà
con cũng đã nhanh chóng tiếp thu và ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất có hiệu quả. Nhờ đó, đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu
biểu trong phát triển kinh tế là người dân tộc thiểu số.
Phương hướng và giải pháp đối với công tác dân tộc thời gian tới là:
Tăng cường tuyên truyền sâu rộng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước đối với đồng bào dân tộc; tích cực xây dựng khối đại đoàn kết các dân
đậm sắc thái dân tộc như đàn tính và hát then của dân tộc Tày ở Vân Sơn; hát,
múa soong hao của dân tộc Nùng ở các xã khu Cẩm Đàn; kèn gọi bạn của
người Dao ở Hữu Sản, Thanh Sơn…Được sự quan tâm của các cấp Uỷ, Đảng,
chính quyền và các tổ chức xã hội, những đặc trưng văn hoá của mỗi dân tộc
đã và đang được bảo tồn, gìn giữ để phục vụ cho sinh hoạt tinh thần của nhân
dân và làm giàu thêm kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam.
17
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Từ xa xưa, nhân dân các dân tộc huyện Sơn Động đã luôn luôn đoàn kết
giúp đỡ nhau để đấu tranh với thiên nhiên, sát cánh bên nhau trong các cuộc
kháng chiến chống kẻ thù xâm lược.
Ngày nay, nhân dân các dân tộc huyện Sơn Động đang tiến hành công
cuộc đổi mới nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên quê hương,
thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh.
1. 3. Nguồn gốc của ngƣời Tày - Nùng ở huyện Sơn Động.
1. 3.1. Lịch sử về nguồn gốc và quá trình phát triển của cƣ dân ở
huyện Sơn Động.
Nói về nguồn gốc loài người, tại huyện Sơn Động năm 1975 các nhà
khảo cổ học đã phát hiện những hiện vật thời đá cũ ở xóm Khe Táu (xã Yên
Định), đó là 11 di vật bằng đá cuội quartriote. Đây là những công cụ chặt, đập
được chế tác bằng đá cuội gồm công cụ có biên lưỡi theo chiều ngang, theo
hình cánh cung, công cụ lưỡi vát hình chữ V. Tại xã An Châu thu được bốn
công cụ bằng đá quartiote và đá cuội xa thạch dạng tam giác có rìa cạnh, rìa
lưỡi, lưỡi vát, rừu đá ở Mai Sưu, Vô Tranh ( trước đây thuộc Sơn Động, nay
thuộc Lục Nam) thuộc thời đá mới.
Những phát hiện khảo cổ học đó đã chứng minh con người có mặt ở
Sơn Động từ khá sớm.
Nói về nguồn gốc của người Tày và Nùng đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu và tựu chung, các công trình nghiên cứu đều cho thấy người Tày
và người Nùng vốn có chung nguồn gốc, cùng thuộc ngữ hệ Tày – Thái, cùng
nằm trong khối Bách Việt. Chính vì vậy, quá trình phát triển trong lịch sử của
người Tày và Nùng cũng có nhiều nét tương đồng.
19
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Bắc Giang có vị trí tiếp giáp và có đường giao thông qua lại với các tỉnh
miền núi phía Đông Bắc từ lâu đời, lại có địa hình đồi núi xen cài. Trước đây
là vùng đất còn rộng, người thưa, có địa hình phù hợp với lối canh tác truyền
thống của các dân tộc thiểu số ở miền núi. Do đó, Bắc Giang là địa bàn lý
tưởng, là điểm dừng chân cho các dân tộc ít người đến sinh sống sau các cuộc
di cư, đặc biệt là người Tày và Nùng. Người Tày - Nùng chiếm số lượng rất
đông đảo ở Bắc Giang. Theo số liệu của cuộc tổng điều tra dân số ngày 1-4-
2009, Bắc Giang có hơn 190.000 người dân tộc thiểu số. Trong đó người Tày
- Nùng chiếm đa số. Cụ thể: Dân tộc Nùng có 72.932 người, chiếm 38,2%;
Dân tộc Tày có 39.603 người, chiếm 20,53% tổng số dân ở Bắc Giang.
Về quá trình di cư của người Tày - Nùng đến Bắc Giang, theo Địa chí
Bắc Giang thì vào những năm đầu thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, người Tày,
Nùng di cư từ Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh đến Bắc Giang,
tập trung ở các huyện Yên Thế, Lạng Giang, Lục Nam, Sơn Động.
Do có vị trí tiếp giáp nên người Tày - Nùng ở Sơn Động chủ yếu được
di cư tới từ các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh. Gia phả dòng họ Vi ở xã Vân Sơn
(Sơn Động) cho thấy: Dòng họ vi, dân tộc Tày đã di cư từ huyện Đình Lập
(Lạng Sơn) tới Sơn Động cách nay 4 đời; Những người cao tuổi dòng họ Lãnh
(trước đây là họ Lục, do hoàn cảnh lịch sử nên đã đổi thành họ Lãnh), dân tộc
Tày ở xã Cẩm Đàn cũng cho biết: Dòng họ này đã di cư từ huyện Lộc Bình ( Lạng
Sơn) cách nay 4 đời. Dòng họ Lâm ở bản Khuôn Mười, Xã Cẩm Đàn (Sơn
cho công tác và cuộc sống mưu sinh.
Tuy là hai dân tộc nhưng tại các bản có người Tày - Nùng sinh sống
đan xen, đồng bào Tày - Nùng sống với nhau rất hoà hợp và đoàn kết. Do đó
đã tạo nên sự giao thoa văn hoá hết sức độc đáo.
21
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
BẢNG THỐNG KÊ CÁC DÂN TỘC HUYỆN SƠN ĐỘNG
STT
Đơn vị
Dân
số
Kinh
Tày
Nùng
Cao
lan
Sán
chí
Dao
Sán
dìu
Hoa
Mƣờng
Khơ
me
Thái
1
776
114
1.116
835
157
1
1
1
1
1
4
Cẩm Đàn
3.254
849
959
1.186
213
9
16
22
5
Yên Định
4.350
1.253
917
3
11
10
25
3
4
8
An Lập
4.574
3.956
377
179
46 15
1
9
Lệ Viễn
3.686
1.067
185
11
46
2.371
1
12
An Lạc
3.466
779
2.202
13
71
326
25
47
3 13
Hữu Sản
2.186
60
1.975
2
9
128
10
1
1
Thanh Luận
2.412
2336
44
4
9
10
2
4
3
17
Tuấn Mậu
2.068
816
9
42
11
3
1.187 18
Bồng Am
960
1
12
134
184
1
21
Phúc Thắng
1.296
616
223
434
4
16
1
1
1
22
TT.Thanh Sơn
2.648
2.584
7
16
19
131
1.193
15
9
10
Phần trăm
51,1
20,4
8,1
8,4
4,8
5,3
0,18
1,7
0,02
0,01
0,01
( Nguồn: Số liệu thống kê số khẩu các dân tộc trong xã năm 2010, Phòng
Thống kê huyện Sơn Động).