Đánh giá thực trạng môi trường một số làng nghề tái chế kim loại tại huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên - Pdf 22


Số hóa bởi trung tâm học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Số hóa bởi trung tâm học liệu

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ THỊ THU HƢỜNG ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MÔI TRƢỜNG MỘT
SỐ LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ KIM LOẠI TẠI
HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƢNG YÊN

Chuyên ngành: Khoa học môi trƣờng
Mã số: 60 44 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG

Người hướng dẫn khoa học:
TS. HOÀNG HẢI


Vũ Thị Thu Hƣờng
Số hóa bởi trung tâm học liệu

ii
LỜI CAM ĐOAN

Sau một thời gian nghiên cứu, thu thập số liệu, điều tra khảo sát thực
trạng môi trường một số làng nghề tái chế kim loại tại huyện Văn Lâm tỉnh
Hưng Yên. Luận văn “Đánh giá thực trạng môi trường một số làng nghề tái
chế kim loại tại huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên” đã hoàn thành đúng thời hạn
được giao.
Tôi xin cam kết rằng nội dung luận văn này chưa được sử dụng cho bất
kì một chương trình cấp bằng cao học nào cũng như bất kỳ một chương trình
đào tạo cấp bằng nào khác. Các nguồn số liệu, tài liệu đưa ra trong luận văn là
hợp pháp, trung thực, rõ ràng. Các nhận định, kết luận trong luận văn là của
chính tác giả.
Tác giả


1.2.1. Các nghiên cứu về làng nghề nói chung 9
1.2.1.1. Các khái niệm về làng nghề 9
1.2.1.2. Quá trình hình thành của làng nghề ở Việt Nam 11
1.2.1.3. Sự phát triển đa dạng của các loại hình làng nghề ở Việt Nam 12
1.2.1.4. Đặc điểm môi trường làng nghề 13
1.2.2. Các nghiên cứu về làng nghề tái chế phế liệu 14
1.2.2.1. Đặc điểm các làng nghề tái chế phế liệu 14
1.2.2.2. Ô nhiễm môi trường không khí tại các làng nghề tái chế 16
1.2.2.3. Ô nhiễm môi trường nước tại các làng nghề tái chế 17
1.2.2.4. Ô nhiễm môi trường đất tại các làng nghề tái chế 17
1.3. Các quy định về quản lý môi trường làng nghề ở Việt Nam 19
1.3.1. Khái niêm về quản lý môi trường 19
1.3.1.1. Định nghĩa của quản lý môi trường 19
1.3.1.2. Nội dung của quản lý môi trường 19
1.3.1.3. Mục tiêu của quản lý môi trường 20
1.3.2. Cơ sở pháp lý của công tác quản lý môi trường 21
1.3.2.1. Cơ sở pháp lý của công tác quản lý môi trường 21
1.3.2.2. Cơ sở pháp lý của công tác quản lý môi trường làng nghề tái chế 22
1.3.3. Thực trạng công tác quản lý môi trường ở làng nghề 23
1.4. Khái quát về công nghệ xử lý chất thải của làng nghề 25
1.4.1. Đặc điểm công nghệ xử lý chất thải 25
1.4.1.1. Công nghệ xử lý chất thải rắn 25

Số hóa bởi trung tâm học liệu

iv
1.4.1.2. Công nghệ xử lý chất thải khí 26
1.4.1.3. Công nghệ xử lý chất thải lỏng 27
1.4.1.4. Phương pháp sử dụng thực vật tích tụ 27
1.4.2. Các loại công nghệ xử lý chất thải làng nghề tái chế 27

3.2. Thực trạng sản xuất và nguồn gốc phát sinh chất thải của các làng nghề
tái chế kim loại 36

Số hóa bởi trung tâm học liệu

v
3.2.1. Thực trạng sản xuất 36
3.2.2. Nguồn phát sinh chất thải sinh hoạt 38
3.2.3. Chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất 40
3.2.3.1. Làng nghề Đông Mai, xã Chỉ Đạo 40
3.2.3.2. Làng nghề Lộng thượng, xã Đại Đồng 44
3.2.3.3. Làng nghề Xuân Phao, xã Đại Đồng 47
3.3. Hiện trạng môi trường tại các làng nghề tái chế kim loại 48
3.3.1. Hiện trạng môi trường làng nghề Đông Mai, xã Chỉ Đạo 48
3.3.1.1. Môi trường không khí 48
3.3.1.2. Môi trường nước 50
3.3.2. Hiện trạng môi trường xã Đại Đồng 54
3.3.2.1. Môi trường không khí 54
3.3.2.2. Môi trường nước 57
3.4. Tác động của hoạt động tái chế đến sức khoẻ của người dân 60
3.5. Hiện trạng và giải pháp tăng cường công tác quản lý môi trường các làng
nghề 64
3.5.1. Các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của các làng
nghề 64
3.5.2. Nhân lực, cơ sở vật chất cho bảo vệ môi trường các làng nghề 66
3.5.3. Tình hình thu gom, xử lý chất thải tại các làng nghề 68
3.5.4. Giải pháp tăng cường công tác quản lý môi trường làng nghề 69
3.5.4.1. Hoàn thiện bộ máy quản lý môi trường đối với làng nghề 69
3.5.4.2. Hoàn thiện thể chế, tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ
môi trường 70
Số hóa bởi trung tâm học liệu

vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Các xu thế phát triển của làng nghề Việt Nam đến năm 2015 12
Bảng 1.2. Đặc trưng ô nhiễm từ sản xuất của một số loại hình làng nghề 14
Bảng 1.3. thống kê số lượng làng nghề tái chế phế liệu ở Việt Nam 15
Bảng 1.4. Các sản phẩm chính của làng nghề tái chế phế liệu 15
Bảng 1.5. Tải lượng ô nhiễm do đốt than tại làng nghề tái chế 17
Bảng 1.6. Hàm lượng tổng số kim loại nặng trong đất do ảnh hưởng của tái
chế kim loại 18
Bảng 1.7. Các loại thực vật phổ biến có thể dùng để xử lý kim loại nặng 27
Bảng 2.1. Vị trí, số lượng thời gian lấy mẫu lần 1 32
Bảng 2.2. Vị trí, số lượng thời gian lấy mẫu lần 2 33
Bảng 3.1. Tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại các hộ gia đình 39
Bảng 3.2. Tỷ lệ phần trăm các nguyên tố của nguyên liệu 46
Bảng 3.3. Tải lượng khí thải phát sinh của làng Xuân Phao 47
Bảng 3.4. Chất lượng môi trường không khí xung quanh đợt 1 48
Bảng 3.5. Chất lượng môi trường không khí xung quanh đợt 2 49
Bảng 3.6. Chất lượng nước mặt thôn Đông Mai đợt 1 50
Bảng 3.7. Chất lượng nước mặt thôn Đông Mai đợt 2 51

Hình 3.10. Biểu đồ so sánh Coliform tại 2 điểm qua 2 lần lấy mẫu nước mặt 53
Hình 3.11. Biểu đồ so sánh nồng độ bụi tại 3 điểm qua 2 lần lấy mẫu 56
Hình 3.12. Biểu đồ so sánh BOD5 tại 2 điểm qua 2 lần lấy mẫu nước mặt 59
Hình 3.13. Biểu đồ so sánh Coliform tại 2 điểm qua 2 lần lấy mẫu nước mặt . 60
Hình 3.14. Sơ đồ quản lý môi trường làng nghề tái chế kim loại 66
Hình 3.15. Hệ thống thu gom và vận chuyển chất thải 68
Hình 3.16. Xây dựng cơ cấu hệ thống quản lý môi trường cấp xã 70 Số hóa bởi trung tâm học liệu

1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Môi trường là một hệ thống mở luôn chịu tác động của thiên nhiên và
hoạt động của con người, khi sự cân bằng trong môi trường không được thiết
lập nữa sẽ gây ra hiện tượng ô nhiễm, mà ảnh hưởng của nó tác động trực tiếp
tới đời sống và hoạt động sản xuất của con người.
Việt Nam hiện nay đang nằm trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Chúng ta đã đặt ra mục tiêu phát triển kinh tế là ưu tiên hàng
đầu nên vấn đề bảo vệ môi trường đang bị xem nhẹ, đặc biệt là đối với môi
trường làng nghề nói chung và làng nghề tái chế kim loại nói riêng.
Các làng nghề có tác dụng rất lớn đối với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế
khu vực nông thôn, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân lao động.

2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được hiện trạng môi trường tại một số làng nghề tái chế kim
loại của huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý môi trường tại một số làng nghề
tái chế kim loại của huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
- Đề xuất giải pháp tăng cường công tác quản lý môi trường tại các làng
nghề tái chế kim loại trên địa bàn huyện.
3. Yêu cầu nghiên cứu
- Điều tra đánh giá chính xác hiện trạng môi trường của từng làng nghề
được nghiên cứu;
- Điều tra đánh giá chính xác thực trạng quản lý môi trường của từng
làng nghề được nghiên cứu;
- Đưa ra được các đề xuất, giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý
môi trường phù hợp thực tiễn ở từng làng nghề tái chế kim loại tại huyện Văn
Lâm, tỉnh Hưng Yên.
- Số liệu thu thập phải trung thực, khách quan, chính xác.
4. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:

Số hóa bởi trung tâm học liệu

3
+ Vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế;
+ Nâng cao kiến thức và hiểu biết về công tác đánh giá và quản lý môi
trường nói chung, về môi trường các làng nghề tái chế kim loại nói riêng để
phục vụ cho học tập và nghiên cứu sau này.
- Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần giải quyết phần nào vấn đề ô nhiễm môi
trường các làng nghề tái chế kim loại, cải thiện cảnh quan môi trường và nâng
cao chất lượng cuộc sống cộng đồng của người dân trên địa bàn huyện Văn
Lâm.


Số hóa bởi trung tâm học liệu

4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Khái quát về làng nghề
1.1.1. Trên thế giới
Trên thế giới, từ những năm đầu của thế kỷ XX cũng có một số công
trình nghiên cứu có liên quan đến làng nghề như: “Nhà máy làng xã” của
Bành Tử (1922); “Mô hình sản xuất làng xã” và “Xã hội hóa làng thủ công”
của N.H.Noace (1928). Năm 1964, tổ chức WCCI (World crafts council
International – Hội đồng Quốc tế về nghề thủ công thế giới) được thành lập,
hoạt động phi lợi nhuận vì lợi ích chung của các quốc gia có nghề thủ công
truyền thống.
Đối với các nước châu Á, sự phát triển kinh tế làng nghề truyề
, Ấn Độ, Thái Lan.
Trung Quốc sau thời kỳ cải cách mở cửa năm 1978, việc thành lập và duy trì
Xí nghiệp Hương Trấn, tăng trưởng với tốc độ 20 – 30 % đã giải quyết được
12 triệu lao động dư thừa ở nông thôn. Hay Nhật Bản, với sự thành lập “Hiệp
hội khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống” là hạt nhân cho sự nghiệp
khôi phục và phát triển ngành nghề có tính truyền thống dựa theo “Luật nghề
truyền thống” [21].
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề làng nghề được đề cập đến qua nhiều thời kỳ, với
những khía cạnh và các mục đích khác nhau.
Trên khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội có nhiều công trình nghiên cứu
về làng nghề ở nhiều cấp:
Một số công trình như: “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam”
[Bùi Văn Vượng, 1998]. Tác giả đã tập trung trình bày các loại hình làng

trường cho từng loại hình làng nghề của Việt Nam.

Số hóa bởi trung tâm học liệu

6
Qua nghiên cứu của tác giả, "100% mẫu nước thải ở các làng nghề
được khảo sát có thông số vượt tiêu chuẩn cho phép. Môi trường không khí bị
ô nhiễm có tính cục bộ tại nơi trực tiếp sản xuất, nhất là ô nhiễm bụi vượt tiêu
chuẩn cho phép (TCCP) và ô nhiễm do sử dụng nhiên liệu than củi. Tỷ lệ
người dân làng nghề mắc bệnh cao hơn các làng thuần nông, thường gặp ở
các bệnh về đường hô hấp, đau mắt, bệnh đường ruột, bệnh ngoài da. Nhiều
dòng sông chảy qua các làng nghề hiện nay đang bị ô nhiễm nặng; nhiều
ruộng lúa, cây trồng bị giảm năng suất do ô nhiễm không khí từ làng nghề".
Nghiên cứu của PGS.TS Đặng Kim Chi cùng các cộng sự tại 3 làng
nghề Bắc Ninh cho thấy môi trường xung quanh các làng nghề đã bị ô nhiễm
ngày càng trầm trọng. Tại làng nghề sản xuất giấy Dương Ổ (Phong Khê –
Bắc Ninh): nồng độ CO cao hơn 5mg/l so với TCCP (28 – 36 mg/l). Bụi ở
khu vực dân cư có nồng độ cao hơn TCCP từ 1,3 đến 3 lần. CO tại khu vực
sản xuất cao gấp 2 lần TCCP, tiếng ồn cao hơn TCCP từ 3 – 10 dbA; tại làng
nghề tái chế sắt thép Đa Hội: Không khí xung quanh khu vực hộ gia đình sản
xuất cao lớn hơn TCCP 12 lần, tiếng ồn lớn hơn 28 lần TCCP, bụi hơn 6 lần,
nhiệt độ lớn hơn nhiệt độ không khí từ 4 – 5
0
C; làng nghề tái chế nhựa Minh
Khai: nồng độ bụi lớn hơn TCCP 1h và 24h là 1- 4 lần và 3 - 6 lần, nồng độ
HCl cao hơn TCCP 1,6 lần.
Bên cạnh đó còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu của các tác giả
khác về tình trạng môi trường và sức khỏe tại các làng nghề:
Nghiên cứu về “Những vấn đề về sức khỏe và an toàn trong các làng
nghề Việt Nam”, các tác giả Nguyễn Thị Hồng Tú, Nguyễn Thị Liên Hương,

nước thải/ngày với hàm lượng
coliform lớn hơn TCCP hơn 100 lần. (nước thải có chứa chủ yếu là xút, thuốc
thẩy, phèn kép, nhựa thông, phẩm màu).
Những đề tài này nhìn chung đã giải quyết được vấn đề lý luận cơ bản
về các làng nghề, hiện trạng và xu hướng phát triển, vấn đề ô nhiễm môi
trường và một số giải pháp. Nhưng các đề tài đi sâu vào một làng nghề nào đó
thì hầu như chưa nghiên cứu một cách toàn diện nhất. Mỗi khu vực làng nghề
có những điều kiện và thực tế khác nhau cho sự phát triển và bảo
nhau, vì vậy việc nghiên cứu cụ thể, chi tiết để có thể đánh giá toàn diện về
tiềm năng, thực trạng cũng như xu hướng của các làng nghề có ý nghĩa quan
trọng cả về khoa học và thực tiễn.

Số hóa bởi trung tâm học liệu

8
Nghiên cứu về các giải pháp: Hiện tại, đối với mỗi công trình nghiên
cứu về vấn đề môi trường làng nghề ít nhiều đều có đề cập đến các giải pháp
khác nhau nhằm cải thiện và bảo vệ môi trường, hướng tới sự phát triển bền
vững.
Tổng quát nhất có lẽ phải đề cập đến cuốn “Làng nghề Việt Nam và
môi trường” của Đặng Kim Chi và các cộng sự. Dựa trên cơ sở đã nghiên cứu
tổng quan về đặc điểm cũng như thực trạng sản xuất, hiện trạng môi trường các
làng nghề, tác giả đã đi đến các giải pháp chung nhất cho từng loại hình làng
nghề. Ở đây cũng đề cập đến việc định hướng xây dựng một số chính sách đảm
bảo phát triển làng nghề bền vững (như các chính sách về hỗ trợ tài chính,
chính sách về thị trường, về cơ sở hạ tầng, giáo dục môi trường…). Qua đó đề
xuất các giải pháp, nhìn chung tập trung vào hai nhóm chính là giải pháp kỹ
thuật và giải pháp quản lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho các làng
nghề. Các giải pháp này được đề cập cụ thể hơn trong “Đề tài nghiên cứu cơ sở
khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết

khuyến khích cho các làng nghề phát triển về nhiều mặt.
1.2 Các nghiên cứu về môi trƣờng làng nghề
1.2.1. Các nghiên cứu về làng nghề nói chung
1.2.1.1. Các khái niệm về làng nghề
Làng nghề là danh từ được nhắc tới thường xuyên hiện nay trên các
phương tiện thông tin đại chúng, tuy nhiên hiện nay chưa có một định nghĩa
thống nhất về làng nghề mà “chấp nhận” như một phạm trù trong văn hoá.
“Làng” là một phạm trù lịch sử và văn hoá có sự thay đổi từ thời đại
này sang thời đại khác. “Nghề” theo quan điểm chung là các hoạt động sản
xuất tiểu thủ công nghiệp ở địa phương tạo ra được một khối lượng sản phẩm
chiếm lĩnh thị trường thường xuyên và liên tục, những người sản xuất hoặc hộ
sản xuất đó lấy nghề làm là nguồn thu chủ yếu.
Một làng được gọi là làng nghề khi hội tụ 3 điều kiện:

Số hóa bởi trung tâm học liệu

10
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động làng
nghề nông thôn;
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định;
- Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của nhà nước;
Như vậy, không phải bất kỳ làng nào có hoạt động ngành nghề cũng
được gọi là làng nghề mà cần phải tuân theo quy định nhất định [1].
* Làng nghề truyền thống
Theo nghị định 66/NĐ-CP của chính phủ tiêu chí công nhận nghề
truyền thống gồm:
- Nghề đã xuất hiện tại địa phương trên 50 năm tính đến thời điểm đề
nghị công nhận;
- Nghề tạo ra những sản phẩm mang đậm bản sắc dân tộc;
- Nghề gắn liền với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi

góp phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng lao động dư thừa lúc nông
nhàn.
Đa số các làng nghề trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, song
song với quá trình phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá và nông nghiệp của đất
nước. Ví dụ: Làng nghề đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát
triển, làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) đã có gần 500 năm tồn tại, làng nghề
trạm bạc Đồng Xâm (Thái Bình) đã hình thành cách đây hơn 400 năm…
Trước đây, làng nghề sản xuất ra các vật dụng để phục vụ nhu cầu sản
xuất, sinh hoạt của con người trong vùng. Những năm gần đây, trong cơ chế
thị trường làng nghề đang thay đổi nhanh chóng. Hoạt động của làng nghề
hiện nay không chỉ phục vụ cho nhu cầu của con người trong và ngoài vùng
mà còn phục vụ cho hoạt động xuất khẩu và phát triển hoạt động du lịch.
Do điều kiện vị trí địa lý khác nhau nên sự phân bố của làng nghề trong
các vùng là khác nhau. Trên cả nước làng nghề chủ yếu tập trung tại đồng
bằng sông Hồng 60%, miền trung 30% và miền nam là 10%. Hiện nay, quá
trình phát triển kinh tế của đất nước, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của thị trường

Số hóa bởi trung tâm học liệu

12
trong và ngoài nước thay đổi do đó mà những làng nghề phù hợp với thị
trường có xu thế phát triển mạnh, còn những làng nghề không thích ứng có
khả năng bị suy thoái hoặc không phát triển được nữa [1].
Bảng 1.1. Các xu thế phát triển của làng nghề Việt Nam đến năm 2015
Loại hình làng nghề Vùng kinh tế
Dệt
nhuộm,

1
0
Tây Bắc
1
1
0
1
0
Bắc Trung Bộ
1
2
1
2
1
Nam Trung Bộ
2
2
1
2
1
Tây Nguyên
1
0
0
2
1
Đông Nam Bộ
1
1
1

Làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da;
Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá;
Làng nghề tái chế phế liệu;
Làng nghề thủ công mỹ nghệ;
Các nhóm ngành khác[1].
Từ công nghệ sản xuất và loại nguyên liệu tại các làng nghề tái chế chất
thải có thể phân chia 3 nhóm làng nghề tái chế cơ bản gồm:
1. Tái chế giấy;
2. Tái chế kim loại;
3. Tái chế nhựa.
Các làng nghề này đã góp phần nâng cao cuộc sống cho người dân địa
phương, làm phong phú thêm loại hình sản xuất làng nghề.
1.2.1.4. Đặc điểm môi trường làng nghề
Các chất thải phát sinh tại nhiều làng nghề đã và đang gây ô nhiễm, tác
động làm suy thoái môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới sức
khoẻ người dân. Ô nhiễm môi trường ở làng nghề có một số đặc điểm sau:
Ô nhiễm môi trường tại làng nghề là dạng phân tán trong phạm vi một
khu vực (thôn, làng, xã…). Do quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, đan xen với
khu sinh hoạt nên đây là loại hình ô nhiễm khó quy hoạch và kiểm soát.
Ô nhiễm môi trường tại làng nghề mang đậm nét đặc thù của hoạt động
sản xuất theo ngành nghề, loại hình sản phẩm và tác động trực tiếp đến môi
trường đất, nước, không khí trong khu vực.
Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề thường khá cao trong khu vực
sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ người lao động [2].

Số hóa bởi trung tâm học liệu

14
Bảng 1.2. Đặc trƣng ô nhiễm từ sản xuất của một số loại hình làng nghề
Loại hình

- Bụi,CO,hơi kim
loại, hơi axit, Pb,
Zn, HF, HCl, THC.
- COD, SS, dầu
mỡ, CN
-
, kim loại.

- Xỉ than, rỉ sắt,
vụn kim loại nặng.

- Ô nhiễm
nhiệt.
- Tái chế
nhựa
-Bụi, CO, Cl
2
, HCl,
THC, hơi dung môi.
-BOD
5
, COD, SS,
Tổng N, Tổng P,
độ màu, dầu mỡ.
- Nhãn mác, tạp ko
tái sinh, chi tiết
kim loại, cao su.
- Ô nhiễm
nhiệt.
( Nguồn: Đề tài KC 08- 09, 2005)

Miền Nam
Tổng cộng
Số làng nghề tái
chế phế liệu
51
19
1
71
Tỉ lệ (%)
71,83
26,76
1,41
100
(Nguồn: Tổng cục Môi trường, năm 2008)
Mặc dù số lượng các làng tái chế chất thải không lớn chỉ chiếm 4,84%
tổng lượng làng nghề trong cả nước, nhưng tỷ lệ cơ giới hoá cao hơn các làng
khác rất nhiều. Sản phẩm của làng nghề tái chế rất đa dạng về mẫu mã và
phong phú về chủng loại. Do sản xuất nhỏ hộ gia đình, tính tự lập cao và tập
trung trong quy mô làng xã nên rất năng động, linh hoạt trong các khâu.
Việc tiếp cận thị trường, tìm đầu ra cho sản phẩm hoặc tìm hiểu thị
hiếu của người sử dụng được các làng nghề nắm bắt và tận dụng rất nhanh,
linh hoạt, luôn có sự cạnh tranh thị trường giữa các loại hình sản phẩm, tạo
sự đa dạng phong phú các loại hình sản phẩm cũng như chất lượng của sản
phẩm.
Sản phẩm của các làng nghề tái chế phế liệu bao gồm:
Bảng 1.4. Các sản phẩm chính của làng nghề tái chế phế liệu
Stt
Làng nghề
Sản phẩm
Thị trƣờng tiêu thụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status