MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3. Giới hạn nghiên cứu 2
4. Lịch sử nghiên cứu đề tài 3
5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 4
6. Những đóng góp của đề tài 6
7. Bố cục đề tài 6
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
1.1. Các khái niệm và phân loại đất nông nghiệp 7
1.1.1. Khái niệm đất nông nghiệp 7
1.1.2. Phân loại đất nông nghiệp 7
1.2. Vai trò và đặc điểm 8
1.2.1. Vai trò 8
1.2.2. Đặc điểm 9
CHƢƠNG 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG VÀ HIỆN TRẠNG SỬ
DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TỈNH YÊN BÁI 11
2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Yên
Bái 11
2.1.1. Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ 11
2.1.2. Nhân tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 12
2.1.2.1. Địa hình và đất đai 12
2.1.2.2. Khí hậu 13
2.1.2.3. Nước 14
2.1.2.4. Sinh vật 15
2.1.3. Nhân tố kinh tế - xã hội 16
2.1.3.1. Dân cư và nguồn lao động 16
2.1.3.2. Cơ sở hạ tầng - vật chất kỹ thuật 17
2.1.3.3. Đường lối chính sách 19
2.1
Biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2010 - 2012
24
2.2
Diện tích đất trồng cây lương thực có hạt phân bố theo huyện,
thị, thành phố 2005 - 2012
27
2.3
Diện tích đất trồng cây lúa phân bố theo huyện, thị, thành phố
2005 - 2012
29
2.4
Diện tích đât trồng cây ngô phân bố theo huyện, thị, thành phố
31
2.5
Diện tích đât trồng cây sắn phân bố theo huyện, thị, thành phố
giai đoạn 2005 - 2012
33
2.6
Diện tích đât trồng các loại cây rau đậu 2005 - 2012
34
2.7
Diện tích đất trồng cây công nghiệp 2005 - 2012
35
2.8
Diễn biến diện tích đất trồng mía của tỉnh Yên Bái của tỉnh
Yên Bái giai đoạn 2005 - 2012
36
2.9
Diện tích đất trồng lạc, vừng, đậu tương của tỉnh Yên Bái
DANH MỤC HÌNH
STT
Tên hình
trang
2.1
Cơ cấu lao động của tỉnh Yên Bái năm 2012
16
2.2
Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Yên Bái năm 2012
22
2.3
Diện tích đất nông nghiệp tỉnh Yên Bái 2000 - 2012
23
2.4
Biến động diện tích đất sản xuất lương thực giai đoạn 2005 - 2012
26
2.5
Biến động diện tích đất trồng ngô giai đoạn 2005 - 2012
30
2.6
Diễn biến diện tích đất trồng khoai lang giai đoạn 2005 - 2012
32
2.7
Diện tích đất trồng cây công nghiệp hàng năm 2005 - 2012
35
2.8
Diễn biến diện tích đất trồng cây công nghiệp lâu năm 2005 - 2012
STT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
1
FAO
Tổ chức nông lương của Liên Hợp Quốc
2
KT - XH
Kinh tế - xã hội
3
CSHT - VCKT
Cơ sở hạ tầng - vật chất kỹ thuật
4
KH - KT
Khoa học - kỹ thuật
5
GTVT
Giao thông vận tải DANH MỤC BẢN ĐỒ
STT
Bản đồ
Tên bản đồ
1
Bản đồ 1
Bản đồ hành chính tỉnh Yên Bái năm 2013
2
Bản đồ 2
Trong những năm qua nền sản xuất nông nghiệp của tỉnh đã được chú
trọng đầu tư phát triển theo hướng xuất khẩu hàng hóa. Năng suất và sản lượng
các sản phẩm nông nghiệp không ngừng tăng, đời sống nhân dân ngày càng
được cải thiện. Song nền nông nghiệp vẫn còn tồn tại những hạn chế khai thác
và sử dụng chưa hợp lý. Trình độ KH - KT, chính sách quản lí tổ chức sản xuất,
tư liệu sản xuất đơn giản, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu,…đặc biệt là việc sử
dụng nguồn tài nguyên đất làm cho đất bị thoái hóa bạc màu.
Xuất phát từ thực tiễn trên, dưới sự hướng dẫn của Ths. Bùi Thị Hoa Mận
tôi đã lựa chọn đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình “Thực trạng sử dụng
đất nông nghiệp tỉnh Yên Bái”. 2
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu:
Dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn về đất nông nghiệp khóa luận tập trung
nghiên cứu đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sử dụng đất nông
nghiệp đồng thời phân tích thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh Yên
Bái. Từ đó đề xuất giải pháp nhằm sử dụng đất nông nghiệp hợp lí, thúc đẩy sản
xuất nông nghiệp góp phần nâng cao thu nhập cải thiện đời sống vật chất và tinh
thần của người dân tỉnh Yên Bái trong thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Tổng quan cơ sở lí luận về hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa
bàn tỉnh Yên Bái.
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố đất nông
nghiệp tỉnh Yên Bái.
- Phân tích hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp theo cơ cấu ngành và sự
phân hóa theo lãnh thổ. Trên cơ sở đó làm rõ bức tranh hiện trạng sử dụng đất
nông nghiệp của tỉnh Yên Bái.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm sử dụng hợp lý có hiệu quả
của ngành nông nghiệp. Trong đó có đề cập tới các nhân tố ảnh hưởng đến sự
phát triển và phân bố của tài nguyên đất nông nghiệp của tỉnh Yên Bái.
- Trong quá trình đào tạo sau đại học của khoa Địa Lí – Trường Đại học
sư phạm Hà Nội, có nhiều công trình nghiên cứu sâu về địa lí nông nghiệp trong
đó có đất nông nghiệp nói riêng luận văn “Sử dụng đất nông nghiệp hợp lý
huyện Hoàng Hóa, tỉnh Thanh Hóa" của tác giả: Đào Ngọc Đức. Tác giả đã đưa
ra những vấn đề lí luận và thực tiễn trong phát triển nông nghiệp đánh giá hiện
trạng sử dụng đất. Bên cạnh đó tác giả đã đưa ra một số giải pháp và định hướng
cho phát triển nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp.
- Ngay trên địa bàn tỉnh Yên Bái cũng có một số luận án, bài báo, chuyên
đề có nghiên cứu tới hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp: “Giải pháp nâng cao
hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Yên Bái”, của tác giả: Bùi
Nữ Hoàng Anh; “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông - lâm nghiệp tại huyện
Văn Chấn tỉnh Yên Bái” của Ths Nguyễn Kiên Định,… Các tác phẩm này chỉ đề
4
cập tới một khía cạnh của đất nông nghiệp, chưa tập trung đi sâu tìm hiểu thực
trạng sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh một cách cụ thể.
Tuy vậy các nghiên cứa trên vẫn có ý nghĩa nhất định đối với sự phát triển
KT - XH của tỉnh cũng như là nguồn tư liệu quý giá trong công tác nghiên cứu
địa lí tỉnh Yên Bái trong thời gian tới.
5. Quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Các quan điểm
5.1.1. Quan điểm tổng hợp
Quan điểm tổng hợp là quan điểm truyền thống của khoa học Địa lý. Nội
dung của quan điểm này được xem xét dưới 2 góc độ khác nhau:
- Nghiên cứu đồng bộ, toàn diện các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên
nhiên, tài nguyên nhân văn, các yếu tố KT – XH, sự phân bố, quy luật phân bố
và biến động của chúng, những mối quan hệ tương tác, chế ngự lẫn nhau giữa
các hợp phần của thể tổng hợp Địa lý.
như quan điểm bền vững, quan điểm kinh tế, quan điểm dự báo…
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp thu thập số liệu, phân tích, thống kê
Phương pháp này được sử dụng phổ biến hầu như trong tất cả các nghiên
cứu địa lý. Việc vận dụng phương pháp này đảm bảo tính kế thừa, sử dụng các
thông tin đã được kiểm nghiệm, tiết kiệm được thời gian và công sức. Để đánh
giá chính xác các sự vật hiện tượng, phải thu thập, thống kê các số liệu, phân
tích đánh giá nó trên quan điểm tổng hợp. Trên cơ sở những tài liệu thu thập
được, việc tổng hợp sẽ giúp hệ thống hoá 1 cách toàn diện và khái quát về vấn
đề nghiên cứu.
5.2.2. Phương pháp thực địa địa phương
Thực địa là phương pháp đặc thù trong nghiên cứu đối tượng địa lý. Việc
tiếp cận trực tiếp các đối tượng nghiên cứu cho phép thu thập các thông tin cập
nhật, cụ thể, chính xác là các tài liệu thành văn và các bản đồ không có ưu thế bằng.
Với phương pháp này, chúng ta có thể chủ động quan sát, điều tra, thu
thập, phỏng vấn về những vấn đề mình quan tâm và nghiên cứu. Các kết quả
6
kiểm tra thực địa là cơ sở quan trọng để thẩm định lại tài liệu trong quá trình
nghiên cứu.
5.2.3. Phương pháp sử dụng công nghệ thông tin, bản đồ, biểu đồ và số
liệu thống kê: Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận, đề tài còn sử
dụng một số công cụ hỗ trợ như các phần mềm Microsoft (Word, Excel,…) các
công cụ này hỗ trợ đắc lực trong việc xử lý các số liệu để làm cơ sở cho việc đánh
giá hiện tượng và xu hướng phát triển, đồng thời là cơ sở dữ liệu để thành lập hệ
thống bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu nhằm góp phần xác định các đặc điểm phân
bố, mức độ tập trung của đối tượng nghiên cứu theo không gian và thời gian.
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp như: phương pháp dự
báo, phương pháp thông kê, phương pháp so sánh,…
6. Những đóng góp của đề tài
* Phân loại tiêu chuẩn theo FAO (Tổ chức nông lương của Liên Hợp Quốc).
Đất canh tác: Các loại đất trồng cây hàng năm, chẳng hạn như ngũ cốc,
bông, khoai tây, rau, dưa hấu, loại hình này cũng bao gồm cả đất sử dụng được
trong nông nghiệp nhưng tạm thời bỏ hoang (đất hoang hóa, đất thoái hóa).
Đất trồng cây lâu năm: đây là loại đất chủ yếu được dùng để trồng các
loại cây ăn quả và một số cây công nghiệp lâu năm. Ví dụ: các vườn cây ăn trái
và những vườn nho hay cánh đồng nho (ở châu Âu).
Đất đồng cỏ, thửa ruộng và đồng cỏ tự nhiên cho chăn thả gia súc.
Đất dành cho việc nuôi trồng thủy hải sản.
Tùy thuộc vào việc sử dụng hệ thống tưới tiêu nhân tạo, đất nông nghiệp
được chia thành đất có tưới tiêu và không tưới tiêu (thường xuyên). Ở các nước
đang khô hạn và bán khô hạn đất nông nghiệp được giới hạn trong phạm vi đất
tưới tiêu.
Đất nông nghiệp cấu thành chỉ là một phần của lãnh thổ của bất kỳ quốc
gia, trong đó ngoài ra cũng bao gồm các khu vực không thích hợp cho nông
nghiệp, chẳng hạn như rừng, núi và các vùng nước nội địa. Đất nông nghiệp bao
gồm 38% diện tích của thế giới, với diện tích đất trồng đại diện cho ít hơn một
phần ba đất nông nghiệp (11% diện tích của thế giới).
8
* Tại Việt Nam phân loại theo tổng cục thống kê.
Đất sản xuất nông nghiệp: là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản
xuất nông nghiệp. Bao gồm đất trồng cây hàng năm và trồng cây lâu năm.
Đất lâm nghiệp: Là đất có rừng tự nhiên hoặc rừng trồng, đất khoanh nuôi
phục hồi rừng (đất đã giao, cho thuê để khoanh nuôi, bảo vệ nhằm phục hồi rừng
bàng hình thức tự nhiên là chính), đất để trồng rừng mới (đất đã giao, cho thuê
để trồng rừng và đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng). Theo
phân loại rừng lâm nghiệp bao gồm: đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất
nông nghiệp. Đất là môi trường để con người và sinh vật trên cạn sinh trưởng và
phát triển… đất là nơi lọc nước và cung cấp cho sự sống.
Đất luôn mang trong mình các hệ sinh thái, muốn cho các hệ sinh thái bền
vững với mức sản xuất cao thì con người đã tác động vào đất cũng như tác động
vào tất cả các hệ sinh thái đó.
* Đối với ngành nông nghiệp
Đối với ngành nông nghiệp đất đai có vai trò là cơ sở đầu tiên quan trọng
nhất để tiến hành sản xuất “không có đất, không có ngành nông nghiệp”. Đất đai
vừa là đối tượng sản xuất vừa là tư liệu sản xuất không thể thay thế đươc.
Với mỗi một loại đất có thể cho năng suất và chất lượng sản phẩm khác
nhau. Ví dụ: Khi trồng cam ở huyện Lục Yên cho năng suất cao, cam thường
mọng mước vỏ mỏng và ngọt hơn cam được trồng ở Sơn La.
* Đối với ngành công nghiệp và dịch vụ
Đối với với ngành công nghiệp và dịch vụ đất đai là nền tảng để xây dựng
các công trình, các nhà máy công nghiệp. Ngoài ra đất đai là yếu tố cần thiết để
phát triển ngành nông nghiệp đây là ngành cung cấp nguyên liệu cho một số
ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm nông nghiệp.
Trong thời đại mở cửa nền kinh tế, tài nguyên đất đai còn là lợi thế để
chúng ta có thể cho các nhà đầu tư nước ngoài thuê, mượn, đấu thầu để phát
triển kinh tế, nâng cao giá trị của tài nguyên đất.
1.2.2. Đặc điểm
Trong sản xuất nông lâm nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc
biệt không thể thay thế với những đặc điểm.
10
- Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế được:
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông - lâm nghiệp, bởi vì nó
vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động. Trong quá trình sản xuất, đất
đai là đối tượng sản xuất bởi lẽ nó là nơi con người thực hiện các hoạt động của
mình tác động vào cây trồng và vật nuôi để tạo ra sản phẩm.
2.1.1. Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ
Yên Bái là một tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa thuộc vùng Đông
Bắc. Cực Bắc: 21
0
18’46”B thuộc xã Tân Phượng, huyện Lục Yên; Cực Nam:
22
0
7’22”B thuôc xã Minh An, huyện Văn Chấn; cực Tây: 103
0
53’00”Đ thuộc
Hồ Bốn, huyện Mù Cang Chải; cực Đông 105
0
06’17” thuộc xã Đại Minh, huyện
Yên Bình.
Phía Bắc và Đông Bắc giáp Hà Giang, Tuyên Quang; phía Nam và Đông
Nam giáp tỉnh Phú Thọ; phía Tây Bắc giáp tỉnh Lào Cai; phía Tây và Tây Nam
giáp tỉnh Lai Châu, Sơn La.
Năm 2012 diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 6899,49km
2
với số dân
765.688 người, Yên Bái đứng hàng thứ 5 về diện tích (2,08%) và đứng thứ 50 về
số dân (1,15%) trong tổng 63 tỉnh thành của cả nước.
Về mặt hành chính, tỉnh Yên Bái có TP. Yên Bái, TX. Nghĩa Lộ, 7 huyện
(Lục Yên, Mù Cang Trải, Trạm Tấu, Trấn Yên, Văn Yên, Yên Bình) với 159 xã
11 phường và 10 thị trấn.
Tuy nằm sâu trong nội địa, nhưng Yên Bái lại là đầu mối và trung tâm của
một số tuyến giao thông quan trọng. Là một trong những cửa ngõ đi vào Tây
Bắc và nằm trên trục giao thông giữa Đông Bắc và Tây Bắc. Quốc lộ 2 nối
các tỉnh Đồng Bằng sông Hồng với cửa khẩu Lào Cai tạo điều kiện cho việc
giao lưu giữa các vùng trong nước và với Trung Quốc. Giúp cho nền kinh tế
tích nhỏ. Tính chất và chất lượng của mỗi loại đất có ảnh hưởng sinh trưởng của
cây trồng vật nuôi.
Các đặc điểm lý, hóa của đất: Trong sản xuất nông lâm nghiệp, thành
phần cơ giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất,… quyết
định đến chất lượng và hiệu quả sử dụng đất. Các vật liệu khoáng chất hữu cơ,
không khí và nước là 4 thành phần chính của đất. Vật liệu khoáng, vật chất hữu
13
cơ, không khí và nước, phức keo, 4 nhân tố này ở mỗi loại đất sẽ có những tỉ lệ
khác nhau.
Tỉnh Yên Bái chủ yếu là đất xám feralit và đất feralit đỏ - vàng. Tập trung
nhiều ở các huyện Văn Yên, Trấn Yên, Yên Bình, Lục Yên, Chấn Yên. Đất có
tầng phong hóa dày 1,5 - 2,0 m, khá tơi xốp nhưng do địa hình dốc nên đất dễ bị
xói mòn, rửa trôi, nên chủ yếu dành cho lâm nghiệp và nông - lâm kết hợp.
2.1.2.2. Khí hậu
Yên Bái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ
22-23
0
C với lượng mưa trung bình từ 1.500 - 2.200 mm/năm, độ ẩm trung bình
83 - 87% có nhiều thuận lợi cho việc phát triển nông - lâm nghiệp. Có thể chia
thành 5 tiểu vùng khí hậu dựa trên yếu tố địa hình.
Tiểu vùng Mù Cang Chải: Có độ cao trung bình 900m, nhiệt độ trung bình
18 - 20
0
C, có khi xuống dưới 0
0
C về mùa đông với địa hình cao, độ dốc lớn
cùng với đó là điều kiện khí hậu ôn đới nên ở đây chủ yếu là đất mùn alit trên
núi và đất mùn trên núi, thích hợp cho sự phát triển của các loại động thực vật
vùng ôn đới. Đất chủ yếu là đất lâm nghiệp và phần lớn đất chưa được sử dụng.
với diện tích nguồn nước nổi trên trên địa bàn tỉnh là 2.484 ha tương đương với
0,36% tổng diện tích đất tự nhiên.
* Nguồn nước mặt
- Tài nguyên nước của tỉnh Yên Bái khá phong phú, dồi dào, được cung
cấp bởi hai hệ thống sông lớn là hệ thống sông Hồng, sông Chảy và hàng trăm
ngòi, suối lớn nhỏ khác nhau. Mật độ trung bình 1,15km/km
2.
. Nhìn chung sông,
suối ở Yên Bái đều bắt nguồn từ núi cao, dòng chảy siết, lưu lượng thay đổi thất
thường, hay gây ra lũ thất thường, nhưng lại chứa dựng nguồn thủy năng khá lớn.
Sông Hồng bắt nguồn từ dãy Ngụy Sơn (Trung Quốc) cao 1.766m, chảy
vào Việt Nam qua các tỉnh Lào Cai, Yên Bái. Đoạn chảy trong địa phận tỉnh
Yên Bái dài khoảng 100km với độ dốc 0,23m/1km. Đây chính là cơ sở quan
trọng cho việc bồi đắp nên các cánh đồng phù sa màu mỡ dọc 2 bên bờ sông
Hồng của các huyện Văn Yên, Trấn Yên và TP. Yên Bái tạo nên những vùng
trồng lúa, ngô và hoa màu.
Sông Chảy được bắt nguồn từ dãy núi Tây Côn Lĩnh (Trung Quốc) cao
2.149m chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Dòng sông nhỏ, sâu và chảy
xiết. Mô đun dòng chảy bình quân là 30,51/s//km
2
. Vùng hạ lưu chảy có hồ và
nhà máy thủy diện Thác Bà với công suất 108 MW.
- Bên cạnh hệ thống sông, suối ở Yên Bái có 20.913ha mặt nước hồ ao có
ý nghĩa quan trọng đối với thủy lợi, đặc biệt là mở rộng diện tích đất nông
nghiệp - lâm - ngư nghiệp và GTVT. Đáng kể nhất là hồ Thác Bà nằm trong lưu
vực sông Chảy, thuộc huyện Yên Bình và một phần huyện Lục Yên, với dung
tích 2,9 tỉ m
3
. 16
2.1.3. Nhân tố kinh tế - xã hội
2.1.3.1. Dân cư và nguồn lao động
Yên Bái là một tỉnh có dân số đông, với 756.688 người (năm 2012),
mật độ trung bình 111 người/km
2
, tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên thấp và có xu
hướng giảm đến năm 2012 là 0,12%. So với năm 2005 dân số Yên Bái năm
2012 tăng gấp 1,064 lần. Bình quân giai đoạn 2005 - 2012 tỉ lệ gia tăng dân
số trung bình là 1,28%/năm đây là kết quả của việc các chính sách dân số kế
hoạch hóa gia đình.
Dân số Yên Bái có sự phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu ở các
đô thị, các thung lũng giữa núi, các trục đường giao thông. Các vùng dân cư tập
trung đông như: TP. Yên Bái (96,3 nghìn người với mật độ là 903 người/km
2
),
Văn Chấn (148,6 nghìn người), Văn Yên (118,9 nghìn người), Yên Bình (106,6
nghìn người). Ngược lại các khu vực núi cao hiểm trở, điều kiện sinh hoạt, giao
lưu kinh tế văn hóa gặp nhiều khó khăn dân cư rất thưa thớt như: Trạm Tấu
(28,5 nghìn người, mật độ dân số trung bình là 38 người/km
2
), Mù Cang Trải
(52 nghìn người, mật độ trung bình là 43 người/km
2
) theo niên giám thống kê
năm 2012. Sự phân bố dân cư không đều đến vấn đề thiếu đất canh tác nông
nghiệp sử dụng đất ở những vùng đông dân cư.
tỉnh là 3.981,46km, mật độ trung bình đạt 0,57km/km
2
. Yên Bái có hệ thống
đường quốc lộ chạy qua trên phạm vi 46 xã thuộc 4 huyện với tổng chiều dài
369,5km.
Yên Bái nằm trên tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai. Đoạn đường sắt
chạy qua tỉnh gồm 10 ga nằm trên địa bàn 20 xã, phường, thị trấn thuộc TP.Yên
Bái và các huyện Trấn Yên, Văn Yên dài 84km.
18
Về đường thủy có hai tuyến chính. Tuyến sông Hồng dài 115km. Tuyến
hồ Thác Bà qua 25 xã ven hồ hai huyện Yên Bình và Lục Yên, nối liền các xã
phía đông của hồ với quốc lộ 70, dài 80km.
Với hệ thống đường giao thông ngày càng hiện đại, góp phần vận chuyển
các sản phẩm nông nghiệp, hàng hóa, vật tư, phân bón thuốc trừ sâu,… phục vụ
cho sản xuất nông nghiệp. Hệ thống GTVT nhìn chung đã đáp ứng được nhu cầu
đi lại của nhân dân. Tuy nhiên, cần quan tâm xây dựng hệ thống giao thông
nông thôn để tạo ra sự phát triển đồng bộ giữa các vùng và khai thác có hiệu quả
hơn nguồn tài nguyên đất của các vùng đặc biệt là vùng sâu vùng xa.
- Hệ thống điện
Hệ thống điện được xây dựng khá tốt, phục vụ cho sinh hoạt, đời sống và
ứng dụng có hiệu quả trong nông nghiêp. Toàn tỉnh có 1.012 trạm biến áp trong
đó có 2 trạm biến áp 110/35KV - công suất 60.000KVA, 11 trạm biến áp 35/10
KV - công suất 15.000 KV, 2 trạm biến áp 22/6KV - công suất 20.000 KVA,
726 trạm biến áp 35/0,4 KV tổng công suất hơn 137.000 KVA; 2 trạm biến áp
22/0,4 với tổng công suất hơn 12.000 KVA,… Với mạng lới điện như hiện nay,
90% dân số được dùng diện lưới quốc gia, riêng khu vực nông thôn có hơn 111
nghìn hộ được dùng điện. Đây là cơ sở quan trọng thúc đẩy sự phát triển của
ngành nông nghiệp và việc sử dụng đất hợp lí trong nông nghiệp.
* Các chính sách dịch vụ nông nghiệp
vùng trong tỉnh.
2.1.3.3. Đường lối chính sách
Đường lối chính sách là kim chỉ nam cho sự phát triển KT - XH. Đối với
hoạt động sản xuất nông nghiệp cùng với những đường lối chung của đảng và
chính phủ (chính sách khoán 10, chính sách giao đất giao rừng,…), tỉnh Yên Bái
còn đưa ra được những chính sách riêng phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh
như: tăng cường cho nông dân vay vốn lãi suất thấp với thời hạn 5 năm, 10 năm,
cung cấp giống cây trồng vật nuôi cho một số địa phương khó khăn, trang bị những
kiến thức cho người dân, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, tăng cường ứng
dụng các thành tựu KH - KT, cải tạo đất,… các chính sách này đã có tác động rất
lớn đến vấn đề sử dụng đất, phát triển và hình thành các loại đất mới.
20
2.1.3.4. Các nhân tố kinh tế xã hội khác
Ngoài các nhân tố như trên thì các nhân tố như thị trường tiêu thụ, và nguồn
vốn đầu tư cũng có ảnh hưởng quan trọng đến vấn đề sử dụng đất nông nghiệp.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Là cầu lối giữa sản xuất và tiêu dùng. Ở đó
người sản xuất thực hiên việc trao đổi hàng hóa điều này giúp họ tiếp tục thực
hiện quá trình tái sản xuất tiếp theo, làm cho diện tích đất nông nghiệp thường
xuyên được luân canh, thâm canh, tăng hệ số sử dụng đất.
Vốn đầu tư: Là cơ sở quan trọng để có thể thúc đẩy sản xuất nông
nghiệp phát triển, mở rộng diện tích đất, cải tạo đất và ứng dụng KH - KT
trong nông nghiệp.
Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những khó khăn: Chất lượng nguồn lao động
chưa cao, đội ngũ lao động có chuyên môn kỹ thuật trong nông nghiệp còn ít và
trình độ thấp. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu, chưa đồng bộ, các
chính sách tiến bộ của đảng và nhà nước vẫn còn chưa được ứng dụng rộng rãi ở
những khu vực vùng sâu, vùng xa. Vì vậy cần tăng cường chất lượng người lao
động, cải thiện, nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật là giải pháp tối ưu
thúc đẩy nông nghiệp của tỉnh Yên Bái phát triển.