TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA – KHOA KINH TẾ
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU VÀ TRÌNH BÀY VỀ QUY TRÌNH ĐẦU
TƯ VÀO CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN HD : TH.S. LÊ ĐỨC THIỆN
SINH VIÊN TH : NHÓM 06
LỚP : DHKT7AH
THANH HÓA, THÁNG 03 NĂM 2014
Bài tiểu luận
GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện
DANH SÁCH NHÓM 06
TT HỌ VÀ TÊN MSSV GHI CHÚ
1 Lê Thị Hải Yến 11011203 Nhóm trưởng
2 Nguyễn Thị Phương Phú 11010543
3 Phùng Thị Kim Phượng 11011223
4 Lê Thanh Hằng 11014803
5 Ngô Thị Thuỷ 11013133
6 Mai Thị Linh 11022883
7 Lê Thị Duyên 11015153
8 Vũ Thị Vương 11011823
9 Lê Thị Thuỳ Dương 11021523
10 Lê Thị Thu 11024913
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
sóng, cho dù bạn không theo phong cách nào bạn vẫn phải lựa chọn những cổ phiếu ưa
thích mua và bán đế tối đa hóa lợi nhuận, bạn cần tính toán thời điểm mua và bán hợp
lý, phân bổ và quản lý danh mục đầu tư. Vì vậy để đầu tư chứng khoán có hiệu quả
chúng ta phải có một quy trình cụ thể.
Chính vì những lý do trên và dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy Lê Đức
Thiện nên nhóm chúng em quyết định chọn đề tài :” Tìm hiểu và trình bày về quy
trình đầu tư vào chứng khoán ở Việt Nam”
Trong quá trình làm bài chúng em không tránh khỏi những thiếu sót vì vậy
mong thầy và các bạn đóng góp ý kiến để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn nữa.
Chúng em xin chân thành cảm ơn !
Nhóm SVTH: Nhóm 06
Trang: 1
Bài tiểu luận
GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Nhóm SVTH: Nhóm 06
Trang: 2
Bài tiểu luận
GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CHỨNG KHOÁN VÀ
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1. Chứng khoán
1.1.1.Khái niệm
Chứng khoán là thuật ngữ dùng để chỉ các chứng chỉ đầu tư hoặc cho vay vốn
nhằm thu được trong tường lai một khoản lợi tức.
Chứng khoán bao gồm 3 loại chính sau
Chứng khoán vốn: cổ phiếu
Chứng khoán nợ: trái phiếu
Các chứng chỉ có nguồn gốc chứng khoán: chứng quyền, chứng chỉ thụ hưởng
1.1.2. Một số loại chứng khoán cơ bản
1.1.2.2. Trái phiếu
Trái phiếu là thoả thuận vay nợ mang tính chất hợp đồng theo đó người đi vay
phát hành trái phiếu với cam kết se trả cho người cho vay, người nắm giữ trái phiếu
một số tiền lãi định kì và khi trái phiếu hết hạn là lúc khoản thanh toán cuối cùng sẽ
được thực hiện
Trái phiếu được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khac nhau
• Căn cứ theo chủ thể phát hành
Trái phiếu công ty: do công ty phat hành nhằm mục đích gia tăng vốn cho công
ty. Tuy nhiên không phải công ty nào cũng được quyền phát hành trái phiếu mà chỉ có
những công ty lớn có uy tín trên thị trường
Trái phiếu chính phủ: do chính phủ phát hành nhằm mục đích huy động vốn
phục vụ cho các mục xây dựng các công trình hay tài trợ cho các dự án của chính phủ
Trái phiếu chính quyền địa phương do chính quyền địa phương phát hành nhằm
mục đích tài trợ cho dự án của chính quyền địa phương
• Căn cứ tính chất chuyển đổi của trái phiêu
Nhóm SVTH: Nhóm 06
Trang: 4
Bài tiểu luận
GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện
Trái có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu
Trái phiếu không có khả năng chuyển đổi
• Căn cứ cách thức trả lãi
Nhóm SVTH: Nhóm 06
Trang: 5
Bài tiểu luận
GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện
Trái phiếu có lãi suất cố định: lãi suất được ghi ngay trên mặt trái phiếu và
không thay đổi trong suốt kỳ hạn cuả nó. Việc thanh toán lãi trái phiếu cũng thường
được qui định rõ ràng
Trái phiếu có lãi suất thả nổi: là loại trái phiếu mà khoản lãi thu được thay đổi
hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán qua đó thay đổi chủ
thể nắm giữ chứng khoán
1.2.2. Chức năng
1.2.2.1. Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Thị trường chứng khoán được xem như chiếc cầu vô hình nối liền người thừa
vốn với người thiếu vốn để họ giúp đỡ nhau thông qua việc mua bán cổ phiếu và qua
đó để huy động vón cho nền kinh tế, góp phần phát triển sản xuất kinh doanh tạo công
ăn việc làm cho người lao động, giảm thất nghiệp, ổn định đời sống dân cư và thúc đẩy
nền kinh tế phát triển.Thông qua thị trường CK,chính phủ và chính quyền địa phương
cũng huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.Thị trường chứng
khoán đóng vai trò tự động điều hoà vốn giữa nơi thừa sang nơi thiếu vốn. Vì vậy, nó
góp phần giao lưu và phát triển kinh tế. Mức độ điều hoà này phụ thuộc vào quy mô
hoạt động của từng thị trường chứng khoán. Chẳng hạn, những TTCK lớn như Luân
Đôn, Niu óc , Paris, Tokyo, thì phạm vi ảnh hưởng của nó vượt ra ngoài khuôn khổ
quốc gia vì đây là những TTCK từ lâu được xếp vào loại hoạt động có tầm cơ quốc tế.
Cho nên biến động của thị trường tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế của bản thân nước
sở tại, mà còn ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán nước khác.
1.2.2.2. Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
Bên cạnh các thị trường mà từ trước đén giờ người dân hay đầu tư như thị
trường bất động sản hay hình thức đầu tư qua gửi tiền vào ngân hàng thì từ khi có thị
trường chứng khoán nó trở thành một trong những môI trường đầu tư mới cho người
dân, giúp họ có nhiều cơ hội lựa chọn hình thức đầu tư hơn. Hơn thế nữa thị trường
Nhóm SVTH: Nhóm 06
Trang: 7
Bài tiểu luận
GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện
chứng khoán với các hàng hoá là chứng khoán hết sức đa dạng cũng làm tăng lựa chọn
đầu tư cho công chúng
Nhóm SVTH: Nhóm 06
Trang: 8
Nhóm SVTH: Nhóm 06
Trang: 9
Bài tiểu luận
GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện
Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu chính phủ
và trái phiếu chính quyền địa phương
Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty
Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu,
chứng chỉ thụ hưởng…phục vụ cho hoạt động của họ
1.2.3.2. Nhà đầu tư
Đối với các nhà đầu tư tham gia trên SGDCK, thông thường là các tổ chức đầu
tư, các quĩ hưu trí, các quĩ bảo hiểm, cac ngân hàng…Việc tham gia giao dịch tại SGD
phải thông qua các công ty chứng khoán thành viên. Các tổ chức này do có nguồn vốn
to lớn từ dân cư và các nhà đầu tư uỷ thác nên mới có thể đáp ứng được các yêu cầu
của SGD. Đối với các nhà đầu tư cá nhân, họ tham gia váo thị trường chứng khoán chủ
yếu trên thị trường giao dịch qua quầy hoặc thông qua các tổ chức đầu tư để tham mua
các lô chứng khoán trên thị trường.
1.2.4. Các công tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
1.2.4.1. Công ty chứng khoán
Các công ty này hoạt động với nghiệp vụ chính là bảo lãnh phát hành, tự doanh,
môi giới, quản lý danh mục đầu tư và tư vấn đầu tư chứng khoán.
Quỹ đầu tư chứng khoán
Các quỹ này hoạt động trên cơ sở tập trung một số vốn lớn thông qua các chủ
sở hữu quỹ hay huy động trên thị trường thông qua phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư.
Trên cơ sở số vốn đó và với phân tích của các chuyên gia chứng khoán quỹ đầu tư
Các trung gian tài chính
Các trung gian tài chính khác cũng có thể trở thành các tổ chức kinh doanh
chứng khoán khi nó mua chứng khoán nhằm mục đích đầu tư sinh lời. Chẳng hạn như
các ngân hàng mua chứng khoán nhằm mục đích sinh lời, hơn nữa chứng khoán còn
nhằm mục đích tạo tính thanh khoản cho các tàI sản của ngan hàng hay các công ty
Nhóm SVTH: Nhóm 06
Trang: 11
Bài tiểu luận
GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện
Thành viên của SGDCK có thể là cá nhân hoặc các công ty chứng khoán (còn
gọi là công ty môi giới chứng khoán). Để trở thành thành viên của một SGDCK, công
ty phải được cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cấp giấy phép hoạt động, phải có số
vốn tối thiểu theo quy định và có những chuyên gia kinh tế, pháp lý đã được đào tạo
về phân tích và kinh doanh chứng khoán, ngoài ra công ty còn phải thoả mãn yêu cầu
của từng sở giao dịch riêng biệt. Một công ty chứng khoán có thể là thành viên của hai
hay nhiều SGDCK, nhưng khi đã là thành viên của SGDCK (thị trường chứng khoán
tập trung) thì không được là thành viên của thị trường phi tập trung (thị trường OTC)
và ngược lại.
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán hoạt động với mục đích bảo vệ lợi
ích cho các công ty thành viên nói riêng và cho toàn ngành chứng khoán nói chung.
Hiệp hội này có một số các chức năng chính sau:
Khuyến khích hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán.
Ban hành và thực hiện các quy tắc tự điều hành trên cơ sở các quy định pháp
luật về chứng khoán.
Điều tra và giải quyết tranh chấp giữa các thành viên.
Tiêu chuẩn hoá các nguyên tắc và thông lệ trong ngành chứng khoán.
Các tổ chức ký gửi và lưu kí chứng khoán
Tổ chức ký gửi và thanh toán chứng khoán là các tổ chức nhận lưu giữ các
chứng khoán và tiến hành nghiệp vụ thanh toán bù trừ.
Các công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
Các công ty này cung cấp mạng máy tính và điều hành, sửa chữa mạng máy
tính cho các sở giao dịch, các công ty chứng khoán….
Các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm
Các tổ chức này là các công ty chuyên đưa ra các đánh giá về tình hình và triển
thường được tiến hành thông qua các trung gian đó là ngân hàng. Ngân hàng này
thường được xem như là ngân hàng đầu tư hay ngân hàng bảo hiểm cho việc phát hành
thông qua việc bảo đảm giá cố định của chứng khoán trong qua trình phát hành
Thị trường cấp 2: là thị trường mua bán các chứng khoán đã phát hành. Khi một
cá nhân mua chứng khoán ở thị trường cấp 2 thì cá nhân, người vừa bán nó nhận được
tiền bán chứng khoán nhưng công ty phát hành chứng khoán lần đầu tiên không thu
được tiền nữa. Một công ty mua được vốn chỉ khi chứng khoán đó được bán lần đầu
trên thị trường cấp 1. Việc mua bán ở thị trường cấp 2 thường được thực hiện thông
qua các công ty môi giới
Thị trường cấp 2 thực hiện 2 chức năng sau
Thứ nhất nó tạo điều kiện để bán chứng khoán nhằm thu tiền mặt tức là nó đảm
bảo cho những chứng khoán này có tính lỏng thêm. Tính lỏng thêm của những chứng
khoán làm chúng được ưa chuộng hơn và như thế là dễ dàng hơn cho công ty phát
hành bán chúng ở thị trường cấp 1
Thứ hai thị trường cấp 2 xác định giá của chứng khoán mà công ty phát hành
bán ở thị trường cấp 1. Những hãng mua các chứng khoán ở thị trường cấp một sẽ chỉ
thanh toán cho công ty phát hành với giá mà họ cho rằng thị trường cấp 2 sẽ chấp nhận
nó
1.2.6.2. Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường
Thị trường cũng được chia làm 2 loại, đây cũng có thể coi là cách phân loại của
thị trường cấp 2
Thị trường tập trung ( sở giao dịch chứng khoán )
Nhóm SVTH: Nhóm 06
Trang: 14
Bài tiểu luận
GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện
Là nơi mà người mua và bán (hoặc các đại lý môI giới của họ) gặp nhau tại một
vị trí trung tâm để tiến hành mua bán. Ví dụ như thị trường giao dịch chứng khoán Mỹ
và NewYork là nơI giành cho cổ phiếu và phòng thương mại Chicago giành cho hàng
hoá là ví dụ về giao dịch có tổ chức. Như trên trình bày thì sở giao dịch chứng khoán
hạn: trong năm năm 1991-1995, để có tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 2,8% năm
cần 18,6 tỉ USD; thời kì 1996-2000, để đạt được tốc độ tăng trưởng 9 - 9,5% năm thì
dự tính vốn đầu tư đã tăng hơn 2,2 lần, khoảng 40 - 45 tỉ USD; với quy mô như vậy
ước tính đến năm 2020 vốn đầu tư là 500 - 600 tỉ USD. Do đó việc phát triển thị
trường chứng khoán là 1 trong những giải pháp huy động vốn cho các mục tiêu phát
triển kinh tế xã hôi đồng thời giúp nhân dân có thể mở rộng danh mục đầu tư.
Ngoài ra sự hình thành thị trường chứng khoán còn có các lý do sau
Sự hình thành của thị trường chứng khoán là một kênh huy động vốn cho các
doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh trong đIều
kiện nên kinh tế Việt Nam đang ngày cang phát triển và mở rộng hội nhập như hiện
nay
Dưới góc độ vĩ mô thì sự hình thành thị trường chứng khoán tạo ra một thị
trường tài chính hoàn thiện hơn với chúng ta đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động
cuả thị trường tàI chính
Một thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả là cơ sở giúp hoạch định các
chính sách kinh doanh trong tường lai, đưa ra các dự báo chính xác đồng thời giúp nhà
nước quản lý vĩ mô với đầu tư thông qua các chính sách với thị trường chứng khoán.
Bởi trong một nền kinh tế thị trường chứng khoán là thị trường phát triển bậc cao nhất
2.1.2. Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua
Thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn khá nhỏ khi so sánh với vá tiêu chuẩn
của Đông Nam Á.
Nhóm SVTH: Nhóm 06
Trang: 16
Bài tiểu luận
GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện
Với 2 trung tâm giao dịch chính thức ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh hoạt
động như các đơn vị kinh doanh trực thuộc uỷ ban chứng khoán nhà nước
(UBCKNN). Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu hoạt
động tháng 7 năm 2000 với chỉ 2 công ty yết danh. Đến giữa năm 2005 công ty này
chỉ có 30 công ty và 249 trái phiếu phát hành cùng với 1 quĩ đóng được yêt danh trên
bán chứng khoán làm nghề phụ nhưng nghề chính là làm việc cho các tổ chức tài chính
kể cả các công ty môi giới chính thức. Nhóm thứ hai gồm những nhà môi giới được
cấp giáy phép môi giới ở bất kì một thị trường nào kể cả ơ trung tâm giao dịch chính
thức và thị trường OTC.
Hiện tại chính phủ đang nỗ lực thúc đẩy hoạt động của thị trường chứng khoán
chính thức. Tháng 8/2009 chính phủ đã chỉ thị các doanh nghiệp nhà nứơc được cổ
phần hoá nhanh chóng yết danh tại 2 trung tâm giao dịch chứng khoán. Ngoài ra thị
chính phủ cũng đã cam kết hỗ trợ thành lập và phát triển các quỹ đầu tư trong nước và
nước ngoài. Tháng 9/2005 nhóm các tổ chức và cá nhân nước ngoài có thể giữ tới 49%
tổng số cổ phần của một công ty so với 30% như trước đây.Mặc dù đây là những bước
tiến đáng khích lệ trong thời gian gần đây nhưng để hiểu tại sao thị trường OTC lại
phát đạt trong khi thị trường chính thức lại suy yếu hơn cần xem xét trên 3 khía cạnh
chủ yếu sau: Phạm vi và tính chất của các công ty có chứng khoán được giao dịch,
mức độ công khai thông tin về tình hình hoạt động của các công ty này, các nguyên tắc
chỉ đạo với trung gian thị trường.
Kinh tế quí 1-2011 tăng 7,7%, nhưng những thử thách trên con đường phát triển
cũng đã được phân tích, đó là sự yếu kém về cơ sở hạ tầng, về năng lượng, và những
áp lực cải cách…
Nhóm SVTH: Nhóm 06
Trang: 18
Bài tiểu luận
GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện
Tình hình của Việt Nam hiện nay, áp lực cải cách vẫn lớn trong khi không gian
để cải cách còn rộng. Thách thức nhiều nhưng điều kiện xử lý thách thức cũng rất lớn.
Nhìn ra ngoài, nền kinh tế thế giới cũng sẽ phát triển ổn định trong năm nay và điều
này cho phép Việt Nam tiếp tục duy trì tăng trưởng cao trong một thời gian nữa.
Theo báo cáo kinh tế của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Việt Nam sẽ đạt
tốc độ tăng trưởng GDP 8,3% trong năm 2011 và 8,5% trong năm 2012 nếu Việt Nam
tiếp tục thúc đẩy việc cải cách kinh tế và hệ thống hành chính công.
Quí 1 năm 2011, tiền gửi (bằng tiền đồng) của các tổ chức kinh tế tăng mạnh
chuyên gia kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng và đầu tư dự đoán rằng tốc độ tăng trưởng
kinh tế của Việt Nam có thể vượt ngưỡng 8% trong năm 2011, có khả năng vượt qua
Trung Quốc để trở thành quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất khu vực
châu Á
Thị trường cổ phiếu của Việt Nam là một trong những thị trường phát triển
nóng nhất châu Á, lượng giao dịch trung bình đạt mức 32 lần thu nhập. Công tác kế
toán nghèo nàn cũng như các báo cáo tài chính chuẩn đã gần như không thể giúp các
nhà đầu tư tiềm năng không biết nên tiến hành đầu tư vào các công ty Việt Nam. Hiện
nay, đang có mối lo ngại về chất lượng quản lý ở các công ty tư nhân ở Việt Nam cũng
như các công ty nhà nước, mà các công ty đó đang cải thiện tình hình một cách ổn
định, tuy nhiên, họ vẫn khó có thể được chấp nhận với những thông lệ quốc tế dù là
đơn giản nhất
Nhóm SVTH: Nhóm 06
Trang: 20
Bài tiểu luận
GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện
Cho đến nay, các nhà đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 20% khối lượng giao
dịch của thị trường trong năm 2010. Tuy nhiên, rất nhiều nhà đầu tư lo ngại xảy ra câu
chuyện về sự tăng trưởng nhanh, nóng đang diễn ra ở khu vực châu Á. Số lượng các
tài khoản giao dịch chứng khoán ở thị trường trong nước đã tăng gần gấp 4 lần, trong
khi đó số các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán đã tăng gấp đôi. Có những
thay đổi quan trọng về quy định đối với thẻ tín dụng, nhằm giảm bớt sự lo ngại đang
gia tăng của các nhà đầu tư và tạo khung pháp lý về đầu tư của Việt Nam phù hợp hơn
với các tiêu chuẩn của WTO đề ra, một luật về chứng khoán mới đã được ban hành
vào đầu năm 2011, nhằm thiết lập những tiêu chuẩn mới đối với các công ty trong việc
công bố thông tin và công tác quản lý, cho dù các công ty đó được giao dịch trên sàn
giao dịch OTC hay trên sàn giao dịch chính thức. Các quy định về thị trường cũng
đang dần theo hướng các tiêu chuẩn tài chính quốc tế cũng như các tiêu chuẩn quốc tế
về kiểm toán đối với các doanh nghiệp quốc doanh.
Nếu các quy định pháp lý về thị trường chứng khoán theo kịp được tốc độ lưu
của chính phủ thì sự phát triển của thị trường chứng khoán là cần thiết đồng thời với
việc đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoàI thông qua thị trường chứng khoán sẽ làm
thị trường chứng khoán phát triển nhanh và lành mạnh.
Thứ tư nữa là quá trình phát triển kinh tế nước ta trong thời gian qua đã hình
thành nên một hệ thống các ngân hàng thường mại, các tổ chức tín dụng, quỹ đầu tư .
Đây là các tác nhân quan trọng cho sự phát triển của thị trường chứng khóan. Và đặc
biệt với việc gia nhâp WTO ngày 9/11 vừa qua thì thị trường chứng khoán Việt Nam
sẽ có nhiều thuận lợi để phát triển.
- Khó khăn
Nhóm SVTH: Nhóm 06
Trang: 22
Bài tiểu luận
GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện
Bên cạnh những thuận lợi thì khó khăn với sự phát triển của thị trường chứng
khoán Việt Nam còn rất nhiều. Khó khăn trước tiên và cũng là khó khăn của hầu hết
các nước đang phát triển khi mới phát trỉên thị trường chứng khoán đó là thu nhập của
đại bộ phận dân chúng còn thấp, chênh lệch giữa tiết kiệm và thu nhập cao. Chính do
thu nhập thấp mà đại bộ phận dân chúng sau khi đã chi tiêu thì số dư còn lại từ thu
nhập là không đáng kể nên việc đầu tư vào chứng khoán của người dân là rât ít. Cũng
vì phần dư của thu nhập sau khi chi tiêu còn ít mà hơn nữa đầu tư vào chứng khoán
còn có nhiều rủi ro, cộng với kiến thức của người dân về chứng khoán chưa nhiều nên
phần lớn tiền của họ gửi vào tiết kiệm. Điều này sẽ làm giảm sự phát triển của thị
trường chứng khoán
Khó khăn thứ hai đối với thị trường chứng khoán đó là không có một hệ thống
pháp luật hoàn chỉnh. Một số văn bản pháp quy, các luật có liên quan, chi phối hoạt
động hoặc có ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán đã ban hành nhưng trong phần
nội dung còn nhiều bất cập, mâu thuẫn với hệ thống pháp lý về thị trường chứng
khoán. Luật về thị trường chứng khoán vẫn còn trong dự thảo
Khó khăn thứ ba cho sự phát triển của thị trường chứng khoán là mới thành lập
được khoảng 7 năm, đây là một quãng thời gian tương đối dài nhưng những nhà đầu tư