KHÓA LUẬN mầm NON thực trạng kỹ năng hợp tác với bạn qua trò chơi đóng vai theo chủ đề của trẻ MGB - Pdf 22

1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 4
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 5
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 5
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
6. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 6
7. PHẠM VI VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 6
8. CẤU TRÚC KHÓA LUẬN 6
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
1.1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 7
1.2. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 8
1.2.1. Kỹ năng 8
1.2.2. Hợp tác 9
1.2.3. Kỹ năng hợp tác 9
1.2.4. Trò chơi đóng vai theo chủ đề 9
1.3. MỤC TIÊU VÀ NGUYÊN TẮC GIÁO DỤC MẦM NON 10
1.3.1. Mục tiêu Giáo dục mầm non 10
1.3.2. Nguyên tắc Giáo dục mầm non 11
1.3.2.1. Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục 11
1.3.2.2. Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức 11
1.3.2.3. Nguyên tắc đảm bảo tính phát triển 12
1.3.2.4. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và tính liên tục 12
1.3.2.5. Nguyên tắc phát huy tính tích cực, tính tự giác của trẻ 12
1.3.2.6. Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan 12
1.3.2.7. Nguyên tắc đối xử cá biệt 13
1.4. ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CƠ BẢN CỦA TRẺ MGB 13
1.5. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA TRÒ CHƠI ĐVTCĐ ĐỐI VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN TÂM LÝ CỦA TRẺ NÓI CHUNG VÀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG

3.2.1.2. Xây dựng chủ đề và nội dung chơi phong phú 41
3.2.1.3. Chú trọng khâu hướng dẫn trẻ cách thực hiện vai
và mối quan hệ đúng giữa các vai 42
3.2.1.4. Xây dựng nề nếp vui chơi tích cực, lành mạnh 42
3.2.1.5. Theo dõi việc chơi, kịp thời giải quyết xung đột 43
3.2.1.6. Sử dụng phương pháp khuyến khích và trách phạt theo hướng
cảm nhận niềm vui của sự hợp tác 43
3.2.2. Nhóm các biện pháp ngoài hoạt động chơi 44
3.2.2.1. Tạo môi trường thân thiện ở lớp học 44
3.2.2.2. Phát triển ngôn ngữ và tổ chức tốt hoạt động giao tiếp cho trẻ.45
3.2.2.3. Giáo dục trẻ các hành vi văn hóa khi cùng học, cùng chơi với bạn46
3.2.2.4. Phối hợp với gia đình giáo dục trẻ 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
1. KẾT LUẬN 48
2. KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 49
2.1. Đối với lãnh đạo Phòng, Sở Giáo dục 49
2.2. Đối với lãnh đạo Bộ môn Giáo dục Mầm non, trường ĐHSP 49
2.3. Đối với sinh viên sư phạm Giáo dục Mầm non 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
3
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong xã hội loài người, hợp tác với người khác được xem là một
nhu cầu tất yếu của cuộc sống. Từ thuở sơ khai, sự tồn tại và phát triển
của loài đã thúc đẩy con người liên kết, hợp tác với nhau: từ săn bắt, hái
lượm cho đến chống lại thú dữ… Cuộc sống ngày càng hiện đại, con
người càng cần đến sự hợp tác và dường như chỉ có sự hợp tác mới mang
lại một kết quả tốt đẹp, từ những điều thuộc về công việc của mỗi cá nhân
cũng như của nhiều người như môi trường, hòa bình,… Có thể nói, hợp
tác là con đường tiêu biểu cho sự phát triển của các quốc gia cũng như của

đề tài, chúng tôi nhận thấy đây là nơi hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi. Mặt
khác, cho đến nay vẫn chưa có ai nghiên cứu kỹ năng hợp tác với bạn của
trẻ Mẫu giáo bé (MGB) qua trò chơi ĐVTCĐ. Xuất phát từ những vấn đề
trên, chúng tôi chọn đề tài Thực trạng kỹ năng hợp tác với bạn qua trò
chơi đóng vai theo chủ đề của trẻ MGB ở trường mầm non 2 - Thành
phố Huế để nghiên cứu.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng của kỹ năng hợp tác với
bạn qua trò chơi ĐVTCĐ ở trẻ MGB, trường MN 2 - TP Huế chúng tôi sẽ
đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng kỹ năng hợp tác với bạn cho trẻ qua trò
chơi ĐVTCĐ.
5
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Kỹ năng hợp tác với bạn qua trò chơi ĐVTCĐ ở trẻ MGB, trường
MN 2- Thành phố Huế.
3.2. Khách thể nghiên cứu
- Trẻ MGB
- Trò chơi ĐVTCĐ
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.
4.2. Nghiên cứu thực trạng kỹ năng hợp tác với bạn qua trò chơi
ĐVTCĐ ở trẻ MGB, trường MN 2- Thành phố Huế.
4.3. Đề xuất biện pháp nhằm bồi dưỡng kỹ năng hợp tác với bạn qua
trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ MGB.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
5.1.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết: dùng để phân
tích lý giải, làm sáng tỏ các khái niệm liên quan, xác lập cơ sở lí luận của
vấn đề nghiên cứu.

cho trẻ MGB tại trường MN 2- Thành phố Huế
Chương 3: Một số biện pháp bồi dưỡng kỹ năng hợp tác với bạn qua
trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ MGB
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Tuy chưa thực sự được nghiên cứu và có công trình độc lập về vấn
đề kỹ năng hợp tác với bạn qua trò chơi ĐVTCĐ nhưng có thể nói có rất
nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đã nghiên cứu và đề cập đến kĩ
năng hợp tác của trẻ dưới nhiều góc độ khác nhau.
Tác giả Carrie Lynn trong Nuôi dạy trẻ từ 3- 6 tuổi đã xuất phát từ
tâm sinh lý của trẻ để đưa ra phương pháp nuôi dạy con, như hướng dẫn trẻ
kỹ năng hợp tác, cảm nhận niềm vui của sự hợp tác, xây dựng tinh thần
đoàn kết, người lớn là tấm gương sáng cho trẻ… M.Parten trong Trò chơi
nhóm của trẻ Mẫu giáo đã nghiên cứu về đặc điểm mối quan hệ giữa
người với người diễn ra trong trò chơi của trẻ. Tác giả đã làm nổi bật quan
hệ xã hội của trẻ trong khi chơi.
Ở trong nước, đáng kể có: Liêm Trinh trong Rèn luyện nhân cách
cho trẻ cho rằng cần rèn luyện tính hợp tác cho trẻ qua việc bày tỏ sự quan
tâm, chia sẻ với người khác những gì mình có và tôn trọng ý kiến của
người khác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tác giả Lê Xuân Hồng với
Những kỹ năng sư phạm mầm non- Tập 2 đã nghiên cứu những cách
thức, biện pháp phát triển những kỹ năng cần thiết cho trẻ mầm non, trong
đó có kỹ năng hợp tác. Theo đó, tác giả cho rằng cần thúc đẩy kỹ năng hợp
tác của trẻ bằng cách giúp trẻ học cách hòa nhập với những trẻ khác.
Nguyễn Ánh Tuyết trong Tâm lý học trẻ em lứa tuổi Mầm non,
Tâm lý học trẻ em - Tập 2 cũng đã đề cập đến vấn đề hình thành kỹ năng
8
hợp tác qua trò chơi ĐVTCĐ. Tác giả nhấn mạnh, đối với trò chơi đóng

của chủ thể.
2. Ở mức độ kỹ năng, thao tác chưa thuần thục và còn phải tập
trung chú ý.
3. Kỹ năng được hình thành qua luyện tập.
1.2.2. Hợp tác
Hợp tác là cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc,
một lĩnh vực nào đó để nhằm một mục đích chung [450,17].
Khái niệm này cho thấy:
1. Hợp tác bao giờ cũng diễn ra giữa hai hay nhiều cá nhân.
2. Hợp tác cần sự góp sức của mọi người để hoàn thành một công
việc, cũng có nghĩa công việc thúc đẩy sự hợp tác luôn vượt qua giới hạn
một người thực hiện được.
3. Phải có mục đích chung trong hợp tác, nếu có nhiều mục đích và
đặc biệt mục đích mâu thuẫn, đối lập nhau thì sẽ có nguy cơ phá vỡ sự hợp
tác.
1.2.3. Kỹ năng hợp tác
Từ những khái niệm Kỹ năng và Hợp tác, chúng tôi hiểu kỹ năng
hợp tác là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về hợp tác để giúp
đỡ nhau nhằm hoàn thành một mục đích chung.
1.2.4. Trò chơi đóng vai theo chủ đề
Trò chơi ĐVTCĐ là loại trò chơi mà khi chơi trẻ mô phỏng một
10
mảng nào đó của cuộc sống người lớn trong xã hội bằng việc nhập vào (hay
gọi là đóng vai) một nhân vật nào đó để thực hiện xã hội của họ bằng
những hành động mang tính tượng trưng [6,15].
Trò chơi ĐVTCĐ có một ý nghĩa đặc biệt trong quá trình lớn lên của trẻ
mẫu giáo. Trong khi chơi, trẻ lĩnh hội các tri thức, kinh nghiệm của xã hội loài
người, khám phá các mối quan hệ giữa những thành viên trong xã hội. Chơi
đóng vai bác sĩ, trẻ sẽ tưởng tượng và thực hiện công việc chăm sóc bệnh nhân.
Chơi đóng vai trong chủ đề gia đình, trẻ sẽ thể hiện suy nghĩ và cảm nhận về

thông qua đó hình thành thái độ đúng đắn cho người học đối với cuộc sống,
đối với lao động và đối với thực tiễn xung quanh. Nó là phương tiện để
hình thành nhân cách con người mới. Dạy học và giáo dục là hai quá trình
thống nhất. Dạy học ở mầm non phải thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của
bậc học mầm non.
Nguyên tắc này đòi hỏi khi xác định nội dung học tập, giáo viên phải
vạch ra những nhiệm vụ giáo dục cần giải quyết.
1.3.2.2. Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức
Nguyên tắc này yêu cầu mọi hoạt động tổ chức cho trẻ phải đảm
bảo vừa sức, dễ hiểu đối với trẻ. Theo I.A.Cômenxki, đảm bảo tính vừa
sức có nghĩa đi từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp, từ cái đã biết
đến cái chưa biết [94, 10]. Tính vừa sức phải được thể hiện trong nội
dung và phương pháp dạy học. Khi cho trẻ lĩnh hội tri thức mới phải
dựa trên cơ sở những cái trẻ được quan sát, đã biết, đã có trong kinh
nghiệm của chúng.
12
1.3.2.3. Nguyên tắc đảm bảo tính phát triển
Giáo dục là để phát triển các phẩm chất và năng lực vốn có của trẻ.
Tư tưởng dạy học mang tính phát triển do nhà tâm lý học L.X.Vưgôtxki đề
ra, trong đó yêu cầu việc dạy học luôn đi trước một bước, luôn đòi hỏi ở trẻ
sự nổ lực, cố gắng khi nắm tri thức mới.
Theo nguyên tắc này, khi dạy học không chỉ đưa ra cho trẻ những
nhiệm vụ dễ dàng, quen thuộc mà phải đưa ra cho trẻ những nhiệm vụ đòi
hỏi sự nổ lực hoạt động trí tuệ.
1.3.2.4. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và tính liên tục
Nguyên tắc này đòi hỏi việc sắp xếp nội dung chương trình học và
hoạt động học tập trong thực tiễn phải đảm bảo một trình tự lôgic, liên tục.
Tài liệu mới phải dựa trên cái đã học, các giờ học theo mức độ khó dần, các
tài liệu sau có mối liên hẹ với các tài liệu trước, tri thức được hệ thống hoá
trên cơ sở các mối liên hệ cơ bản giữa các sự vật hiện tượng.

từ của trẻ phát triển nhanh, trẻ đã biết nói từng câu ngắn, ít thành phần.
Kiểu loại ngôn ngữ tình huống đặc trưng ở giai đoạn này. Nhiều trẻ đã biết
diễn đạt ý muốn của bản thân khá rõ ràng.
Ngôn ngữ giúp trao đổi tư tưởng tình cảm, xác lập các mối quan hệ
giữa các thành viên trong nhóm chơi. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ giao
tiếp, chia sẻ và đi đến hiểu biết lẫn nhau.
* Nhận thức
Ở độ tuổi này, trẻ đã làm chủ được tri giác của mình dưới sự hướng
dẫn của người lớn. Trẻ rất tò mò, ham hiểu biết môi trường xung quanh.
14
Trẻ phân biệt được các màu sắc, kích thước, tính khối lượng…theo
hướng ngày càng gần với chuẩn nhận cảm của xã hội. Tuy nhiên, khi nhận
xét đồ vật, con người trẻ vẫn phụ thuộc vào dấu hiệu chủ quan bên ngoài.
Như vậy, tri giác của trẻ phát triển ở mức độ cao hơn so với lứa
tuổi trước.
Tư duy ở độ tuổi này được phát triển mạnh mẽ, từ loại trực quan
hành động chuyển đến trực quan hình tượng. Đặc trưng về tư duy của trẻ
MGB được các nhà khoa học xác nhận là:
+ Trực giác toàn bộ.
+ Gắn liền với xúc cảm và ý muốn chủ quan, chịu sự chi phối mạnh
của tình cảm.
+ Còn lẫn lộn dấu hiệu bản chất và không bản chất của sự vật
hiện tượng.
* Chú ý
Trẻ đã có khả năng duy trì sự chú ý vào đồ vật, đối tượng mới lạ, hấp
dẫn khoảng 15-20 phút. Trẻ có thể chú ý 2 - 3 đối tượng cùng một lúc. Tuy
nhiên, sự phân tán chú ý của trẻ trong giai đoạn này vẫn còn thể hiện mạnh
mẽ, nhiều khi trẻ không tự chủ được. Phần lớn trẻ dễ bị thay đổi do tác động
của môi trường xung quanh. Trẻ còn nhỏ, khả năng kiểm soát kém, tính ổn
định thấp, vì thế mà những gì lưu lại trong trẻ sẽ mờ nhạt. Do đó, việc thay

rất nhạy cảm của trẻ, làm cho trẻ tin yêu người lớn và dễ nghe theo, nghĩa
là bằng tình cảm và bằng tấm lòng thương yêu, chúng ta có thể giáo dục trẻ
làm theo những điều hay lẽ phải để trở thành người tốt. Đáp lại tình cảm
16
đó, trẻ đã biết làm việc giúp đỡ người lớn như: giữ em, lấy nước cho ông
bà… Những việc đó tuy nhỏ nhặt, kết quả không là bao nhưng lại có ý
nghĩa giáo dục rất lớn: giúp trẻ biết quan tâm đến người khác bằng những
hành vi tuy đơn giản nhưng mang đậm tình người.
Các loại xúc cảm, tình cảm khác như tình cảm đạo đức, tình cảm
thẩm mĩ, tình cảm trí tuệ… cũng bắt đầu hình thành. Qua giao tiếp ứng xử
với cô giáo, bạn bè và nếp sống gia đình… trẻ đã biết quan tâm đến mọi
người xung quanh như bố mẹ, ông bà, cô giáo, bạn bè. Ví dụ: trẻ biết quạt
cho bà khi bà ốm, biết lấy nước cho mẹ khi mẹ khát,… Qua hoạt động vui
chơi, hoạt động âm nhạc, tìm hiểu môi trường xung quanh, nghệ thuật tạo
hình, qua giao tiếp sinh hoạt với bạn bè, nhiều cảm xúc thẩm mỹ được hình
thành. Trẻ nhận biết cái đẹp trong tự nhiên, trong âm thanh nhịp điệu, trong
lời nói của cô giáo…
Những tình cảm bậc cao xuất hiện góp phần làm rõ nét dần những
đặc trưng “nhân cách gốc của trẻ” và có tác động không nhỏ đến sự hình
thành kỹ năng hợp tác cho trẻ. Chính những xúc cảm, tình cảm đã giúp
cho trẻ có cơ hội thu nhận thêm bao điều mới mẻ, bồi bổ cho trí tuệ luôn
luôn được tươi mát, làm cho nhận thức của trẻ về cuộc sống ngày càng
sâu sắc hơn.
* Ý chí
Trong quá trình giáo dục, do ảnh hướng của người lớn và các bạn
cùng tuổi, trẻ hình thành khả năng khắc phục khó khăn để đạt tới mục đích
đề ra như: trẻ biết tự kiểm tra tư thế của mình như ngồi im, không chạy
loăng quăng trong giờ học
Bản thân các hành động ý chí cũng được biến đổi trong suốt thời kỳ
mẫu giáo. Ở lứa tuổi này, những biểu hiện của ý chí tăng lên nhưng chúng

hơn, bay bổng hơn.
* Các mối quan hệ chơi: Trong trò chơi, cùng một lúc trẻ phải thực
hiện hai mối quan hệ: quan hệ chơi và quan hệ thực.
Quan hệ chơi là những mối quan hệ qua lại nhất định của các vai
chơi trong trò chơi theo một chủ đề nhất định. Chẳng hạn như quan hệ giữa
mẹ - con trong gia đình, quan hệ giữa người mua và người bán trong trò
chơi bán hàng, quan hệ bác sĩ - bệnh nhân… Đó là những mối quan hệ
được trẻ quan tâm và trở thành đối tượng hành động của trẻ.
Quan hệ thực là những quan hệ vốn có giữa trẻ và những người cùng
tham gia trò chơi như bạn bè, anh chị em…
Ở tuổi MGB, trẻ vẫn dễ lẫn lộn quan hệ chơi - quan hệ thực.
1.5.2. Vai trò của trò chơi ĐVTCĐ đối với sự phát triển tâm lý
của trẻ nói chung và bồi dưỡng kỹ năng hợp tác với bạn nói riêng
Những phẩm chất tâm lý của trẻ mẫu giáo được phát triển mạnh mẽ
nhất trong hoạt động vui chơi mà trung tâm là trò chơi ĐVTCĐ.
Trong trò chơi, ở trẻ bắt đầu hình thành chú ý có chủ định và ghi nhớ
được nhiều hơn bởi bản thân trò chơi đòi hỏi trẻ phải ghi nhớ để mô phỏng.
Nếu không chú ý và nhớ thì sẽ có nguy cơ hành động lung tung và bị bạn
không chấp nhận cùng chơi.
Loại trò chơi này cũng thúc đẩy sự phát triển tư duy theo hướng từ
bình diện bên ngoài (tư duy trực quan - hành động) vào bình diện bên trong
(tư duy trực quan - hình tượng). Mặt khác, trong khi chơi trẻ thường gặp
những khó khăn đòi hỏi trẻ phải suy nghĩ tìm cách để giải quyết. Có thể
thấy, trò chơi kích thích hoạt động tư duy ở trẻ.
19
Trò chơi ĐVTCĐ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngôn ngữ
của trẻ. Để chơi đóng vai trẻ phải có một trình độ ngôn ngữ nhất định để
giao tiếp. Để đáp ứng được những yêu cầu của việc cùng chơi, trẻ phải nói
rõ ràng, mạch lạc. Chơi đóng vai chính là điều kiện kích thích trẻ phát triển
ngôn ngữ một cách nhanh chóng.

việc. Vì vậy, một nhà hoạt động trong tương lai trước tiên phải được giáo
dục trong trò chơi. Toàn bộ lịch sử của mỗi con người là một nhà hoạt động
hay một cán bộ có thể quan niệm như là một quá trình phát triển của trò
chơi, một sự chuyển dịch từ sự tham gia vào trò chơi sang sự thực hiện các
công việc. Cũng vì vậy mà ta có quyền gọi: “Trò chơi là phương tiện để trẻ
học làm người” [23,7]
1.6. QUY TRÌNH VÀ YÊU CẦU SƯ PHẠM KHI TỔ CHỨC TRÒ
CHƠI ĐVTCĐ CHO TRẺ MG
1.6.1. Quy trình tổ chức trò chơi ĐVTCĐ
Tổ chức, hướng dẫn trò chơi ĐVTCĐ theo quy trình 3 bước: thoả
thuận trước khi chơi, quá trình chơi và nhận xét sau khi chơi.
* Hướng dẫn thoả thuận trước khi chơi:
Tuỳ theo khả năng chơi của trẻ, mức độ phát triển trò chơi mà giáo
viên hướng dẫn trẻ thoả thuận:
+ Về hình thức: Có 2 hình thức:
- Cô trực tiếp tham gia cùng thoả thuận với trẻ. Có thể:
. Cô thoả thuận với cá nhân trẻ.
. Cô cùng thoả thuận với nhóm trẻ.
21
. Cô cùng thoả thuận với tập thể trẻ.
- Cô định hướng, tự trẻ thoả thuận với nhau. Có thể:
. Trẻ - cá nhân.
. Trẻ - nhóm trẻ.
. Trẻ - tập thể.
+ Về nội dung thoả thuận: chọn chủ đề chơi, phân vai chơi, chọn đồ
chơi, chổ chơi và có đưa ra một vài tiêu chí mà trẻ cần thực hiện trong quá
trình chơi, lập kế hoạch chơi.
* Hướng dẫn quá trình chơi
- Trẻ chơi với vai đã nhận
- Cô xác định vai trò hướng dẫn trên cơ sở khả năng chơi của trẻ và

QUA TRÒ CHƠI ĐVTCĐ CỦA TRẺ MGB Ở TRƯỜNG MN 2
THÀNH PHỐ HUẾ
2.1. TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG MN 2
Trường MN 2 được thành lập từ năm 1976. Đầu tiên chỉ là những
lớp học rải rác trong nhà dân. Năm 1980 được chuyển đến 36 Đoàn Thị
Điểm và tiếp nhận trẻ trong độ tuổi từ 3 - 5 tuổi. Năm 2003 - 2004, trường
tiếp nhận thêm cơ sở nhà trẻ ở 30 Nguyễn Biểu - cách trường 500m.
Với sự nỗ lực vươn lên không ngừng của lãnh đạo và giáo viên,
trong nhiều năm qua trường đã được tặng nhiều phần thưởng cao quý như:
huân chương lao động hạng 3, danh hiệu chi bộ Đảng trong sạch, vững
mạnh, công đoàn cơ sở vững mạnh, xuất sắc, bằng khen của Tổng Liên
đoàn Lao động Việt Nam. Trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia giai
đoạn 2000 - 2005.
Hiện nay, trường có 2 cơ sở:
- Cơ sở 36 Đoàn Thị Điểm: có 12 phòng học, trong đó 4 phòng cho
lớp MGL, 4 phòng cho lớp MGN, 4 phòng cho lớp MGB. Có 3 phòng chức
năng: phòng năng khiếu, để học đàn, múa…, phòng truyền thống và phòng
thư viện, đồ chơi; 1 dãy các phòng hành chính gồm phòng hiệu trưởng,
hiệu phó và phòng kế toán tài vụ.
- Cơ sở 30 Nguyễn Biểu: có 3 phòng dành cho trẻ từ 1 đến dưới 3
tuổi, 1 phòng ngủ, 1 phòng bếp và 2 phòng vệ sinh.
24
Ngoài việc chăm lo cơ sở vật chất, nhà trường luôn chú trọng nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ - giáo viên - nhân viên, đáp ứng yêu cầu
phát triển của ngành. Cụ thể:
Bảng 2.1. Thống kê đội ngũ cán bộ - giáo viên - nhân viên
STT Thành phần và tổ chức đoàn thể của trường Số lượng
1 Ban giám hiệu 2
2 Giáo viên 33
3 Nhân viên 15

chế về thời gian làm việc. Thiết nghĩ, sự thấu hiểu và giúp đỡ của gia đình
sẽ là động lực quan trọng trong việc chăm sóc - giáo dục trẻ ở trường mầm
non cũng như tạo điều kiện tốt cho trẻ phát triển bền vững.
Trẻ MGB ở trường MN2 có 4 lớp với tổng số là 183 trẻ. Mỗi lớp
trung bình từ 43 -50 trẻ được 2 cô giáo phụ trách. Đa số trẻ khỏe mạnh,
nhanh nhẹn, ngoan ngoãn, tích cực tham gia các hoạt động ở trường MN .
Cụ thể như sau:
Bảng 2.3. Thống kê số lượng trẻ MGB
Trẻ MGB trường MN 2- Thành phố Huế
Lớp Nam Nữ Tổng số
C
1
25 22 47
C
2
24 21 45
C
3
27 19 46
C
4
22 23 45
TỔNG 98 85 183

Trích đoạn CƠ SỞ XÂY DỰNG BIỆN PHÁP Tạo môi trường thân thiện ở lớp học Phát triển ngôn ngữ và tổ chức tốt hoạt động giao tiếp cho trẻ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status