MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
LUẬN VĂN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Agribank : Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
CNTT : Công nghệ thông tin
DN : Doanh nghiệp
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
HTX : Hợp tác xã
KH : Khách hàng
NH : Ngân hàng
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHNo & PTNT : Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NHPH : Ngân hàng phát hành
NHTB : Ngân hàng thông báo
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
SWIFT : Hiệp hội viễn thông liên Ngân hàng thế giới
TCTD : Tổ chức tín dụng
TGCKH : Tiền gửi có kỳ hạn
TGĐ : Tổng Giám đốc
TMQT : Thương mại quốc tế
TTQT : Thanh toán quốc tế
UCP : Quy tắc và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Danh mục sơ đồ
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ
góp phần vào việc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước mà còn
là một tất yếu quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng
trong cơ chế thị trường, giúp Agribank Bắc Ninh sớm hội nhập với hệ thống
Ngân hàng trong nước và thế giới.
Thanh toán quốc tế thực sự là phức tạp và còn nhiều tồn tại trong cơ
chế nghiệp vụ cũng như trong công tác tổ chức và thực hiện. Chính vì vậy,
chúng ta cần phải quan tâm nghiên cứu, tìm ra biện pháp khắc phục. Xuất
phát từ những vấn đề trên và là một cán bộ làm việc tại Ngân hàng tôi chọn đề
tài “ Phát triển thanh toán quốc tế tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp
và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh” để nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận cơ bản về thanh toán quốc tế của
Ngân hàng thương mại.
- Phân tích và đánh giá việc phát triển thanh toán quốc tế tại Agribank
Bắc Ninh.
- Đề xuất các giải pháp phát triển thanh toán quốc tế tại Agribank Bắc Ninh.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thanh toán quốc tế tại Agribank
Bắc Ninh.
- Phạm vi nghiên cứu: thực trạ ng thanh toán quốc tế tại Agribank Bắc
Ninh giai đoạn 2005-2008.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp hệ thống, thống kê, so sánh và phân
tích để xử lý các thông tin, số liệu đã được thu thập về tình hình thanh toán
2
quốc tế để thấy rõ được những kết quả cũng như những hạn chế của Agribank
Bắc Ninh trong hoạt động này. Đồng thời tìm hiểu các định hướng, chiến lược
phát triển thanh toán quốc tế của chi nhánh trong thời gian tới. Từ đó tìm ra
một số giải pháp, đề xuất nhằm phát triển thanh toán quốc tế tại chi nhánh.
5. Đóng góp của đề tài
trong đó NHTM là cầu nối trung gian.
TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả về tiền tệ phát sinh từ các quan
hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng và dịch vụ phi mậu dịch giữa các tổ
chức, cá nhân của các nước khác nhau để kết thúc một chu trình hoạt động trong
lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng các phương thức thanh toán khác nhau như
chuyển tiền, nhờ thu, thư tín dụng Từ khái niệm trên cho thấy, TTQT phục vụ
cho hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi kinh tế. Trong thực tế, giữa hai lĩnh
vực này thường có sự giao thoa nhau. TTQT được hình thành trên cơ sở hoạt động
ngoại thương và phục vụ chủ yếu cho hoạt động ngoại thương, chính vì vậy,
người ta chia TTQT thành hai lĩnh vực rõ ràng là: thanh toán trong ngoại thương
và thanh toán phi ngoại thương.
TTQT trong ngoại thương là việc thực hiện thanh toán trên cơ sở hàng hoá
xuất nhập khẩu và các dịch vụ thương mại cung ứng cho nước ngoài theo giá cả
thị trường quốc tế. Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là
hợp đồng ngoại thương.
4
Thanh toán phi ngoại thương là việc thực hiện thanh toán không liên quan
đến hàng hoá xuất nhập khẩu cũng như cung ứng lao vụ cho nước ngoài, nghĩa là
thanh toán cho các hoạt động không mang tính thương mại. Đó là việc chi trả các
chi phí của các cơ quan ngoại giao ở nước ngoài, các chi phí đi lại ăn ở của các
đoàn khách nhà nước, tổ chức và cá nhân; các nguồn tiền quà biếu, trợ cấp của cá
nhân người nước ngoài cho cá nhân người trong nước, các nguồn trợ cấp của một
tổ chức từ thiện nước ngoài cho tổ chức, đoàn thể trong nước
Nhìn chung hoạt động ngoại thương có một số điểm khác cơ bản so với
hoạt động nội thương, trong đó hoạt động ngoại thương liên quan đến:
- Người mua và người bán ở hai nước hoặc hai quốc tịch khác nhau
- Đồng tiền sử dụng trong thanh toán có thể là đồng tiền của một trong hai
nước hoặc đồng tiền của nước thứ ba.
- Hàng hoá mua bán thường dịch chuyển qua biên giới giữa các nước, đi từ
nước người bán đến nước người mua.
hoặc khi ngoại tệ từ nước ngoài về thông qua con đường kiều hối hay thanh
toán hàng xuất khẩu.
TTQT giúp các NHTM nâng cao uy tín, ưu thế của mình trên thị trường
quốc tế. Từ đó khai thác được nguồn vốn tài trợ của các NH nước ngoài và nguồn
vốn trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng được nhu cầu tín dụng trong
nước, thu được các khoản phí dịch vụ thanh toán như phí thanh toán L/C, nhờ thu,
chuyển tiền, phí từ kiều hối, bảo lãnh góp phần không nhỏ vào doanh thu và lợi
nhuận của NH.
- Đối với các DN xuất nhập khẩu: TTQT là khâu cuối cùng trong việc thực
hiện hợp đồng ngoại thương, nó khép lại một chu trình mua bán hàng hoá, dịch
vụ. Đây là một nghiệp vụ phức tạp, ẩn chứa nhiều rủi ro ngoài dự kiến, bởi vậy,
6
ngay cả khi hai bên mua bán thống nhất mức giá, phương thức thanh toán, thời
hạn thanh toán nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra do những nguyên nhân khách quan
hoặc những nguyên nhân bất khả kháng. Do đó, yêu cầu đặt ra cho TTQT là phải
đảm bảo an toàn cho các hợp đồng ngoại thương, thu tiền và nhận hàng đầy đủ,
đúng như hợp đồng đã quy định.
Thông qua hoạt động TTQT với các bạn hàng nước ngoài, các DN xuất
nhập khẩu có điều kiện nắm bắt các thông tin về thị trường, hiểu biết thêm về đối
tác. Trên cơ sở đó cân đối về tiềm lực, đề ra các chiến lược kinh doanh thích hợp,
ngăn ngừa, hạn chế rủi ro.
Khi TMQT phát triển, đòi hỏi TTQT cũng phải đổi mới để phù hợp với nó.
Chính vì thế, nghiên cứu TTQT và các vấn đề có liên quan như tiền tệ, tỷ giá hối
đoái luôn là sự quan tâm của các nhà kinh tế, các NH và các DN xuất nhập khẩu.
1.1.3 Các hình thức thanh toán quốc tế
Các hình thức hay phương thức TTQT là toàn bộ nội dung, điều kiện và
cách thức để NH tiến hành việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán giữa cá nhân, tổ
chức ở những quốc gia, lãnh thổ khác nhau.
Lựa chọn phương thức thanh toán sao cho thích hợp với từng thương vụ, mối
quan hệ giữa các bên hợp đồng là một yếu tố góp phần hạn chế rủi ro trong TTQT. Các
(5) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của
thư tín dụng, xuất trình qua NHTB cho NHPH L/C đề nghị thanh toán.
8
NHPH
L/C
NHTB
L/C
Nhà
nhập khẩu
Nhà
xuất khẩu
(6) NHPH L/C kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì tiến
hành trả tiền nhà xuất khẩu. Nếu thấy không phù hợp, NH từ chối thanh toán và
gửi lại toàn bộ chứng từ cho người xuất khẩu.
(7) NHPH L/C đòi tiền người nhập khẩu và chuyển toàn bộ chứng từ cho
họ sau khi nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán.
(8) Nhà nhập khẩu kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với thư tín dụng thì
trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền, nếu không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền.
c/ Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng phương thức thư tín dụng:
- Văn bản pháp lý quốc tế thông dụng của tín dụng chứng từ là “Quy tắc
thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ, số 600, bản sửa đổi năm 2007” của
Phòng Thương mại quốc tế (viết tắt là UCP 600). Bản quy tắc này mang tính chất
pháp lý tuỳ ý, nghĩa là khi áp dụng nó các bên đương sự phải thoả thuận ghi vào
L/C. Hiện nay ở nước ta, các NHTM và các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu đã
thống nhất sử dụng bản Quy tắc này như một văn bản pháp lý điều chỉnh các loại
thư tín dụng được áp dụng trong TTQT giữa Việt Nam và các quốc gia khác.
- Đặc điểm giao dịch L/C:
+ L/C là hợp đồng kinh tế hai bên: Nhiều người lầm tưởng cho rằng, L/C là
hợp đồng kinh tế ba bên, gồm: người yêu cầu mở L/C, NHPH và người thụ
hưởng. Thực tế L/C là hợp đồng kinh tế độc lập chỉ của hai bên là NHPH và
Các NH, chỉ trên cơ sở chứng từ kiểm tra việc xuất trình để quyết định xem trên
bề mặt của chứng từ có tạo thành một xuất trình phù hợp hay không. Như vậy, các
chứng từ trong giao dịch L/C có tầm quan trọng đặc biệt, nó là bằng chứng về việc
giao hàng của người bán, là đại diện cho giá trị hàng hoá đã được giao, do đó,
chúng trở thành căn cứ để NH trả tiền, là căn cứ để nhà nhập khẩu hoàn trả tiền
cho NH, là chứng từ đi nhận hàng của nhà nhập khẩu Việc nhà xuất khẩu có thu
10
được tiền hay không, phụ thuộc duy nhất vào xuất trình chứng từ có phù hợp,
đồng thời, NH cũng chỉ trả tiền khi bộ chứng từ xuất trình phù hợp, nghĩa là NH
không chịu trách nhiệm về sự thật của hàng hoá mà bất kỳ chứng từ nào đại diện.
Khi chứng từ xuất trình là phù hợp thì NHPH phải thanh toán vô điều kiện
cho nhà xuất khẩu, mặc dù trên thực tế hàng hoá có thể không được giao hoặc
được giao không hoàn toàn đúng như ghi trên chứng từ. Như vậy, việc thanh toán
L/C không thể căn cứ vào tình hình thực tế của hàng hoá, nếu hàng hoá không
khớp với chứng từ thì hai bên mua bán trực tiếp giải quyết với nhau trên cơ sở hợp
đồng mua bán, không liên quan đến NH. Chỉ trong trường hợp chứng từ không
phù hợp, mà NH vẫn thanh toán cho người xuất khẩu, thì NH phải chịu hoàn toàn
trách nhiệm, bởi vì người nhập khẩu có quyền từ chối thanh toán lại tiền cho NH.
- Nội dung của L/C và bộ chứng từ phải không được mâu thuẫn nhau: Vì
giao dịch chỉ bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ nên yêu cầu
tuân thủ chặt chẽ của chứng từ là nguyên tắc cơ bản của giao dịch L/C. Để được
thanh toán, người xuất khẩu phải lập được bộ chứng từ phù hợp, tuân thủ chặt chẽ
các điều khoản và điều kiện của L/C.
- L/C là công cụ thanh toán, hạn chế rủi ro hay là công cụ từ chối thanh
toán và lừa đảo? Xét về giác độ là công cụ thanh toán và phòng ngừa rủi ro cho
nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu thì L/C có ưu điểm vượt trội so với các phương
thức thanh toán khác. Chính vì vậy mà phương thức này đã tồn tại phát triển như
ngày nay. Tuy nhiên, trong thực tiễn TMQT, do diễn biến của thị trường, giá cả
hàng hoá mà L/C có thể bị lạm dụng trở thành công cụ để từ chối nhận hàng, từ
chối thanh toán và là công cụ để gian lận và lừa đảo.
Người
hưởng lợi
(4)
(2)
(3)
(5)
(1)
- (1) Bước này chỉ thực hiện khi có hợp đồng ngoại thương xuất hiện. Sau
khi ký kết hợp đồng ngoại thương, bên xuất khẩu thực hiện việc giao hàng, đồng
thời gửi cho nhà nhập khẩu bộ chứng từ (hoá đơn, B/L )
- (2) Sau khi kiểm tra bộ chứng từ (hoặc hàng nếu quyết định trả tiền thì
nhà nhập khẩu viết đơn yêu cầu chuyển tiền gửi NH phục vụ mình
- (3) Sau khi kiểm tra chứng từ và các điều kiện chuyển tiền theo quy định,
nếu thấy hợp lệ và đủ khả năng thanh toán, NH của nhà nhập khẩu sẽ tiến hành
chuyển tiền.
- (4) NH chuyển tiền ra lệnh cho NH phục vụ bên xuất khẩu chi trả cho
người thụ hưởng.
- (5) NH trả tiền ghi có vào tài khoản của người hưởng lợi và gửi giấy báo
có cho người hưởng lợi.
c/ Ưu, nhược điẻm của phương thức chuyển tiền
+ Ưu điểm:
Đối với người chuyển tiền: thông thường trong ngoại thương chuyển tiền
được thực hiện sau khi đã nhận xong hàng hoá, chính vì vậy nhà nhập khẩu có thể
tận dụng được vốn của nhà xuất khẩu do chưa phải thanh toán ngay. Bên cạnh đó
chi phí để thực hiện chuyển tiền bao giờ cũng rẻ hơn chi phí để thực hiện phương
thức khác như tín dụng chứng từ.
Đối với người nhận tiền: Cũng như người chuyển tiền, người nhận tiền sẽ
mất ít chi phí hơn, thời gian và thủ tục nhanh gọn hơn các phương thức khác do
vậy tiết kiệm được công sức và tiền bạc.
+ Nhược điểm: Bên chuyển tiền có thể chiếm dụng vốn của bên nhận tiền
- Trình tự tiến hành nghiệp vụ nhờ thu phiếu trơn gồm các bước:
+ Người bán sau khi gửi hàng và chứng từ gửi hàng cho người mua, lập
một hối phiếu đòi tiền người mua và uỷ thác cho NH của mình đòi tiền hộ bằng
chỉ thị nhờ thu.
+ NH phục vụ bên bán gửi thư uỷ thác nhờ thu kèm hối phiếu cho NH đại
lý của mình ở nước người mua nhờ thu tiền.
+ NH đại lý yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu (nếu là hối phiếu trả tiền
ngay) hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu (nếu là trả chậm).
+ NH đại lý chuyển tiền thu được cho người bán, nếu chỉ là chấp nhận hối
phiếu thì NH giữ hối phiếu hoặc chuyển lại cho người bán. Khi đến hạn thanh
toán NH sẽ đòi tiền người mua và thực hiện chuyển tiền trả người bán.
Sau đây là sơ đồ trình tự nghiệp vụ nhờ thu phiều trơn:
Sơ đồ 1.3: Quy trình nghiệp vụ nhờ thu phiếu trơn
(1) Nhờ thu hối phiếu
(2, 3) Đòi tiền người mua
(4) Người mua trả tiền cho người bán
- Phương thức nhờ thu phiếu trơn thường chỉ được áp dụng cho những
trường hợp sau:
15
NH
chuyển chứng từ
NH thu và
xuất trình chứng từ
Người bán
Người mua
(2)
chuyển chứng từ
NH thu và
xuất trình chứng từ
Người bán
Người mua
(4)
(2)
(4)
(4)
(3)
(1)
Gửi hàng
Cũng giống như nhờ thu phiếu trơn, chỉ khác ở khâu (1) là lập một bộ
chứng từ nhờ NH thu hộ tiền. Bộ chứng từ gồm có hối phiếu và các chứng từ gửi
hàng kèm theo, ở khâu (3) là NH đại lý chỉ trao chứng từ gửi hàng cho người mua
nếu như người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu.
Trong nhờ thu kèm chứng từ, người bán uỷ thác cho NH ngoài việc thu hộ
tiền còn nhờ NH khống chế chứng từ vận tải đối với người mua. Đây là sự khác
nhau cơ bản giữa nhờ thu kèm chứng từ và nhờ thu phiếu trơn. Với cách khống
chế chứng từ này, quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn.
- Người bán thông qua NH mới khống chế được quyền định đoạt hàng hoá
của người mua, chứ chưa khống chế được việc trả tiền của người của người mua.
Người mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa nhận chứng từ hoặc có thể
không trả tiền cũng được, khi tình hình thị trường bất lợi với họ.
- Trong phương thức này NH chỉ đóng vai trò là người trung gian thu tiền
hộ, còn không có trách nhiệm đến việc trả tiền của người mua.
d/ Những vấn đề sử dụng phương thức nhờ thu:
- Văn bản pháp lý quốc tế thông dụng của nhờ thu là “Quy rắc thống nhất
về nhờ thu” số 522 của Phòng thương mại quốc tế, bản sửa đổi năm 1995
(Uniform Rules for the Collection, 1995 Revision No 522, ICC).
ghi sổ bởi vì giữa các nước này có sự tương đồng về văn hoá, tập quán kinh
doanh, luật lệ, các KH có mối quan hệ kinh doanh truyền thống, thường xuyên,
lâu dài và tin tưởng lẫn nhau.
18
c/ Trình tự tiến hành nghiệp vụ:
Ng
Sơ đồ 1.5: Quy trình nghiệp vụ ghi sổ
(1) Giao hàng hoặc dịch vụ cùng với gửi chứng từ hàng hoá.
(2) Báo nợ trực tiếp
(3) Người mua dùng phương thức chuyển tiền để trả tiền khi đến kỳ thanh toán.
d/ Trường hợp cho áp dụng:
- Thường dùng cho thanh toán nội địa.
- Hai bên mua, bán phải thực sự tin cậy lẫn nhau.
- Dùng cho phương thức mua bán hàng đổi hàng, nhiều lần, thường xuyên
trong một thời kỳ nhất định (6 tháng, 1 năm).
- Phương thức này chỉ có lợi cho người mua.
- Dùng cho thanh toán tiền gửi bán hàng ở nước ngoài.
- Dùng trong thanh toán phi mậu dịch như: tiền cước phí vận tải, tiền phí bảo
hiểm, tiền hoa hồng trong nghiệp vụ môi giới, uỷ thác, tiền lãi cho vay và đầu tư.
e/ Những điều cần chú ý khi áp dụng là:
- Quy định thống nhất đồng tiền ghi trên tài khoản.
- Căn cứ ghi nợ của người bán thường là hoá đơn thương mại.
- Căn cứ nhận nợ của người mua, hoặc là dựa vào trị giá hoá đơn giao
hàng, hoặc là dựa vào kết quả nhận hàng ở nơi nhận hàng.
19
NH
bên Bán
NH bên mua
Người bán
Người mua
thể nói lên chất lượng và độ an toàn của hoạt động này. Do đặc thù của TTQT
có liên quan đến yếu tố nước ngoài nên mức độ rủi ro lớn, chính vì lẽ đó
20
ngoài việc mở rộng quy mô hoạt động các NHTM không thể bỏ qua khâu chất
lượng. Và đó chính là việc phát triển TTQT về mặt chất. Để nâng cao chất
lượng TTQT, các NHTM có nhiều biện pháp hữu hiệu, có thể nêu ra một số
biện pháp như:
+ Thiết lập các NH đại lý ở các nước, vùng, lãnh thổ trên thế giới và
coi đây như là một mắt xích quan trọng giúp NH trong nước tìm hiểu rõ đối
tượng KH tại nước có đặt NH đại lý.
+ Xây dựng một quy trình TTQT phù hợp với luật pháp trong nước và
các tập quán, luật pháp quốc tế. Điều này giúp cho hệ thống hoạt động trơn
tru hơn, chuyên nghiệp hơn và do đó hạn chế được những rủi ro.
+ Một yếu tố vô cùng quan trọng khác chính là nguồn nhân lực. Bố trí,
phân công cán bộ làm nghiệp vụ TTQT ngoài những tiêu chuẩn chung phải là
những người có trình độ chuyên môn và ngoại ngữ.
Ngày nay, TTQT là một dịch vụ trở lên quan trọng đối với các NHTM,
nó đem lại nguồn thu đáng kể không những về số lượng tuyệt đối mà còn cả
về tỷ trọng. TTQT còn là một mắt xích quan trọng trong việc chắp nối và thúc
đẩy phát triển các hoạt động kinh doanh khác của NH như kinh doanh ngoại
tệ, bảo lãnh NH, kiều hối, tăng cường nguồn vốn huy động, đặc biệt là vốn
bằng ngoại tệ.
Việc hoàn thiện và phát triển TTQT có vai trò hết sức quan trọng đối
với hoạt động NH, nó không chỉ là một dịch vụ thanh toán thuần tuý mà còn
là khâu trung tâm không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh doanh, bổ
sung và hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh khác của NH.
Ngày nay, do nghiệp vụ NH quốc tế phát triển mạnh mẽ, thuận tiện, an
toàn và hiệu quả nên hầu hết hoạt động TTQT đều diễn ra thông qua hệ thống
NH, đồng thời TTQT đã phát triển theo một tập quán thống nhất trên quy mô
toàn thế giới thông qua các phương thức TTQT khác nhau.