nhận xét thái độ xử trí sản khoa đối với thai phụ đái tháo đường thai nghén 3 tháng cuối tại bệnh viện phụ sản trung ương - Pdf 23

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong số các bệnh nội tiết và rối loạn
chuyển hóa mạn tính đã và đang được xem là những vấn đề cấp thiết của thời
đại. Hiện nay bệnh đang gia tăng nhanh trên toàn cầu và phổ biến trên thế
giới cũng như Việt Nam.Theo ước tính của tổ chức y tế thế giới năm 1985 có
30 triệu người mắc bệnh ĐTĐ, năm 2000 có 177 triệu người mắc bệnh ĐTĐ
và ước tính năm 2030 con số sẽ là 360 triệu người.Nhưng hiện nay con số này
đã là 380 triệu người. Việt Nam không nằm trong nhóm quốc gia có tỉ lệ bệnh
nhân ĐTĐ cao nhất thế giới, nhưng là một trong 10 quốc gia có tỷ lệ mắc
ĐTĐ cao nhất châu Á và nằm trong 10 quốc gia có tỷ lệ gia tăng bệnh ĐTĐ
cao nhất thế giới [1].
Theo điều tra của Bộ y tế, tỷ lệ ĐTĐ của người Việt Nam năm 2013 đang
ở mức 5,7% và bệnh nhân đang có chiều hướng gia tăng gấp 2 vào năm 2030 [1].
Đái tháo đường thai nghén (ĐTĐTN) là một bệnh cảnh đặc biệt của
ĐTĐ, nếu không được chẩn đoán và điều trị sẽ gây nhiều tai biến cho mẹ và
thai nhi. Đặc biệt ĐTĐTN được xem là một trong những nguyên nhân chính
làm gia tăng tỷ lệ ĐTĐ. Trong ĐTĐTN môi trường chuyển hóa trong buồng
tử cung, mà người mẹ đã tạo ra cho con của họ, có ảnh hưởng lớn đến phát
triển ĐTĐ trong tương lai. Hiệu ứng bệnh lý này được chuyển giao qua các
thế hệ, hình thành chu trình xấu khi con của các bà mẹ ĐTĐTN lại mắc chính
căn bệnh này, khiến cho cháu chắt của họ cũng sẽ bị ĐTĐ [2],[3].
Trong thực hành lâm sàng mục tiêu chính của chẩn đoán và điều trị
ĐTĐTN là đưa tỷ lệ biến chứng thai sản về tương đương với nhóm thai nghén
không có ĐTĐ [4]. Để đạt được điều này, chúng ta cần phải đồng thời kiểm
soát tốt chuyển hóa, quản lý thai kỳ chặt chẽ, cân nhắc chọn thời điểm kết
thúc thai kỳ và chọn phương pháp đẻ có lợi nhất cho cả mẹ và con [5]. Xử trí
2
sản khoa đối với thai phụ ĐTĐTN là một trong các vấn đề quan trọng mà thế
giới hiện đang tập trung nghiên cứu với mong muốn tìm được ra giải pháp tối
ưu làm giảm biến chứng cho mẹ và con [6]. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn

D: ĐTĐTN ở bệnh nhân có ĐTĐ từ trước, từ khi ít hơn 10 tuổi, thời
gian mắc bệnh hơn 20 năm.
F: ĐTĐTN có tổn thượng thận.
4
R: ĐTĐTN có tổn thương tăng sinh võng mạc mắt hay xuất huyết thể
thủy tinh.
H: ĐTĐTN có tổn thương mạch (xơ vữa động mạch).
T: ĐTĐTN ở người suy thận phải ghép thận.
1.2.2. Phân loại của hội nghị ĐTĐ quốc tế
Loại 1: ĐTĐ phụ thuộc insulin, có thai.
Loại 2: ĐTĐ không phụ thuộc insulin, có thai.
Loại 3: ĐTĐTN.
Loại 4: Rối loạn giảm dung nạp glucose.
1.3. Điểm qua lịch sử phát hiện, nghiên cứu, chẩn đoán của ĐTĐTN.
Vào đầu thế kỷ XIX, năm 1928, Dennwitz lần đầu công bố một
trường hợp ĐTĐ phát hiện trong thời kỳ mang thai. Đó là thai phụ 22 tuổi
mang thai lần thứ 4 có triệu chứng đi tiểu nhiều lần vào tháng thứ 5 cùng
với triệu chứng khác như khát nước da khô…và được chẩn đoán là ĐTĐ,
điều trị bằng chế độ ăn kiêng. Thai phụ đủ tháng nhưng nhi chết trong khi
đẻ và cân nặng của thai là > 4000 gram [9].
Vào thời gian này ĐTĐ được coi là bệnh có tiên lượng vô cùng xấu và
vô sinh luôn đi cùng với phụ nữ bị ĐTĐ [10]. Tại Nhật Bản, vào nhưng năm
60 thế kỷ trước, trong các trường y khoa, người ta dạy cho các sinh viên rằng
phụ nữ mắc ĐTĐ không được mang thai và bác sỹ thường khuyên bỏ thai ở
những thai phụ bị ĐTĐ [2].
Insulin được xem là sự kiện trọng đại, làm thay đổi toàn bộ viễn cảnh
của ĐTĐ và đem lại khả năng sinh đẻ cho phụ nữ.
5
Đến cuối thế kỷ XIX Mathews Ducan lần đầu công bố công trình
nghiên cứu về ĐTĐ ở thai phụ tại hội nghị sản khoa Anh quốc 1983. Quan sát

Các nghiên cứu lớn trên thế giới cho thấy tỷ lệ ĐTĐTN là 2.2- 8.8%
thai phụ. Tỷ lệ này khác nhau tùy theo vùng địa lý và phụ thuộc vào từng
chủng tộc cũng như tiêu chuẩn dùng để chẩn đoán [11].
Theo nghiên cứu của Moshe năm 1998 trên các nhóm củng tộc khác
nhau cho thấy tỷ lệ ĐTĐTN khác nhau rõ rệt và bệnh có xu hướng gặp nhiều
ở phụ nữ châu Á.
Theo nghiên cứu của Moshe, tỷ lệ ĐTĐTN theo nhóm chủng tộc từ
3,1% - 12,2% [12].
Bảng 1.1. Tỷ lệ ĐTĐTN theo nhóm chủng tộc
Nhóm Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)
Người Úc 2114 6,1%
Người Châu Âu 534 7,1
Người Thổ dân 20 5,0%
Người ở các đảo khu vực
Thái Bình Dương
21 9,5%
Người Châu Á 90 12,2%
Nhóm người khác 129 3,1%
Bảng 1.2. Tỷ lệ ĐTĐTK của một số quốc gia trên thế giới [13]
Quốc gia Năm Tỷ lệ ĐTĐTN
7
Đan Mạch 1975 1 - 7%
Bắc Ailen 1980 0,2-3%
Hoa Kỳ 1980 12,3%
Thụy Điển 1984 1,3%
Anh 1984 4%
Australia 1988 2,4%
1.4.2. Việt Nam
Bảng 1.3. Tỷ lệ ĐTĐTN qua nghiên cứu tại Việt Nam
Tác giả Năm Địa điểm Tỷ lệ (%)

leptin – là chất có vai trò trong việc quản lý dự trữ lipid tại các mô mỡ, tạo
nên sự ăn ngon miệng và điều khiển chuyển hóa năng lượng tại các mô mỡ.
Do vậy khi có rối loạn gen này bệnh nhân sẽ có cảm giác đói và ăn ngon
miệng mặc dù không thiếu năng lượng. Điều này dẫn đến béo phì và rối loạn
chuyển hóa.
1.5.3. Rối loạn cơ quan thụ cảm của Insulin
9
Trong các trường hợp ĐTĐTN, IRS-1 thường rất thấp, trong khi IRS-
2 lại tăng cao dẫn đến quá trình chuyển hóa glucose trong tế bào bị rối loạn do
tác động của insulin bị giảm sút. Ngoài ra trong các nghiên cứu gần đây cho
thấy những bệnh nhân ĐTĐ do tăng kháng insulin, lượng PC -1(plasma cell
membrane glycoprotein ) tăng rất cao tại cơ quan thụ cảm của insulin, làm
giảm khả năng tiếp nhận insulin tại các cơ quan thụ cảm ở màng tế bào.
IRS-1 là protein vòng được phosphoryl hóa giúp truyền tín hiệu từ các
cơ quan thụ cảm của insulin và cơ quan thụ cảm của insulin like growth factor
từ màng tế bào vào trong tế bào. Như vậy IRS-1 có vai trò quan trọng trong quá
trình chuyển hóa glucose vào trong các tế bào và phát triển cấu trúc mô. Sự
thiếu hụt IRS-1 sẽ dẫn đến ĐTĐ trên lâm sàng và ảnh hưởng đến sự phát triển
của cơ thể.
IRS -2 là protein có vai trò trong việc điều hòa hoạt động của insulin,
nó có vai trò như một yếu tố ức chế các cơ quan thụ cảm tyrosin kinase.
Gần đây những phát hiện mới về cơ quan thụ cảm của PPAR
(perroxisome proliferator activate receptor) và vai trò chuyển hóa của nó
trong chuyển hóa insulin là một cơ chế bệnh sinh mới. Ngoài vai trò điều hòa
lipid, PPAR-gama còn tham gia vào cơ chế vận chuyển insulin qua màng tế
bào .Vì vậy rối loạn hoạt động của men này sẽ dẫn đến giảm tính nhậy cảm
của các tế bào với insulin và hậu quả gây ĐTĐTN.
1.5.4. Rối loạn vận chuyển Glucose và hoạt động của insulin
Sự vận chuyển insulin qua màng tế bào do các protein vận chuyển có
tên là GLUT(glucose transporrter) đảm nhận. Có khoảng 13 loại GLUT,

11
* Nguy cơ cao.
- Tuổi trên 35.
- Thừa cân, béo phì:
Ở người béo phì có tỷ lệ bị ĐTĐ cao và có tới 80-90% người bị ĐTĐ
có béo phì ở hoa kì. Hầu hết các nghiên cứu đều nhận thấy tỷ lệ ĐTĐTN ở
nhóm phụ nữ béo phì cao [18].
Theo khuyến cáo của WHO đề nghị cho khu vực châu Á -Thái Bình
Dương tháng 2/2000, BMI ≥ 23 được coi là thừa cân và béo phì [19].
Tạ văn Bình và cộng sự trong nghiên cứu thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐTN
nhóm BMI <23 và nhóm BMI ≥ 23 có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với
p<0,005.
- Tiền sử gia đình:
Tiền sử gia đình có người bị ĐTĐ, đặc biệt là người ĐTĐ thế hệ thứ
nhất là một trong những yếu tố nguy cơ cao của ĐTĐTN chiếm 50-60% so
với nhóm không có tiền sử gia đình [18],[20]. Theo nghiên cứu của
Wagaarachchi năm 2001thấy tỷ lệ mắc ĐTĐTN của thai phụ có tiền sử gia
đình là 5,2% trong khi nhóm không có tiền sử gia đình là 3,9% [20].
- Tiền sử đẻ con ≥ 4000g, với người Việt nam chỉ cần từ 3600 trở lên
Cân nặng trẻ lúc đẻ ra vừa là hậu quả của ĐTĐTN vừa là yếu tố nguy
cơ cho lần mang thai sau.
- Tiền sử bất thường về dung nạp glucose:
Đây là yếu tố nguy cơ cao của ĐTĐTN. Đa số người có tiền sử
RLDNG thì khi có thai đều bị ĐTĐTN. Tiền sử này bao gồm cả tiền sử bị
ĐTĐTN từ những lần sinh trước, và giảm dung nạp glucose [21].Trong
12
nghiên cứu của mình, Wah Cheung đã nhận thấy đây là yếu tố nguy cơ của
ĐTĐTN với tỷ suất chênh so với nhóm không mắc ĐTĐTN là OR =14,5 [19].
- Tiền sử sản khoa bất thường:
Bao gồm các tiền sử bất thường như: Thai chết lưu, sẩy thai liên tiếp

Thai phụ ĐTĐTN có nguy cơ bị tiền sản giật cao hơn các thai phụ
thường. Tiền sản giật bao gồm các triệu chứng: tăng huyết áp, có protein niệu,
phù. Tỷ lệ các phụ nữ ĐTĐTN bị tiền sản giật khoảng 12% cao hơn các phụ
nữ không bị ĐTĐTN (8%) [24].
- Sẩy thai và thai lưu:
Người ĐTĐTN tăng nguy cơ bị sẩy thai tự nhiên, điều này liên quan
đến kiểm soát ĐH kém. Vì vậy các phụ nữ hay bị sẩy thai liên tiếp không rõ
nguyên nhân thì cần phải kiểm tra glucose máu.
Thai chết lưu ở thai phụ bị ĐTĐTN gặp với tần suất cao hơn so với
nhóm chứng. Phần lớn các trường hợp thai chết lưu ở người ĐTĐTN xảy ra
đột ngột. Thai hay bị chết lưu khi glucose máu của người mẹ kiểm soát kém,
khi thai to so với tuổi thai, khi bị đa ối, và thường xảy ra vào những tuần cuối
của thai kỳ. Người ta nhận thấy rằng mặc dù tỷ lệ tử vong chu sinh giảm đi
một cách có ý nghĩa so với trước đây nhưng tỷ lệ thai lưu vẫn còn và tỷ lệ
thai lưu/tử vong chu sinh là 2/1 [12].
- Đẻ non:
14
Tỷ lệ đẻ non ở thai phụ ĐTĐTN cao gấp 3 lần không ĐTĐ [4], [10]
thường là do thầy thuốc chủ động cho đẻ sớm vì lo ngại về ĐTĐ, kiểm soát
ĐH kém, từ chối điều trị ĐTĐ, không yên tâm về tình trạng thai, là những lý
do làm gia tăng tỷ lệ đẻ non.
- Đa ối:
Đa ối hay gặp ở phụ nữ mang thai bị đái tháo đường. Tỷ lệ đa ối ở các
thai phụ ĐTĐTK cao gấp 4 lần so với các thai phụ không ĐTĐTN. ĐTĐTN
là nguyên nhân hàng đầu của đa ối, sau đó mới đến do bất thường hệ thần
kinh trung ương và bất thường hệ tiêu hóa. Trong nghiên cứu của Farooq và
cộng sự cho thấy tỷ lệ đa ối ở các thai phụ ĐTĐTN chiếm tỷ lệ 18%, cao hơn
so với các thai phụ không ĐTĐTN [26].
- Nhiễm khuẩn tiết niệu:
Thai phụ ĐTĐTN dễ bị nhiễm khuẩn tiết niệu. Nghiên cứu của Farooq

cao hơn hẳn nhóm chứng chỉ là 2,6%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P
< 0,05 [30].
- Tái phát ĐTĐTN:
Ở những lần mang thai sau nguy cơ tái phát ĐTĐTN là 30-84% [2].
1.7.2. Hậu quả đối với thai nhi và trẻ sơ sinh.
1.7.2.1. Biến chứng sớm
- Thai to
Thai to là cân nặng khi sinh đủ tháng > 4000g. Thai to là do có sự tăng
tiết insulin của thai nhi, làm tăng nhu cầu năng lượng của thai nhi, làm thai
16
nhi phát triển quá mức.Thai phụ ĐTĐTN nếu kiểm soát ĐH không tốt thì tỷ lệ
thai to có thể cao tới 20-45% [2].
- Hạ ĐH sơ sinh
Hạ ĐH sơ sinh khi ĐH dưới 35mg/dl ở trẻ đủ tháng và dưới 25mg/dl ở
trẻ thiếu tháng [10].
Khi glucose máu mẹ tăng vào 3 tháng cuối thai kỳ và đặc biệt là vào
giai đoạn chuyển dạ thì glucose máu của thai cũng tăng sẽ kích thích tụy thai
tăng sản xuất insulin [31]. Sau khi sinh, nguồn glucose máu từ mẹ cung cấp
cho thai ngừng đột ngột nhưng nồng độ insulin trong máu con vẫn còn cao.
Insulin cao làm cho các mô bắt giữ đường nhiều hơn trong khi gan trẻ sơ sinh
vẫn chưa sản xuất được đủ glucose dẫn đến hạ glucose máu.Thời gian hạ
glucose máu kéo dài tới 24-72 giờ sau khi sinh.
Vì vậy kiểm soát tốt glucose máu cho các thai phụ ĐTĐTN trong thời
gian mang thai và chuyển dạ sẽ tránh được tai biến này. Và cũng vì vậy mà
cần phải theo dõi chặt glucose máu cho trẻ sơ sinh trong 3 ngày đầu sau đẻ
[32], [33],[34],[35].
- Hạ canxi máu sơ sinh
Hạ can xi máu sơ sinh là khi can xi huyết tương < 2 mmol/l ở trẻ đủ
tháng và < 1,75 mmol/l ở trẻ thiếu tháng [27],[2]. Hạ can xi là nguyên nhân của
nhiều tình trạng nguy cấp chu sinh như ngạt, đẻ non. Tỷ lệ được báo cáo là 10-

thai nhi bị giảm oxy máu, nhiễm toan, từ đó gây mất khả năng chống đỡ
của trẻ với tình trạng hạ oxy [36].
18
- Ngoài ra trẻ còn dễ mắc các bệnh khác như: dị tật bẩm sinh, chậm
phát triển trong tử cung, phì đại cơ tim
1.7.2.2. Các biến chứng muộn
- Tăng nguy cơ béo phì ở các trẻ em.
- Dễ mắc ĐTĐ typ2 khi trưởng thành
- Chậm phát triển trí tuệ
- Bé gái sau này dễ mắc bệnh ĐTĐ
Chính vì ĐTĐTK để lại nhiều hậu quả cho mẹ và con, nên việc chẩn
đoán và điều trị kịp thời có thể làm giảm biến chứng cho mẹ, giảm bệnh lý và
tỷ lệ tử vong cho mẹ và con.
1.8. Chẩn đoán
1.8.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán của ĐTĐTN
Chưa có tiêu chuẩn thống nhất để chẩn đoán ĐTĐTN trên toàn thế
giới. Các tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐTN còn là vấn đề tranh cãi mặc dù đã có
nhiều hội nghị quốc tế đề cập đến vấn đề này. Nhưng các tiêu chuẩn chẩn đoán
xây dựng dựa trên tỷ lệ bệnh tật liên quan có tính thuyết phục hơn cả. Đó là các
tiêu chuẩn xây dựng dựa trên nghiên cứu về tỷ lệ các tai biến sản khoa, tỷ lệ mắc
ĐTĐ trong tương lai của mẹ và các tai biến cho thai và trẻ sơ sinh với mức
glucose máu đó. Tiêu chuẩn chẩn đoán dưới đây dựa trên cơ sở đó.
Theo hướng dẫn của Hiệp hội ĐTĐ hoa kỳ (ADA 2007) về thực hiện
xét nghiệm dung nạp glucose [14]:
- Bệnh nhân được nhịn đói và lấy máu đo đường huyết. Sau đó bệnh
nhân được cho uống 75g Glucose. Đo lại đường huyết sau uống 1h và 2h.
19
- Xét nghiệm dung nạp Glucose phải được thực hiện vào buổi sáng
sau khi nhịn đói qua đêm ít nhất 8h.
- Việc chẩn đoán ĐTĐTN khi có 2 trong 3 giá trị bằng hoặc vượt

có sức khỏe tốt [11]
Bảng 1.4. Mục tiêu kiểm soát ĐH cho thai phụ ĐTĐTN (ADA 2007)
Khuyến cáo hội thảo quốc tế lần thứ 5 về ĐTĐTN [14].
Thời gian làm xét nghiệm ĐM (mmol/l)
Glucose máu lúc đói ≤ 5,8
Glucose máu sau ăn 2 giờ
≤ 7,2
HbA1C ≤ 6%
HbA1C (Hemoglobin phân nhóm A1C):Hemoglobin của hồng cầu
gắn với glucose trong huyết tương bằng phản ứng Glycosylat sẽ tạo ra
Glycated hemoglgobin. Nhóm HbA1 gồm 3 phân nhóm là HbA1A, HbA1B,
HbA1C. Trên lâm sàng người ta sử dụng HbA1C để theo dõi tình trạng kiểm
21
soát đường huyết (HbA1C đặc hiệu hơn cả ). Nồng độ HbA1C trong máu
phản ánh nồng độ trung bình của glucose trong khoảng thời gian bằng 1 đời
sống trung bình của hồng cầu là 120 ngày, do vậy HbA1C đưược dùng để
theo dõi kết quả kiểm soát glucose máu trong vòng khoảng 8 tuần lễ trước đó.
Điều đó có nghĩa là khi muốn đánh giá kết quả kiểm soát ĐH hiện tại phải đo
HbA1C sớm nhất là sau 4 tuần nữa [38].
1.9.2. Chế độ ăn
- Chế độ ăn là nền tảng của việc điều trị ĐTĐTN.
- Chế độ ăn của người phụ nữ mang thai phải đạt được những mục tiêu sau:
+ Không gây tăng glucose máu lúc đói và sau khi ăn: kiểm tra glucose
máu lúc đói và glucose máu sau ăn
+ Chế độ dinh dưỡng cần đảm bảo sự tăng trọng cần thiết của thai
kỳ:0,45kg mỗi tháng trong quý đầu, 0,2-0,35 kg mỗi tuần trong quý 2 và 3
của thai kỳ.
+ Đảm bảo thai nhi phát triển bình thường: nhu cầu năng lượng từ 25 -35
kcal/ kg, thành phần gồm carbonhydrat 40-55%, protein 20%, chất béo 25-40%.
+ Nên kiêng các thức ăn, nước uống chứa nhiều đường hấp thu nhanh

Trong ĐTĐTN việc lựa chọn phương pháp đẻ là quyết định khó
khăn tiếp theo của các nhà sản khoa, bởi vì mỗi cuộc đẻ là là một cặp mẹ
con bị tổn thương bởi ĐTĐTN và đến nay nó vẫn là vấn đề gây tranh cãi.
Bằng chứng có được từ các nghiên cứu về vấn đề này còn rất thiếu. Hơn
23
nữa, đôi lúc quyết định lựa chọn phương pháp nào của người thầy thuốc
còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội.
1.10.3. Theo dõi ĐH trong chuyển dạ và ngay sau đẻ.
Các nghiên cứu đã cho thấy có sự giảm nhu cầu insulin khi bắt đầu
chuyển dạ [10]. Nếu ĐH mẹ cao sẽ gây tăng ĐH và tăng insulin ở thai dẫn
đến hạ ĐH sơ sinh. Khi ĐH mẹ trong cuộc đẻ > 8,3 mmol/l có thể gây suy
thai do thiếu oxy. Vì vậy, mục tiêu ĐH trong cuộc đẻ cần duy trì từ 3,3 -5,6
mmol/l, đề phòng tai biến cho thai và sơ sinh [2]
- Với thai phụ chỉ điều trị bằng điều chỉnh chế độ ăn [2]
+ Thực hiện chế độ ăn như trước khi chuyển dạ.
+ Theo dõi ĐH theo chế độ thông thường.
- Với thai phụ có điều trị insulin
+ Có thể có sự tăng nhạy cảm bất thường với insulin trong chuyển
dạ nên phải chỉ định truyền insulin liều thấp liên tục tĩnh mạch. Hơn nữa,
để vừa kiểm soát đựơc chặt chẽ ĐH vừa tránh được nguy cơ hạ ĐH và cung
cấp đủ năng lượng cho sản phụ, người ta vừa truyền glucose, vừa truyền
insulin để đạt và duy trì ĐH mục tiêu [2].
+ Vào ngày chuyển dạ, thai phụ nhịn ăn sáng và không tiêm liều
insulin của buổi sáng hôm đó [2].
+ Truyền Ringerlactat chứa 5% dextrosse với tốc độ 100 -125
ml/giờ. Dùng insulin bơm điện pha 50 đơn vị insulin nhanh trong dung
dịch muối đẳng trương cho vừa đủ 50ml, truyền tĩnh mạch, chỉnh liều
insulin theo ĐH như bảng 1.3. Theo dõi ĐH 1 giờ /1 lần [2].
24
Bảng 1.5. Theo dõi ĐH và chỉnh liều insulin trong chuyển dạ

2.1.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ hoặc ĐTĐTN.
- Hồ sơ bệnh án không đầy đủ số liệu nghiên cứu.
- Có tiền sử mắc các bệnh gây tăng ĐH thứ phát hoặc dùng một trong các thuốc
gây tăng ĐH: Truyền đường, corticoid, lợi tiểu, thuốc chẹn β giao cảm…
2.1.2. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 6/2014 trở về trước cho đến khi đủ cỡ mẫu.
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện phụ sản Trung Ương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status