nhận xét mối tương quan giữa lâm sàng, βhcg, siêu âm với kết quả điều trị doạ sẩy thai 3 tháng đầu tại bệnh viện pstư từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2009 - Pdf 24

ĐẶT VẤN ĐỀ
Loài người có tớnh sinh sản yếu trong số các loài động vật cao cấp.
Trong suốt quá trình thai nghén, đời sống thai nhi luôn bị đe dọa, trong đó có
sẩy thai.
Sẩy thai là hiện tượng thai bị tống ra khỏi buồng tử cung trước khi thai
có thể sống được. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) – 1977, giới hạn tuổi thai
bị sẩy là dưới 20 tuần hay cân nặng dưới 500gr[1],[2]. Ở Việt Nam , theo
chuẩn quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản, tuổi thai bị sẩy được tính là
dưới 22 tuần theo ngày kinh cuối cùng [3].
Sẩy thai tự nhiên thường diễn ra qua hai giai đoạn: doạ sẩy và sẩy thực
sự. Ở giai đoạn doạ sẩy thai, trứng còn sống, chưa bị bong khỏi niêm mạc tử
cung. Chẩn đoán và điều trị sớm tiên lượng sẽ tốt, có khả năng giữ được thai.
Ở Việt Nam theo thống kê của Nguyễn Thìn – Thanh Kỳ 1978, tỷ lệ sẩy
thai là 10-12% [27]. Theo Trần Thị Lợi trong 6 tháng đầu năm 2004 có tới 280
trường hợp sẩy thai tự nhiên và 456 trường hợp thai lưu tại bệnh viện Từ Dũ
[21].
Tỷ lệ sẩy thai ở các nước phát triển chiếm 6-10% so với tổng số phụ nữ
có thai [27. Tỷ lệ sẩy thai ở các nước đang phát triển là 10-12% so với tổng số
phụ nữ có thai [27]. Theo Schneider P.F. [6] tỷ lệ doạ sẩy thai ở Mỹ là 13%,
Kennon R.W [60] tỷ lệ doạ sẩy thai ở Anh là 15,35%, cũn theo Beckmann
R.B tỷ doạ sẩy thai là 25% [43].
Sẩy thai lõm sàng chiếm tới 15-20% tổng số thai nghén, cũn sẩy thai
nội tiết (βhCG +) cao hơn (75%). Khoảng 2/3 trường hợp thai bị sẩy trước 6
tuần, cũn lại 1/3 trường hợp sẩy thai ở từ tuần thứ 7 đến 22 [43].
Xác định chớnh xác doạ sẩy thai để điều trị không thôi đã khó, đặc biệt
cần phải phõn biệt cho được với chửa ngoài tử cung thể giả sẩy [29]. Xác định
1
được nguyên nhõn doạ sẩy thai cũn khó hơn nhiều nhưng rất quan trọng. Ở
Việt Nam còn rất nhiều hạn chế về phương tiện kỹ thuật, sự cộng tác của
người bệnh nên chẩn đoán doạ sẩy thai thường muộn, điều trị khó khăn và kết
quả không cao. Một khó khăn nữa cho điều trị doạ sẩy thai là có tới 30% doạ

trường hợp doạ sảy được dự đoán là sẽ có các biến chứng trong giai đoạn
muộn hơn của thời kỳ thai nghén [57].
Theo Charles R.B. Beckmann, tất cả những chảy mỏu từ tử cung trong
nửa đầu của thai kỳ, không có nguyên nhõn thực thể thì đó là triệu chứng của
doạ sẩy thai [43].
1.1.2. Nguyên nhân
Xác định nguyên nhõn doạ sẩy thai là rất quan trọng, nhưng thường
khó khăn. Phải hỏi kỹ tiền sử, khám toàn thõn, khám phụ khoa, kết hợp với
các xét nghiệm cận lõm sàng như huyết học, sinh hoá nội tiết, giải phẫu bệnh
lý tổ chức sẩy, chụp buồng tử cung ngoài thời kỳ có thai, xác định nhiễm sắc
đồ, yếu tố Rh, nhúm mỏu, miễn dịch
1.1.2.1. Nguyên nhõn do thai
Năm 1981, Poland và cộng sự nhận thấy rằng với những thai sẩy có
chiều dài đầu mông khoảng 30mm, tỉ lệ bất thường nhiễm sắc thể là 70%; tỉ lệ
này là 25% nếu chiều dài đầu mông từ 30–180mm.
Những bất thường về phát triển thai nhi được chia làm 2 loại:
3
- Bất thường về số lượng nhiễm sắc thể: sẩy thai trước tuần thứ 8: đơn
bội (45,X: hội chứng Turner), tam bội (tam bội NST 16: thai trứng bán phần),
tứ bội.
- Số lượng nhiễm sắc thể bình thường: sẩy thai muộn hơn, vào
khoảng tuần thứ 12, tăng đáng kể khi mẹ ≥ 35 tuổi. Các nguyên nhân: đột
biến gen, một số yếu tố của mẹ hay của cha.
Trước đây người ta cho rằng những bất thường nhiễm sắc thể là nguyên
nhân chớnh gõy sẩy thai tự phát và sẩy thai liên tiếp. Trong những năm gần
đây với những nghiên cứu mới về di truyền - tế bào, người ta thấy rằng
nguyên nhân này ngày càng thu hẹp đặc biệt là sẩy thai liên tiếp. Theo
M.H.Howert có khoảng 9,5-15,4% những cặp vợ chồng bị sẩy thai liên tiếp có
NST bất thường [54].
Ngoài ra, đa thai, thai dị dạng cũng là nguyên nhõn gõy doạ sẩy thai,

Dehydroepiandrosteron (DHEA). Các nội tiết tố nam tăng cao vừa tác động
làm thoái triển hoàng thể vừa tác động ức chế sự phát triển của nội mạc tử
cung. Biểu hiện của sự tăng cao nội tiết tố nam thường là chứng rậm lông,
mụn trứng cá, thiểu kinh hay vô kinh [49], [Error: Reference source not
found], [55].
Chẩn đoán tình trạng thiểu năng hoàng thể có thể dựa vào các yếu tố sau
[1],[71],[8]:
- Theo dõi biểu đồ thân nhiệt: nhiệt độ tăng ít ở pha hoàng thể, dạng
biểu đồ có hình thấp hay thời gian tăng nhiệt độ ngắn hơn 10 ngày, gợi ý thiểu
năng hoàng tuyến.
5
- Nồng độ Progesteron huyết thanh thấp, thường <10ng/ml
- Sinh thiết nội mạc tử cung thấy hình ảnh tăng sinh tuyến và chế tiết ít.
- Siêu âm thấy niêm mạc tử cung mỏng (< 5mm)
 Yếu tố nhiễm khuẩn
Một tình trạng nhiễm trùng dù tác nhân là vi khuẩn, siêu vi, ký sinh
trùng hay nấm đều có thể là nguyên nhân gây sẩy thai. Viêm màng ối, thường
là hậu quả của nhiễm trùng ngược dòng từ viờm õm đạo hay viêm cổ tử cung
đi lên là một nguyên nhân gây sẩy thai muộn trong 3 tháng giữa thai kỳ. Tỡnh
trạng sốt cao > 39
0
C trong các nhiễm trùng cấp tính là yếu tố có thể gây dị
dạng thai và có hại cho bào thai [78],[23].
Virus: Herpes simplex : tăng tỉ lệ sẩy thai nếu bị nhiễm Herpes sinh dục
trong nửa đầu thai kỳ hoặc có thai trong vòng 18 tháng sau khi bị nhiễm.
Vi trùng: Mycoplasma hominis, Ureaplasma urealyticum: đó cú bằng
chứng về huyết thanh cho thấy có gây ra sẩy thai, vì vậy có tác giả điều trị
bằng Erythromycin tỷ lệ thành công đạt tới 85%.
Những tác nhân khác như Toxoplasma gondii, Listeria monocytogenes,
Chlamydia trachomatis: chưa kết luận được có phải là nguyên nhân gây ra sẩy

hàng ngày làm tăng nguy cơ sẩy thai.
*Nghiện rượu, ma tuý, thuốc lá, caffeine có liên quan đến nguy cơ sẩy thai
[68],[62].
7
Dùng hai ly thức uống có cồn hàng ngày làm tăng gấp đôi nguy cơ sẩy
thai so với phụ nữ không sử dụng thuốc có cồn.
Hút thuốc trờn ẵ gúi mỗi ngày hoặc hít khói thuốc lá nhiều làm tăng
nguy cơ sẩy thai.
Chồng nghiện rượu và thuốc lá làm tăng nguy cơ sẩy thai.
Đối với caffeine, chỉ khi nào dựng trờn 300mg/ngày mới có nguy cơ
sẩy thai.
* Thuốc sử dụng trong thai kỳ: Một số thuốc có thể gõy độc cho thai và làm
chết thai, dị dạng thai, sẩy thai.
* Hoạt động thể lực vừa phải không ảnh hưởng đến thai kỳ ở những phụ nữ
khoẻ mạnh. Tuy nhiên các hoạt động thể lực với cường độ cao như chạy bộ,
aerobic có thể ảnh hưởng tới thai kỳ do sự dịch chuyển một phần lưu lượng
máu từ tử cung đến các cơ ngoại biên.
* Chấn thương trực tiếp vào vùng bụng, phẫu thuật, hoặc do thủ thuật chọc
dò ối qua thành bụng để sinh thiết gai rau có thể gây sẩy thai.
1.1.2.3.Nguyên nhõn do bố
Đảo đoạn nhiễm sắc thể có thể gây sẩy thai. Kulcsar và cộng sự (1991)
tìm thấy có Adenovirus và Herpes simplex virus ở tinh dịch những người vô
sinh nam và trong mô sẩy thai.
1.1.2.3.Nguyên nhõn do phần phụ
Bất thường bánh rau, dây rốn như hoại thư bánh rau, dây rốn chỉ có một
động mạch.
* Ngoài ra có khoảng 20-30% các trường hợp sẩy thai mà không có nguyên nhân
rõ ràng [1].
1.3. DIỄN BIẾN LÂM SÀNG DOẠ SẨY THAI, SẨY THAI
1.3.1. Doạ sẩy thai:

bụng. Túi thai là một hình tròn trống âm được viền một lớp phản õm
sỏng nằm trong lớp màng rụng của nội mạc tử cung, lệch một bên so
với đường giữa lòng tử cung. Đường kính trung bình của túi thai tăng
đôi sau 1 tuần. Thai 5 tuần kích thước túi thai khoảng 5mm, thai 6 tuần:
10mm; thai 7 tuần: 20mm [24], [9].
- Tỳi noãn hoàng thấy được ở tuổi thai 5 - 6 tuần, là một vòng tròn đều
trống âm, bờ mỏng, nằm ngoài buồng ối trong khoang ngoài thai. Mỗi
khoang ối chỉ có một tỳi noón hoàng, do đó số lượng tỳi noón hoàng sẽ
được dùng để tính số lượng túi ối trong trường hợp đa thai. Kích thước
tỳi noón hoàng 2 - 8mm (không quá 10 mm). Tỳi noón hoàng xuất hiện
chứng tỏ thai sống [24], [9].
- Phôi thấy rõ ở tuổi thai 6-7 tuần qua siêu õm đường ÂĐ. Hình ảnh
phôi là âm vang đậm đặc, nằm trong buồng ối. Khi phôi thai đo được
5mm nếu không có hoạt động của tim thai có nghĩa là thai đã ngừng
phát triển [24], [9].
Siêu âm có thể phát hiện sự ngừng phát triển của thai trước khi có dấu
hiệu lâm sàng. Những dấu hiệu thai có tiên lượng xấu:
"Trứng trống”: chỉ có túi thai mà không có phôi thai do thai không phát
triển ngay từ sớm hoặc có phát triển nhưng đã chết và bị phân [24] .
Túi thai ≥10mm khi SA qua đường âm đạo hoặc >20mm khi SA qua
đường bụng mà không thấy tỳi noón hoàng [67].
Túi thai ≥18mm khi SA qua đường ÂĐ hoặc >25mm khi SA qua
đường bụng mà không thấy phôi thai [24]
Tỳi noãn hoàng có hình dạng không tròn đều, bờ dầy hoặc calci hoá,
kích thước quá lớn hoặc quá nhỏ đều là những dấu hiệu bất thường [48], [62].
10
- Có túi ối nhưng không có phôi thai.
- Túi thai múp mộp hoặc có hình “giọt nước”.
- Lớp màng rụng kém phát triển: mỏng và phản õm khụng mạnh.
- Xuất huyết quanh túi thai, búc tỏch bỏnh rau >50%. Tuổi thai càng nhỏ

Tuần thứ 4 đến tuần thứ 5 75- 2.600
Tuần thứ 5 đến tuần thứ 6 850- 20.800
Tuần thứ 6 đến tuần thứ 7 4.000- 100.000
Tuần thứ 8 đến tuần thứ 10 50.000- 100.000
Thời gian tăng gấp đôi trong thai nghén bình thường:
Thai phát triển bình thường sau 48 giờ nồng độ βhCG tăng từ 1,4 đến 2
lần so với nồng độ lúc ban đầu nghĩa là ≥66%.
Pittaway Donald E [73] đã phát hiện được hCG trong máu mẹ sau khi
phúng noón từ 7 đến 10 ngày. Ông đã đưa ra một công thức tính thời gian
tăng gấp đôi (TGTGĐ) hCG như sau:
Log2hCG khoảng cách thời gian giữa các ngày
TGTGĐ =
hCG 1
Log 2
hCG 2
hCG 1: Lượng hCG xét nghiệm lần 1
hCG 2: Lượng hCG xét nghiệm lần 2
Kadar đã đưa ra một công thức tính đơn giản hơn:
Nồng độ hCG ở 48 giờ - Nồng độ hCG ban đầu
TGTGĐ = x 100
12
Nồng độ hCG lúc ban đầu
Trong thai nghén bình thường thời gia tăng gấp đôi hCG từ 36-48 giờ.
Tỷ lệ tăng ít nhất là 66%. Nếu tăng quá cao hoặc quá thấp hoặc không tăng là
biểu hiện của một thai nghén không bình thường [73].
Pittaway Donald E [73] khẳng định rằng: quy luật tăng gấp hai chỉ
đúng khi thai được 6 tuần tuổi. Khi tuổi thai trên 6 tuần và nồng độ hCG lớn
hơn 6.000-10.000mUI/ml thì hCG tăng chậm hơn và không ổn định.
Theo Phạm Thị Thanh Hiền [16] chẩn đoán sớm chửa ngoài: Lâm sàng
(chậm kinh, đau bụng hạ vị, ra máu âm đạo) + Nồng độ βhCG huyết thanh <

progesteron và estrogen có nguồn gốc chủ yếu từ hoàng thể. Trong thời gian
từ 7-12 tuần, rau thai bắt đầu hoạt động chế tiết progesteron và estrogen, đảm
nhận dần vai trò của rau thai trong cơ thể. Sau 12 tuần, rau là nguồn sản xuất
chớnh của progesteron và estrogen trong thời kỳ thai nghén cho đến lúc sinh.
Nồng độ của Progesteron: Ở phụ nữ không có thai, trong giai đoạn
nang noón, nồng độ Progesteron <1ng/ml. Khi quá trình thụ thai xảy ra,
progesteron tăng dần từ 1-2ng/ml kể từ ngày phóng noón và nhanh chóng đạt
tới nồng độ 10-35ng/ml sau 7 ngày. Hàm lượng này giữ ổn định trong vòng
10 tuần đầu của thai nghén. Sau 10 tuần đầu, hàm lượng của progesteron tiếp
tục tăng đến khi thai đủ tháng, đạt nồng độ cực đại 100-300ng/ml [40].
Trong giai đoạn thứ 2 của chu kỳ kinh nguyệt, các phụ nữ có hàm
lượng progesteron huyết thanh thấp hoặc chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn
(<12 ngày) thể hiện một tình trạng suy yếu hoàng thể thường dẫn đến vô sinh.
Trong 3 tháng đầu thai kỳ, nồng độ progesteron thấp phản ánh một tình
trạng thai nghén không được hoàn hảo. 80% sẽ có khả năng sẩy thai khi nồng
độ progesteron <10ng/ml [40].
14
Trong các trường hợp thai lạc chỗ, nồng độ progesteron thường thấp.
Trong thai trứng, hàm lượng progesteron tăng rất cao so với thai nghén
bình thường, đặc biệt là ở giai đoạn từ tuần thứ 10-20 của thai nghén. Nếu nồng
độ của hCG >320.000UI/l sau 14 tuần chậm kinh kết hợp với một nồng độ
progesteron tăng bất thường có thể chẩn đoán một cách xác định đó là thai trứng.
Nồng độ progesteron cũng gia tăng gấp 2 lần trong các trường hợp bất
đồng miễn dịch Rh giữa mẹ và thai nhi, nguyên do có lẽ là do sự gia tăng thể
tích của rau thai một cách bất thường.
Nồng độ của estrogen: Bình thường nồng độ estradiol trong huyết
thanh ở giai đoạn hoàng thể là 28 microgam/100ml. Vào tuần thứ 36-38 của
thai kỳ có thẻ đạt tới 92microgam/ 100ml [12].
Định lượng nội tiết tố progesteron và estrogen là phương pháp tốt
nhưng giá thành cao nên cũn ít được áp dụng ở nước ta.

chỉ có một phần tám trong số họ cảm thấy chỉ định này là bắt buộc và chỉ có
một phần ba trong số họ cảm thấy biện pháp này có hiệu quả [31].
Theo tác giả Harrison RF báo cáo một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối
chứng tìm hiểu hiệu quả của biện pháp nằm nghỉ tại giường tới quá trình doạ
sảy. Trong nghiên cứu này, 61 thai phụ có thai sống vào ít nhất 8 tuần đầu của
thời kỳ thai nghén bị ra máu âm đạo đã được phân ngẫu nhiên vào một trong
ba nhúm: nhúm được tiêm hCG, nhóm được tiêm giả dược (đối chứng) và
nhóm nằm nghỉ tại giường. Tỷ lệ sảy thai của ba nhóm tương ứng lần lượt là
30%, 48%, và 75%. Như vậy, giữa nhóm được tiêm hCG và nhóm nằm nghỉ
tại giường có khác biệt đạt mức có ý nghĩa thống kê, nhưng giữa nhóm được
tiêm hCG và nhúm tiờm giả dược, và giữa nhúm tiờm giả dược với nhóm nằm
16
nghỉ tại giường thì, khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Mặc dù trong nghiên
cứu này, hCG đạt được kết quả tốt hơn có ý nghĩa thống kê, so với nằm nghỉ
tại giường, nhưng lại không tỏ ra có lợi ích nhiều, so với giả dược, và cũn gõy
ra tiềm năng phát triển hội chứng tăng kích thích buồng trứng (ovarian
hyperstimulation syndrome) [52].
Theo tác giả Gioble M và cs, trong một nghiên cứu hồi cứu thực hiện
trên 226 thai phụ được điều trị nội trú vì các lý do liên quan tới thai nghén của
họ, và lý do đã có các lần doạ sảy từ trước, các tác giả cho biết: 16% trong số
146 thai phụ được chỉ định nằm nghỉ tại giường cuối cùng đã sảy thai, so với
một phần năm (tức 20%) trong số các thai phụ không chọn theo biện pháp
điều trị này (so sánh khác biệt không có ý nghĩa thống kê; P = 0,41) [50].
Ngược lại, một nghiên cứu quan sát nhóm thực hiện trên 230 thai phụ
doạ sảy của tác giả Ben- Haroush A và cs, được chỉ định nằm nghỉ tại giường
đã chứng minh rằng, các thai phụ tuõn thủ với biện pháp này có tỷ lệ sảy thai
là 9,9%, so với tỷ lệ sảy thai 23,3% ở các thai phụ vẫn tiếp tục các hoạt động
thường ngày của họ (P = 0,03). Khoảng thời gian ra máu âm đạo, kích thước
của khối tụ máu sau rau, và tuổi thai vào lúc chẩn đoán không có ảnh hưởng
gì tới tỷ lệ bị sảy thai. Mặc dù không có bằng chứng cuối cùng là nằm nghỉ tại

Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng, các tác giả đã chứng
minh rằng: Buphenine hydrochloride (một thuốc giãn mạch cũng được sử
dụng để làm giãn cơ tử cung) có tác dụng tốt hơn so với giả dược (đối chứng).
Nhưng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên của nghiên cứu này lại không rừ
ràng, và không có nghiên cứu nào khác xem xét tới biện pháp chống sảy thai
trong giai đoạn doạ sảy sớm.
18
Ngoài tớnh hiệu quả ra, thì mức độ hỗ trợ tích cực vẫn cũn là vấn đề
cần phải bàn luận thêm nữa trong các trường hợp doạ sảy, vì rằng hầu hết các
trường hợp thai nghén mà dẫn tới chết thai đều là các trường hợp có bất
thường thể nhiễm sắc.
1.5.4. Dự phòng yếu tố Rh:
Ra máu âm đạo trong giai đoạn sớm của thời kỳ thai nghén làm phát
sinh câu hỏi, liệu cú nờn sử dụng globulin miễn dịch kháng D (anti-D
immunoglobin) cho các thai phụ âm tính với yếu tố Rh D hay không. Về đề
tài này, không may là chưa cú cỏc dữ liệu kết luận, và tất cả bằng chứng đều
chỉ xuất phát từ các quan niệm của các chuyên gia và các hội đồng chuyên gia
(cấp C). Theo hướng dẫn của Trường Đại Học Hoàng gia Sản-Phụ khoa và
Trường Đại Học Sản-Phụ khoa Hoa Kỳ thì doạ sảy trong ba tháng đầu của
thời kỳ thai nghén hiếm khi do cơ chế sinh miễn dịch dị chủng với Rh D (Rh
D alloimmunisation), cho rằng phải cân nhắc việc sử dụng globulin khỏng-D
ở các thai phụ âm tính với yếu tố RH D và chưa cảm-ứng đang bị doạ sảy sau
12 tuần của thời kỳ thai nghén, hoặc ở các thai phụ bị ra máu âm đạo nặng,
hoặc tái phát nhiều lần, hoặc ở các thai phụ cú thờm triệu chứng đau bụng,
đặc biệt khi thai nghén đã đến gần được 12 tuần. Ngược lại, immunoglobulin
khỏng-D được xem là không cần thiết ở các thai phụ doạ sảy nhưng thai sống,
và đã ngừng ra máu âm đạo trước tuần 12 của thời kỳ thai nghén [31].
Hiện nay tại Việt Nam, mặc dù cũn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau
về điều trị doạ sẩy thai nhưng theo chuẩn quốc gia năm 2007 về chăm sóc sức
khoẻ sinh sản, điều trị doạ sẩy thai được áp dụng như sau:

- Kháng sinh nếu có dấu hiệu nhiễm khuẩn, nguy cơ nhiễm khuẩn hoặc
có TS thai chết lưu.
- Thuốc an thần khi thật cần thiết.
- Kháng Anti- phospholipide.
Dừng thuốc khi hết các dấu hiệu doạ sẩy 1 tuần. Đối với các trường
hợp có TS sẩy, thai chết lưu thì điều trị hết 12 tuần hoặc qua thời điểm sẩy,
chết lưu một tuần.
Đối với các trường hợp không có dấu hiệu dọa sẩy nhưng có tiền sử sẩy
hoặc thai chết lưu:
- Điều trị dự phòng theo nguyên nhõn: Hở eo tử cung thì khõu vòng eo
tử cung, rối loạn nội tiết thì điều trị nội tiết.
- Nếu không tỡm được nguyên nhõn thì điều trị dự phòng bằng hormon +
thuốcgiảm co + kháng sinh.
1.6. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VỀ DỌA SẨY THAI
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy (2005), nghiên cứu trên 330
BN có tiền sử STLT từ 2 lần trở lên, tại BVPSTƯ. Kết quả, tỷ lệ thành công ở
nhúm BN có dấu hiệu doạ sẩy thai thấp hơn (78,6%) nhúm không có triệu
chứng doạ sẩy thai (97%). Trong nhúm có triệu chứng doạ sẩy thai, tỷ lệ
thành công khi chỉ có ra mỏu là (44/54) chiếm 81,4%, khi chỉ có đau bụng là
(43/51) chiếm 85,6%, khi có hai triệu chứng tỷ lệ thành công là (13/22) chiếm
59,1% [26].
Theo nghiên cứu của Phan Thị Lưu (2008), nghiên cứu hồi cứu 90 BN
doạ sẩy thai tại khoa phụ BV Y học cổ truyền TƯ trong 3 năm (2005-2007).
Kết quả, tỷ lệ điều trị doạ sẩy thai ở nhóm chỉ có triệu chứng đau bụng là 66,7%,
ở nhóm chỉ có ra máu là 82,1% và ra máu cộng đau bụng là 82,9% [20]
21
1.7. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI VỀ DỌA SẨY THAI
1.7.1. Nghiên cứu về hoạt động tim thai trên siêu âm
Theo nghiên cứu của Chittacharoen A (2004), 240 phụ nữ có thai có
dấu hiệu doạ sẩy trong 3 tháng đầu được làm siêu õm qua õm đạo. Nghiên

Theo nghiên cứu của Ball RH và cs (1996), nghiên cứu bệnh - chứng,
không có sự khác biệt về đặc điểm của mẹ giữa nhúm. Chảy mỏu dưới màng
nuôi là 1,3% trong tổng số thai phụ và chiếm gần 20% ở những người có ra
mỏu ÂĐ, tỷ lệ sẩy thai ở nhóm bệnh là 9,3% (OR = 2,8, 95%, CI 1,7- 7,4).
Nguy cơ thai chết lưu , rau bong non và đẻ non ở nhóm bệnh cũng tăng lên:
chết lưu (OR = 4,4, 95%, CI 1,5- 13,2) rau bong non (OR = 11,2 ; 95%, CI
2,7- 46,4), đẻ non (OR = 2,6 ; 95%, CI 1,5- 4,6) [34].
Theo nghiên cứu của Pedersen JF và Mantoni M (1990), nghiên cứu gồm
342 thai phụ có chẩy máu âm đạo từ tuần thứ 9-20 có dấu hiệu thai sống trên
siêu âm. Có 18% máu tụ dưới màng nuụi trờn SÂ. Kích thước trung bình của
khối máu tụ là 20ml (2-150ml). Tỷ lệ sẩy thai tự nhiên là như nhau ở 2 nhóm
7/62 (11%) và 28/280 (10%). Tỷ lệ đẻ non là như nhau ở 2 nhóm 7/62 (11%),
32/280 (11%). Không có mối liên quan giữa tỷ lệ sẩy thai và đẻ non với kích
thước khối máu tụ. Như vậy, máu tụ dưới màng nuôi thấy trên SÂ ở những BN
ra máu ÂĐ từ tuần thứ 9-20 là thường gặp và không quan trọng. [72].
1.7.3. Nghiên cứu về nguyên nhân và yếu tố nguy cơ:
Theo nghiên cứu Kleinhaus K và cs (2006), nghiên cứu bệnh - chứng
trên 13.865 thai phụ. Nhóm nghiên cứu (n= 1.506) là những thai phụ bị sẩy
thai và nhóm chứng là những thai phụ sinh bình thường (n= 12.359). Ở nhóm
23
thai dọa sẩy, tuổi bố của bố <25 có nguy cơ sẩy thai so với tuổi 25-29 là OR
= 0,59 (95%,CI 0,45-0,76, p< 0,0001). Nhóm có tuổi ≥ 40 có nguy cơ sẩy thai
là OR = 1,6 (95%,CI 1,2 -2,0, p< 0,0003) [61].
Theo nghiên cứu Alexandros Sotiriadis (2004), nghiờn cứu trên những
thai phụ doạ sẩy với những phụ nữ trên 34 tuổi có nguy cơ sẩy thai OR = 2,3
(95%,CI 0,76- 7,10). Tuy nhiên, sự ảnh hưởng tuổi của mẹ tới nguy cơ sẩy
thai không có ý nghĩa thống kê (p= 0,13) [31].
Theo nghiên cứu của Rasch V (2003), nghiên cứu bệnh chứng với nhóm
nghiên cứu là những thai phụ sẩy thai từ tuần 6-16 và nhóm chứng là những thai
phụ có thai sống từ tuần 6-16, cho thấy nguy cơ sẩy thai ở những thai phụ có

nhúm có đôi chút khác nhau xong không có ý nghĩa thống kê [22].
25

Trích đoạn Các bước tiến hành nghiên cứu Kết quả siêu âm liên quan tới điều trị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status