1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư phổi (UTP) là bệnh lý ác tính thường gặp nhất trên toàn thế
giới, là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở nam giới tại các nước phát triển và
đang phát triển đồng thời có xu hướng ngày càng gia tăng [1].Theo Globocan
2012 ung thư phổi trên thế giới mới mắc có khoảng 1,825 triệu ca chiếm tỷ lệ
12,9% tổng số ca mới mắc, có 1,5898 triệu ca tử vong chiếm tỷ lệ 19,4% tổng
số ca tử vong. Tỷ lệ mắc ung thư phổi cao nhất ở Bắc Mỹ với tỷ lệ 33,8%
tổng số, thấp nhất ở Tây và Trung Phi với tỷ lệ là 1,1% và 0,8% trong đó có
58% ở các nước kém phát triển. Tại Việt Nam, ung thư phổi đứng hàng đầu ở
nam, đứng thứ ba ở nữ với khoảng 21865 ca mới mắc chiếm tỉ lệ 17,5%, số ca
tử vong là 19559 chiếm tỷ lệ 20,6%, trong đó tỉ lệ mới mắc chuẩn theo tuổi ở
nam là 41,1/100.000 dân, ở nữ là 12,2/100.000 dân [1]. Theo ước tính tới trên
90% tỉ lệ mới mắc của ung thư phổi có mối liên quan với hút thuốc, trung
bình mỗi năm có trên một triệu người chết do ung thư phổi [2].
Theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới, UTP được chia thành 2 nhóm
chính là ung thư phổi không tế bào nhỏ và ung thư phổi tế bào nhỏ, trong đó
ung thư phổi không tế bào nhỏ chiếm 80-85% [3], [4]. Tại thời điểm chẩn
đoán, có khoảng 40% bệnh nhân KTBN đã có di căn và không còn khả năng
phẫu thuật hoặc hóa xạ trị đồng thời. Khoảng 35% bệnh nhân giai đoạn tiến
triển tại chỗ và 80-85% những bệnh nhân này sẽ tái phát sau điều trị, 30-40%
những bệnh nhân ở giai đoạn sớm mặc dù được phẫu thuật triệt căn cũng sẽ
tái phát [5]. Đối với những bệnh nhân ở giai đoạn muộn này thì điều trị nội
khoa (hóa chất, điều trị đích) là phương pháp điều trị tối ưu để kiểm soát,
giảm nhẹ triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống và kéo dài thời gian
sống [5]. Một số nghiên cứu ngẫu nhiên từ cuối những năm 1980 đến 1990
đã cho thấy vai trò ưu thế của hóa trị liệu so với chăm sóc triệu chứng, tuy
2
hiệu quả chưa thực sự cao và còn nhiều tác dụng phụ [6]. Từ năm 1990, hóa
trị có Platin đã cải thiện TGS rõ rệt và sang đến thập kỷ sau, sự xuất hiện của
các thuốc thế hệ thứ ba: Taxane, Gemcitabine, Vinorelbin cùng với sự kết hợp
nam từ 18% (1998) tăng đến 30% năm 2002 và đứng thứ 5 ở nữ với 7%
(1998) tăng lên 12,6% (2002) trên toàn toàn thế giới. Năm 2008 theo IJC, ung
thư phổi có 1,608 triệu ca mới mắc chiếm tỷ lệ 12,7% tổng số ca ung thư mới
mắc, trong đó nam nhiều hơn nữ với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi ở nam
34/100.000 dân và ở nữ là 13,5/100.000 dân. Theo số liệu của các ghi nhận
ung thư trên thế giới tỉ lệ mắc ung thư phổi ở nam giới cao hơn ở nữ giới, xét
riêng về yếu tố gây ung thư phổi là thuốc lá thì nam giới có tỉ lệ hút và nghiện
cao hơn nữ giới, tuy nhiên những năm gần đây tỉ lệ hút thuốc ở nam giảm
trong khi đó ở nữ lại có xu hướng gia tăng vì vậy làm thay đổi tỉ lệ mới mắc
ung thư [2]. Trên thế giới, theo IJC 2008, tỉ lệ mới mắc ung thư phổi cao nhất
là vùng Đông Á, Bắc Mỹ và Châu Âu đặc biệt là vùng Trung Đông và một số
nước như Nhật Bản, Singapore, Anh quốc, tỉ lệ thấp nhất ở phía đông và giữa
Châu Phi và tỉ lệ mới mắc của nam gấp 4 lần so với nữ. Tại một số nước trên
thế giới như Nhật Bản theo số liệu ghi nhận của Trung tâm ghi nhận UT của
Hiroshima kết quả trong 5 năm từ 1993 đến 2001, UTP có tỉ lệ mới mắc là
40,3/100.000 dân đứng vị trí thứ 4, ở Nagasaki là 43,9/100.000 dân và Osaka
UTP có tỉ lệ là 44,6/100.000. Còn tại Trung quốc, trong giai đoạn 2000 đến
4
2005 UTP chiếm tỉ lệ cao nhất ở nam và đứng thứ đứng thứ 3 ở nữ. Và riêng
ở Singapore, năm 2002 UT có tỉ lệ mắc cao nhất ở nam giới cũng vẫn là ung
thư phổi với tỉ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 55,8/100.000 dân [2].
Tại Việt Nam, từ những năm 50 của thế kỷ trước, đã có nhiều nghiên
cứu của các tác giả tìm hiểu về tình hình ung thư nói chung và ung thư phổi
nói riêng, kết quả nghiên cứu của các tác giả đều nhận định rằng ung thư phổi
là loại hay gặp nhất ở nam giới. Ghi nhận ung thư tại Hà Nội giai đoạn 1996-
1999, ung thư phổi có tỉ lệ mắc chuẩn theo tuổi cao nhất ở nam giới là
24,6/100.000 dân, ở ữ giới ung thư phổi đứng thứ ba sau ung thư vú và ung
thư dạ dày, đến giai đoạn 2004-2008 tỉ lệ mắc chuẩn ung thư phổi ở nam tăng
39,9/100.000 dân và ở nữ thì tỉ lệ này đứng thứ ba [2], [3], [9], [10], [11]. Tại
thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh phía Bắc như Hải Phòng, Thái
vòng, crôm, nickel và những hợp chất asen vô cơ.
- Bệnh lý mãn tính ở phổi: các nốt vôi hóa, các sẹo cũ, tổn thương lao,
các viêm phế quản mạn có dị sản dạng biểu bì.
- Yếu tố gen trong UTP: UTPTBN và KTBN khác nhau về các đặc trưng
hình thái, phương pháp điều trị và tiên lượng. Sự khác nhau này có liên quan đến
những khác nhau về phân tử giữa các kiểu mô bệnh học, gồm cả những gen có
ảnh hưởng đến chu kỳ tế bào.
6
Bảng 1.1: Đột biến gen trong UTPKTBN [64]
Biểu hiện Tỉ lệ
Gen ức chế khối u
Đột biến Rb (13q14) 15%
Đột biến p16/ CDKN2 (9p21) 60%
Đột biến p53 (17p13) 50%
Mất đoạn 3p 50%
Bất thường gen sinh UT
Đột biến Kras 30%
Biểu hiện quá mức của Her2/neu 25%
Biểu hiện quá mức của BCL-2 25%
Khuếch đại Myc 10%
1.2. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng
1.2.1. Triệu chứng lâm sàng
Một số bệnh nhân không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng mà tình cờ
được chụp X quang phát hiện thấy khối u phổi (5%-10%). Còn lại, đại đa số
các ung thư phổi được phát hiện ở giai đoạn muộn với các biểu hiện lâm sàng
phong phú và được chia thành 4 loại:
* Các triệu chứng do sự phát triển tại chỗ, tại vùng của khối u:
- Các khối u ở trung tâm thường gây ho, ho ra máu, các triệu chứng bít
tắc phế quản và gây viêm phế quản tắc nghẽn.
- Các khối u ở ngoại vi thường không biểu hiện triệu chứng lâm sàng
vú to ở nam giới và dậy thì sớm ở nữ giới.
+ Tăng sản sinh các hormon khác: calcitonin, prolactin, serotonin,
insulin.
- Các hội chứng thần kinh:
+ Hội chứng Lambert - Eaton (hội chứng nhược cơ giả): viêm đa
dây thần kinh dẫn đến nhược cơ, yếu cơ gốc chi và mệt mỏi.
8
+ Bệnh thần kinh cảm giác bán cấp tính.
- Hội chứng Pierre Marie: to đầu chi, đau nhức phì đại xương khớp.
- Các hội chứng cận u biểu hiện ở da: viêm cơ da, dày lớp gai, chai
hoặc đa sừng hoá ở lòng bàn tay và gót chân.
- Các biểu hiện ở tim mạch, huyết học: viêm nội tâm mạc, huyết tắc
không nhiễm khuẩn, huyết tắc ở xa, tình trạng máu nhanh đông chiếm 10 -
15%. Số lượng tiểu cầu tăng, tăng sinh sợi huyết 54% các trường hợp.
- Các biểu hiện ở thận: viêm cầu thận màng và các hội chứng về thận.
* Các triệu chứng di căn: UTPKTBN có thể di căn tới bất kì vị trí nào
trên cơ thể nhưng phổ biến nhất là di căn não, xương, gan.
- Đau đầu và các hội chứng thần kinh tuỳ theo vị trí di căn não.
- Đau xương do di căn xương.
- Đau vùng bụng trên, vàng da, suy kiệt do di căn gan.
* Các triệu chứng toàn thân:
- Chán ăn, gày sút cân là triệu chứng phổ biến.
- Thiếu máu, sốt.
Tuy nhiên, các triệu chứng lâm sàng của UTPKTBN thường không đặc
hiệu nên chỉ có ý nghĩa gợi ý cho chẩn đoán [2;3;13;14].
1.2.2. Cận lâm sàng
1.2.2.1. Chẩn đoán hình ảnh
- Chụp Xquang phổi thường thẳng - nghiêng
Chụp Xquang phổi thường có thể xác định được vị trí, kích thước, hình
thái tổn thương (u và hạch). Phim Xquang thường cho phép phát hiện khối u
mô bệnh học và đánh giá khả năng phẫu thuật. Tuy nhiên, nội soi phế quản
ống mềm chỉ soi được đến nhánh phế quản thứ 6 (vùng trung tâm và vùng
giữa), không thấy được tổn thương ngoại vi.
1.2.2.3. Xét nghiệm mô bệnh học: Giúp chẩn đoán xác định, phân loại mô
bệnh học, phân độ mô học
10
- Trước phẫu thuật: có thể sinh thiết qua nội soi phế quản, hoặc có thể
sinh thiết kim nhỏ xuyên thành ngực có sự hướng dẫn của CT Scanner.
- Xét nghiệm MBH bệnh phẩm sau phẫu thuật.
1.2.2.4. Tế bào học: xét nghiệm tế bào học các bệnh phẩm như: đờm, dịch
chải rửa phế quản, chất quét tổn thương qua soi phế quản, phiến đồ áp các
mảnh sinh thiết, bệnh phẩm sau phẫu thuật, chọc hút kim nhỏ xuyên thành
phế quản hoặc chọc hút kim nhỏ xuyên thành ngực. Với các trường hợp di
căn hạch, xương hoặc dưới da, xét nghiêm tế bào học giúp chẩn đoán gián
tiếp.
1.2.2.5 Phân loại mô bệnh học
Phân loại mô bệnh học UTPKTBN theo phân loại WHO 1999, gồm các
typ sau [64]:
Bảng 1.2: Phân loại mô bệnh học.
1. Carcinom tế bào vẩy
Biến thể: nhú, tế bào sáng, tế bào nhỏ, dạng đáy
2. Carcinom tuyến
Tuyến chùm nang
Tuyến nhú
Carcinom tiểu PQ-PN
Không nhầy
Nhầy
Typ hỗn hợp nhầy và không nhầy hay typ tế bào trung gian
Tuyến dạng đặc có chế nhầy
Carcinom tuyến với các thứ nhóm hỗn hợp
T
0
: không có dấu hiệu của u nguyên phát
Tis: ung thư tại chỗ.
12
T
1
: U có đường kính lớn nhất ≤ 3cm, u được bao quanh bằng phổi hoặc
lá tạng màng phổi, không có dấu hiệu u xâm lấn tới phế quản xa và tiểu phế
quản thùy khi thăm khám bằng nội soi.
T1a: U có đường kính lớn nhất ≤ 2cm
T1b: U có đường kính lớn nhất > 2cm nhưng ≤ 3cm
T
2
: U> 3cm nhưng ≤ 7cm nhưng u có bất kỳ một trong các dấu hiệu sau:
Xâm lấn phế quản gốc, cách xa carina ≥ 2cm
Xâm lấn lá tạng màng phổi
Phối hợp với xẹp phổi hoặc viêm phổi tắc nghẽn do u xâm lấn tới vùng
rốn phổi nhưng không bao gồm toàn bộ phổi
T2a: U có đường kính > 3cm nhưng ≤ 5cm
T2b: U có đường kính > 5cm nhưng ≤ 7cm
T
3
: khối u > 7cm hoặc xâm lấn trực tiếp vào một trong số bất cứ thành
phần sau: thành ngực (bao gồm các khối u nằm rãnh liên thùy trên), cơ hoành,
thần kinh hoành, màng phổi trung thất, lá thành màng ngoài tim; hoặc khối u
nằm ở phế quản gốc cách carina < 2cm nhưng không xâm lấn carina; hoặc
khối u phối hợp với xẹp phổi, hay viêm phổi tắc nghẽn toàn bộ phổi, hay có
một hay vài nhân ung thư nằm rải rác trong cùng thùy phổi.
T
: Di căn xa
M1a: Các nhân di căn nằm ở thùy phổi đối bên, màng phổi hoặc tràn
dịch màng phổi (màng tim) ác tính.
M1b: Di căn xa
Bảng 1.3: Đánh giá giai đoạn bệnh
T/M Tiểu nhóm N0 N1 N2 N3
T1 T1a IA IIA IIB IIIB
T1b IA IIA IIIA IIIB
T2 T2a IB IIB IIIA IIIB
T2b IIA IIB IIIA IIIB
T3 T3 (> 7) IIB IIIA IIIA IIIB
T3 xâm nhập IIB IIIA IIIA IIIB
T3 vệ tinh IIB IIIA IIIA IIIB
T4 T4 xâm nhập IIIA IIIA IIIB IIIB
T4 hạch cùng bên IIIA IIIA IIIB IIIB
M1 M1a hạch đối bên IV IV IV IV
M1a màng phổi IV IV IV IV
M1b IV IV IV IV
1.4. Các phương pháp điều trị.
Các phương pháp điều trị chính là phẫu thuật, tia xạ, hóa chất, trong đó
điều trị bằng phẫu thuật là phương pháp mang lại kết quả tốt nhất. Khi không
thể chọn phẫu thuật cho các ung thư còn cắt được thì xạ trị được dùng để
kiểm soát u nguyên phát và các hạch lympho vùng. Hóa trị hiếm khi trị khỏi
ung thư phổi, nhưng đôi khi cũng có đáp ứng hoàn toàn và kéo dài sống thêm
14
đối với căn bệnh tiến xa tại chỗ tại vùng, cũng như di căn xa. Liệu pháp đa
mô thức (kết hợp nhuần nhuyễn phẫu xạ hóa trị) đã và đang tiếp tục được vận
dụng tối đa để tăng sống thêm cho các bệnh nhân UTP. Điều trị trúng đích là
chiến lược mới trong điều trị UTP hiện nay.
Chỉ định điều trị UTPKTBN phụ thuộc vào giai đoạn bệnh, chức năng
Hóa trị tân bổ trợ trước mổ có hiệu quả đối với các tổn thương tiến xa
tại chỗ. So với hóa trị luân phiên, hóa xạ trị đồng thời được ủng hộ, mục tiêu
chính là gia tăng tác dụng diệt u của xạ trị.
Hóa trị có vai trò tích cực trong giai đoạn IIIA (N2). Hóa trị đơn thuần
hay kết hợp với xạ trị sau mổ làm tăng tỉ lệ sống còn rõ ràng so với phẫu thuật
đơn thuần với bệnh N2. Sau năm 2002, kết quả từ các thử nghiệm rộng lớn đã
khuyến khích dùng hóa trị hỗ trợ với Cisplatin kết hợp sau phẫu thuật tận gốc
bệnh nhân UTPKTBN ở giai đoạn II, IIIA.
Xạ trị
Được dùng riêng lẻ hay kết hợp với các phương pháp khác. Xạ trị ngoài
có thể là liệu pháp chính, đặc biệt dùng cho những người bệnh không chịu nổi
cuộc mổ. Xạ trị có thể dùng đồng thời với hóa trị (hóa xạ trị đồng thời) và
hoặc phẫu thuật, để làm teo bớt khối u nhằm giảm đau, bớt chảy máu hoặc
làm thông thoáng đường thở.
Điều trị ung thư phổi bằng xạ trị là một thách thức. Khối u thường
rộng, hình thù không đều, chuyển động với nhịp thở và nằm sát với các mô
ilành sinh tử. Tổn thương mô phổi lành do bức xạ thường gặp, được phân làm
độc tính sớm hay muộn. Sau xạ trị, chức năng phổi được cải thiện vì khối u
teo bớt, nhất là các u vùng trung tâm vốn chèn ép đường thở. Tuy nhiên
thường thì chức năng thở giảm đi. Độc tính xạ trên thực quản và tim rất đáng
16
quan tâm.
1.5. Điều trị hóa chất giai đoạn muộn
1.5.1. Quá trình hình thành và phát triển
Việc điều trị hóa chất cho bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn muộn bắt đầu
được nghiên cứu và áp dụng từ những năm 1980 nhưng những kết quả ban đầu
rất hạn chế, không cải thiện được thời gian sống thêm một cách rõ rệt và có khá
nhiều tác dụng phụ. Trong số hơn 50 tác nhân hóa chất được đưa vào thử
nghiệm đầu những năm 1980 thì chỉ có 5 tác nhân cho thấy có tác dụng kháng
u trên 15% số bệnh nhân, đó là: Cisplatin, Ifosfamide, Mitomycin C, Vindesine
trong điều trị UTPKTBN giai đoạn tiến triển [17], [18].
1.5.2. Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về kết quả điều trị hoá chất
với các phác đồ khác nhau cho UTPKTBN giai đoạn muộn:
Một nghiên cứu phân tích cho thấy sử dụng phác đồ có Cisplatin đã làm
giảm 27% tỉ lệ tử vong trong năm đầu và tăng 10% tỉ lệ sống thêm 1 năm so
với nhóm điều trị triệu chứng đơn thuần (từ 16% lên 26%) và thời gian sống
thêm trung bình tăng từ 6 tháng lên 8 tháng [12].
Gần đây, sự ra đời của các tác nhân hóa chất mới đã chứng tỏ tác dụng
trong việc điều trị UTPKTBN bao gồm Taxane, Vinorelbine, Gemcitabine
Irinotecan và đang ngày càng được sử dụng rộng rãi trong lâm sàng. Tuy
nhiên, việc lựa chọn ra một phác đồ thích hợp là vô cùng khó khăn vì hiệu
quả của các phác đồ gần tương đương nhau [16], [17].
18
Bảng 1.4: Một số thử nghiệm lâm sàng so sánh phác đồ Gemcitabin-
Cisplatin với các phác đồ khác
Nghiên cứu N Phương pháp điều trị
Tỉ lệ
đáp
ứng
(%)
Thời gian
sống thêm
trung bình
(tháng)
Sống
thêm 1
năm
(%)
Meerbeeck 2001 [52] 522 Cisplatin
Cisplatin/Gemcitabine
Gebbia 2003 400 Cisplatin/Vinorelbine
Gemcitabine/Cisplatin
42
30
9,0
8,2
20
24
1.5.3 Chiến lược mới trong điều trị UTPKTBN
Ngày nay những hiểu biết của con người về sinh học ung thư ngày càng
tăng lên và nhiều đích mới cho điều trị được phát hiện. Một trong những biện
pháp đó là tác động vào thành phần tyrosin kinase của thụ thể yếu tố phát
triển biểu bì- EGFR ( Epidermal Growth Fector Receptor). Có nhiều thuốc đã
được nghiên cứu ở các giai đoạn thử nghiệm lâm sàng khác nhau. Trong đó
có Gefitinib (ZD 1839, Iressa) và Erlotinib (OSI 774, Tarceva) đã được
nghiên cứu rộng rãi và áp dụng trong thực tiễn điều trị. Hai loại nhắm trúng
đích mới này mới được cho phép dùng điều trị bước 1 cho UTPKTBN tiến xa.
* Điều trị UTPKTBN tái phát
BN tái phát đơn độc tại phổi và không có dấu hiệu của di căn xa có thể
19
điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ u tái phát. Đối với u tái phát ở nhiều vị trí, thể
trạng không được tốt, hóa trị liệu hay xạ trị chỉ đóng vai trò điều trị giảm nhẹ.
Trong trường hợp bệnh chưa lan tràn rộng, hóa trị liệu có thể kéo dài thời gian
sống cho BN.
1.6. Các thuốc sử dụng trong nghiên cứu
1.6.1 Gemcitabin
Công thức hóa học của Gemcitabin
* Cơ chế tác dụng: Gemcitabin biểu lộ tính đặc hiệu ở pha tế bào, trước
hết diệt tế bào nào thông qua sự tổng hợp DNA (pha S) và cũng phong bế sự
phát triển của tế bào qua ranh giới pha G1/S. Gemcitabin được chuyển hóa trong
- Thuốc thường được dùng phối hợp với các thuốc chúng ung thư khác
Cách dùng:
- Dùng một mình: Liều cho người lớn và trẻ em là 50-100mg/m da cơ
thể, cứ 3 đến 6 tuần/lần trong ngày, hoặc chia 2-5 ngày.
- Trước khi dùng phải truyền 2-5lits dung dịch glucose 5% trong 12h.
Sau khi dùng thuốc vẫn phải truyền dich để lợi niệu trong vòng 24h.
- Dùng phối hợp: liều lượng cần thay đổi tùy theo bản bản chất và độc
21
tính của thuốc phối hợp.
- Trong điều trị UTP đây là thuốc cơ bản.
Chống chỉ định:
- Tuyệt đối: Những người dị ứng với Cisplatin hoặc các thuốc có platin,
phụ nữ có thai cho con bú.
- Tương đối: có tổn thương chức năng gan thận. Về nguyên tắc nếu
creatinin gấp 2 lần bình thường thì không dùng, có độc tính thính giác.
- Không phối hợp với kháng sinh aminosid
- Theo dõi thính lực và kiểm tra về tinh thần.
Bảo quản: Lọ thuốc kín để tủ lạnh 2-8 độ C và tránh ánh sáng. Sau khi
đã pha thành dung dịch thi ko để lại tủ lạnh vì thuốc sẽ bị kết dính trở lại. Nếu
để nhiệt độ phòng thì để được một giờ.
Quá liều: Khi dùng quá liều phải theo dõi chặt chẽ chức năng thận,
thính giác, công thức máu. Nếu quá liều phải thẩm tách máu đẻ tránh ngấm
vào nhu mô thận.
22
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Gồm các BN ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn muộn được điều
trị bằng hóa chất phác đồ Gemcitabin- Cisplatin tại Bệnh viện K từ tháng
1/2008 đến tháng 1/2014.
=
−
Trong đó:
n
: cỡ mẫu cần cho nghiên cứu
α : xác suất sai lầm loại I
Z
(1-
α
/2)
: Giá trị thu được từ bảng Z ứng với giá trị α = 0,05 Z
(1-
α
/2)
= 1,96
p: Tỷ lệ đáp ứng sau điều trị hoá chất phác đồ Gemcitabin– Cisplatin trong
điều trị UTPKPTBN giai đoạn muộn lấy từ nghiên cứu trước đó (p = 0.36)
ε : Hệ số chính xác tương đối được chọn là 0,4
Cỡ mẫu dự kiến tính được là : 43BN
2.2.2. Thu thập thông tin
Mỗi bệnh nhân sẽ được thu thập thông tin theo mẫu bệnh án nghiên cứu
thống nhất, dựa trên các thông tin hồi cứu từ bệnh án được lưu trữ.
Gửi bệnh nhân thư mời đến khám lại và thăm dò kết quả điều trị theo
mẫu in sẵn, dễ hiểu. Thư được gửi đến gia đình bệnh nhân, nếu sau 3 lần gửi
thư ( mỗi thư cách một tháng ) không có thư trả lời coi như mất thông tin.
Những bệnh nhân không đến khám lại sẽ được theo dõi và thu thập
thông tin qua điện thoại.
Tất cả những bệnh nhân thuộc diện nghiên cứu đều thống nhất
2.3. Các bước tiến hành
da pha vào 100ml NaCl 0,9% truyền tĩnh mạch
ngày 1, 8, 15 (trong 30 phút)
25
2. Cisplatin: 100mg/ m
2
pha vào 250ml NaCl 0,9% truyền tĩnh mạch
trong 3 giờ ngày 1.
Cách truyền:
- Truyền dịch từ 4-6 lít glucose 5% có pha thêm NaCl và KCl trước và
trong quá trình truyền cisplatin.
- Manitol 10% 250ml truyền trong 30 phút trước và sau khi truyền
cisplatin.
- Thuốc dị ứng:
+ Kháng HT3, 1 ống tiêm vào một ngày trước khi truyền cisplatin.
+ Corticoid 1 giờ trước khi truyền hóa chất.
Chu lặp lại mỗi 4 tuần.
- Sau mỗi đợt điều trị bệnh nhân sẽ được khám lại để đánh giá lâm
sàng, cận lâm sàng, đáp ứng với điều trị để có thể điều chỉnh liều chỉnh liều
thuốc cho thích hợp. Tất cả các bệnh nhân trong nghiên cứu sau 3 đợt đều được
đánh giá đáp ứng, nếu bệnh nhân có đáp ứng sẽ tiếp tục điều trị tiếp 3 đợt, nếu
bệnh tiến triển sẽ chuyển sang phác đồ khác hoặc điều trị triệu chứng.
- Xử trí các tình huống gặp trong quá trình điều trị: một số tình huống
như hạ bạch cầu, nhiễm khuẩn, chức năng gan, thận sẽ được xử trí kịp thời và
chỉ truyền hoá chất tiếp khi các chỉ số trở về mức độ cho phép.
2.3.3. Đánh giá hiệu quả điều trị và tác dụng phụ
* Các thời điểm đánh giá: đánh giá đáp ứng sau 3 và 6 chu kì hoá chất
* Dựa vào các thông tin thu được về lâm sàng và cận lâm sàng: tình
trạng toàn thân, u, hạch dựa trên khám lâm sàng, các xét nghiệm cận lâm sàng
và so sánh với các thông tin trước điều trị.
* Đánh giá đáp ứng với điều trị hoá chất: dựa theo tiêu chuẩn