nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng đầu tư và phát triển, chi nhánh đông anh - Pdf 23



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ NGỌC HOA NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
ðẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN - CHI NHÁNH ðÔNG ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. MAI THANH CÚC HÀ NỘI, 2013

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế i

LỜI CAM ðOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này do bản thân tự nghiên cứu và thực hiện,
các kết quả nêu trong luận văn là trung thực không sao chép của bất kỳ ai.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã
được chỉ rõ nguồn gốc, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã
được cảm ơn.
Hà nội, ngày tháng 12 năm 2013

Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hoa

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế iii

MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng v

Danh mục biểu đồ vi

Danh mục sơ đồ vi

Danh mục viết tắt vii

1.

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3


2.2.2 Tình hình quản lý và nâng cao chất lượng tín dụng tại Việt
Nam
32

2.2.3 Một số kết luận rút ra từ nghiên cứu cơ sở thực
tiễn
33Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế iv

3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 35

3.1.1 Đặc điểm địa bàn huyện Đông Anh 35

3.1.2 Đặc điểm ngân hàng đầu tư và Phát triển chi nhánh Đông Anh 38

3.2 Phương pháp nghiên cứu 41

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 41

3.2.2 Phương pháp xử lý số
liệu
43

3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 43



TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHỤ LỤC 105

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế v

DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Nguồn vốn huy Động của BIDV - Đông Anh 51
Bảng 4.2 Một số chỉ tiêu về kết quả hoạt động kinh doanh của ngân
hàng BIDV Đông Anh 53
Bảng 4.3 Cơ cấu tín dụng theo thời gian của BIDV Đông Anh 54
Bảng 4.4 Dư nợ tín dụng tại ngân hàng BIDV Đông Anh 55
Bảng 4.5 Tỷ trọng dư nợ cho vay của một số ngân hàng thương mại
lớn trên cùng địa bàn 56
Bảng 4.6 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thành phần kinh tế 56
Bảng 4.7 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo ngành 58
Bảng 4.8 Một số chỉ tiêu thu nhập phản ánh chất lượng tín dụng của
BIDV Đông Anh 60
Bảng 4.9 Bảng chỉ tiêu ROA của ngân hàng BIDV Đông Anh 61
Bảng 4.10 So sánh chỉ tiêu ROA giữa một số ngân hàng lớn trên cùng
địa bàn 61
Bảng 4.11 Nhóm chỉ tiêu năng lực tài chính của BIDV 62
Bảng 4.12 Dư nợ các nhóm của BIDV Đông Anh từ năm 2010 -2012 63
Bảng 4.13 Dư nợ cho vay theo tài sản đảm bảo của khách hàng 64
Bảng 4.14 Chỉ tiêu nợ xấu- tỷ lệ nợ xấu 66
Bảng 4.15 Kết quả trả lời về mức lãi suất cho vay trong 3 năm 2010 - 2012 68
Bảng 4.16 Đánh giá của khách hàng về thủ tục và quy chế cho vay vốn 69
Bảng 4.17 Đánh giá của khách hàng về thời gian xét duyệt cho vay 71

ĐVT Đơn vị tính
GDV Giao dịch viên
KH Kế hoạch
NH Ngân hàng
NHĐT Ngân hàng đầu tư
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng trung ương
TCKT Tổ chức kinh tế
TCTD Tổ chức tín dụng
TCXH Tổ chức xã hội
TMDV Thương mại dịch vụ
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
UBND TP Ủy ban nhân dân thành phố
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế 1

1. ðẶT VẤN ðỀ

1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Cùng với sự tăng trưởng và phát triển không ngừng của nền kinh tế,
nhu cầu vốn đã trở nên vô cùng cấp thiết cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi
mới trang thiết bị cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Hoạt động của các
ngân hàng thương mại đã trở thành một phần không thể thiếu trong quá trình
phát triển đó. Kể từ khi chuyển từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống
ngân hàng hai cấp, các ngân hàng thương mại Việt Nam đã có những bước

doanh nhưng đồng thời cũng là một thách thức không nhỏ đối với chi nhánh.
Hoạt động trên cùng một địa bàn với nhiều NHTM lớn, sự cạnh tranh trong
kinh doanh là không tránh khỏi. Song, kể từ khi thành lập đến nay, chi nhánh
đã từng bước phấn đấu, ngày một hoàn thiện hơn và đạt được nhiều thành tựu
đáng kể, có tốc độ phát triển tương đối nhanh về mọi mặt, đã khẳng định được
vị trí trên thị trường. Tuy vậy trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội hiện
nay hoạt động tín dụng của chi nhánh cũng đang phải đối mặt với nhiều thách
thức mới, tiềm ẩn rủi ro lớn trong kinh doanh.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tín dụng, cùng với những
kiến thức đã học tập và nghiên cứu tại trường và thực tế hoạt động của ngân
hàng, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu "Nâng cao chất lượng tín dụng tại
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển - chi nhánh Đông Anh”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển - chi
nhánh Đông Anh, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao chất
lượng tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển - chi nhánh Đông Anh.

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tín dụng và chất lượng tín
dụng của các ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.
Đánh giá chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển - chi
nhánh Đông Anh trong thời gian qua.
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng tín dụng tại
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển - chi nhánh Đông Anh trong thời kỳ tới
1.3 ðối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
1.3.1 ðối tượng nghiên cứu
Chất lượng tín dụng cho vay tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển - chi

người sở hữu sang người sử dụng sau một thời gian nhất định lại quay về với
lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Hay “Tín dụng là một phạm trù kinh tế chỉ mối quan hệ vay mượn dựa
trên nguyên tắc có hoàn trả cả vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định”.
Tóm lại: Tín dụng là quan hệ vay mượn giữa các chủ thể trong nền kinh
tế, trong đó chủ thể này chuyển nhượng cho chủ thể khác quyền sử dụng một
lượng giá trị (có thể dưới hình thức hàng hoá hoặc tiền tệ) với những điều

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế 5

kiện và trong một thời gian nhất định mà hai bên đã thoả thuận dựa trên
nguyên tắc có hoàn trả.
Theo Luật các tổ chức tín dụng được nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam quy định thông qua ngày 12/12/1997 thì “Tổ chức tín dụng là một
tổ chức hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ cho ngân hàng với nội dung
nhận tiền gửi để cho vay cung ứng các dịch vụ thanh toán trả hộ ” mà ngân
hàng là một loại hình tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng
và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Như vậy, có thể nói rằng,
ngân hàng chính là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động kinh
doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi, cho vay, thực
hiện các dịch vụ chi trả hộ, cung ứng các phương tiện thanh toán cùng các
hoạt động kinh doanh khác. Mục tiêu hoạt động kinh doanh của ngân hàng là
lợi nhuận với các đối tượng kinh doanh là tiền tệ.
Theo Nghị định của Chính phủ số 49/20001NĐ-CP ngày 12/9/2000:
“Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận,
góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước".
2.1.1.2 Tín dụng ngân hàng thương mại
Trong thực tế thuật ngữ tín dụng được hiểu ở nhiều khía cạnh khác
nhau, tuy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng được nghiên cứu ở

Luật các TCTD năm 2010 “ Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ
chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một
khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu,
cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cấp

TD khác”.

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế 7

Trong luận văn này tôi nghiên cứu cấp tín dụng NHTM trên
phương diện nghiệp vụ cho vay. Vậy: Tín dụng NHTM là quan hệ vay
mượn phát sinh từ việc NHTM sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy ñộng
ñể thực hiện cho vay ñối với các tổ chức kinh tế, cá nhân, dân cư với những
ñiều kiện và trong một thời gian nhất ñịnh mà hai bên ñã thoả thuận dựa trên
nguyên tắc có hoàn trả.
(2) Nghiên cứu tín dụng trên giác độ nền kinh tế thì tín dụng “là sự vận
động vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu”.
Theo quan điểm (2), nếu xét phạm vi hệ thống NHTM thì mỗi NHTM
là “khách hàng” vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò người cho
vay trên thị trường liên ngân hàng nhằm điều hòa vốn.
=> Trên giác độ nền kinh tế: Tín dụng NH là quan hệ vay mượn vốn lẫn
nhau giữa các NHTM nhằm phục vụ mục đích kinh doanh của chính mình và
đảm bảo an toàn theo quy định pháp luật trong lĩnh vực tài chính- ngân hàng,
trong đó NHTM này chuyển nhượng cho NHTM khác quyền sử dụng một lượng
giá trị (có thể dưới hình thức hàng hoá hoặc tiền tệ) với những điều kiện và trong
một thời gian nhất định mà hai bên đã thoả thuận dựa trên nguyên
* ðặc trưng của hoạt ñộng tín dụng ngân hàng
- Thứ nhất: Hoạt động tín dụng ngân hàng dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.
- Thứ hai: Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, tức phải trả
thêm phần lãi ngoài vốn gốc.

kinh tế và từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
2.1.2.3 Là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành mũi nhọn
Trong nền kinh tế thường tồn tại các ngành có trạng thái phát triển đối
lập nhau, một số ngành do có điều kiện thuận lợi và có lịch sử lâu dài có thể

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế 9

phát triển tốt với nhiều thế mạnh và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, ngược
lại một số ngành do nhiều nguyên nhân khác nhau nên còn kém phát triển.
Trong chiến lược phát triển kinh tế lâu dài của quốc gia đã thực hiện phân loại
những ngành kinh tế mũi nhọn và những ngành kinh tế kém phát triển để có
kế hoạch đầu tư nhằm cân đối lại cơ cấu kinh tế công- nông nghiệp- dịch vụ.
Muốn thực hiện được điều đó cần phải có vốn. Tín dụng ngân hàng góp phần
đáp ứng điều đó.
2.1.2.4 Góp phần tác ñộng ñến việc tăng cường chế ñộ hạch toán kinh tế của
các doanh nghiệp
Đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có
lợi tức. Nhờ vậy mà hoạt động tín dụng đã kích thích sử dụng vốn và sử dụng
có hiệu quả. Khi sử dụng vốn vay ngân hàng doanh nghiệp phải tôn trọng hợp
đồng tín dụng, tức phải là hoàn trả nợ vay đúng hạn và tôn trọng các điều kiện
khác đã ghi trong hợp đồng tín dụng, bằng các tác động như vậy đòi hỏi
doanh nghiệp phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm
chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn tạo điều kiện nâng cao doanh lợi của
doanh nghiệp.
2.1.2.5 Tạo ñiều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp
nước ngoài
Trong diều kiện ngày nay, phát triển kinh tế của một quốc gia gắn liền
với thị trường thế giới, kinh tế “ đóng” đã nhường bước cho kinh tế “mở”, tín
dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền nền kinh
tế các nước với nhau. Đối với các nước đang phát triển nói chung và nước ta
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế 11

Phân loại tín dụng dựa trên hình thức tài trợ:
Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách
hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Đây là tài
sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng.
Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách
hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân
hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn ( hoặc một giấy nợ).
Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản để cho khách hàng
thuê theo những thỏa thuận nhất định. Sau thời gian nhất định khách hàng
phải trả cả gốc và lãi cho ngân hàng.
Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ
khách hàng của mình.
Phân loại tín dụng dựa trên tài sản đảm bảo:
Tín dụng không cần tài sản đảm bảo là hình thức cấp tín dụng không
dựa trên cam kết yêu cầu ngân hàng và khách hàng phải kí hợp đồng bảo đảm.
Tín dụng có tài sản đảm bảo là hình thức cấp tín dụng dựa trên cam kết
đảm bảo yêu cầu ngân hàng và khách hàng phải kí hợp đồng bảo đảm.
Phân loại tín dụng dựa trên rủi ro:
Tín dụng lành mạnh là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.
Tín dụng có vấn đề là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh
như khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm…
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi là các khoản nợ đã quá hạn với thời
gian ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá
trị lớn

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế 12

điểm của khái niệm chất lượng:
- Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu. Nếu một sản phẩm vì lý
do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng
kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại.
Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính
sách, chiến lược kinh doanh của mình.
- Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn
luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian,
không gian, điều kiện sử dụng.
- Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xét và chỉ xét đến
mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ
thể. Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có
liên quan.
- Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu
chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử
dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong chúng
trong quá trình sử dụng.
- Chất lượng không phải là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta vẫn
hiểu hàng ngày. Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình.
* Trong lĩnh vực dịch vụ, chất lượng dịch vụ được định nghĩa bằng
nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu và môi trường
nghiên cứu.
Theo Parasuraman & ctg (1985, 1988), chất lượng dịch vụ là khoảng
cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng
qua dịch vụ.

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế 14

Theo Lehtinen & Lehtinen (1982) cho là chất lượng dịch vụ phải được
đánh giá trên hai khía cạnh, (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của

đồng bộ (TQM): “là phương pháp quản lý của một tổ chức-doanh nghiệp,
định hướng vào chất lượng dựa trên sự tham gia của mọi thành viên nhằm
đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự cải tiến không ngừng của chất
lượng nhằm thoả mãn nhu cầu khách hàng và lợi ích của mọi thành viên của
công ty cũng như tham gia vào lợi ích cho xã hội”.
2.1.4.2 Quan niệm chất lượng tín dụng NHTM
Ở nước ta còn có một số quan điểm khác nhau về khái niệm dịch vụ NH.
Quan điểm 1: Các hoạt động sinh lời của NHTM ngoài hoạt động cho
vay thì được gọi là hoạt động dịch vụ. Quan điểm này phân định rõ hoạt động
tín dụng, một hoạt động truyền thống và chủ yếu trong thời gian qua của các
NHTM Việt Nam, với hoạt động dịch vụ, một hoạt động mới bắt đầu phát
triển ở nước ta. Sự phân định như vậy trong xu thế hội nhập và mở cửa thị
trường dịch vụ tài chính hiện này cho phép NH thực thi chiến lược tập trung
đa dạng hoá, phát triển và nâng cao hiệu quả của các hoạt động phi tín dụng.
Quan điểm 2: “Tất cả các hoạt động kinh doanh của một NHTM đều
được coi là hoạt động dịch vụ”. Ngân hàng là một loại hình DN kinh doanh
tiền tệ, cung cấp dịch vụ cho KH. Quan niệm này phù hợp với thông lệ quốc
tế, phù hợp với cách phân loại các phân ngành dịch vụ trong dự thảo Hiệp
định WTO mà Việt Nam cam kết, đàm phán trong quá trình gia nhập, phù hợp
với nội dung Hiệp định thương mại Việt - Mỹ. Trong phân tổ các ngành kinh
tế của Tổng cục Thống kê Việt Nam, NH là ngành được phân tổ trong lĩnh
vực dịch vụ.
Với quan niệm thứ hai, thì phù hợp với thông lệ quốc tế là coi hoạt
động kinh doanh của NHTM là một nghề cung cấp dịch vụ cho KH. Chính

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế 16

chất lượng của mỗi dịch vụ NH cung cấp cho KH đó đem lại hiệu quả kinh
doanh cho NHTM.
Cũng như các sản phẩm và dịch vụ khác cung ứng trên thị trường, để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status