1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư tinh hoàn (UTTH) là một bệnh lý ít gặp, chỉ chiếm khoảng 1%
tổng số ung thư ở nam giới, bệnh thường gặp ở lứa tuổi 15 – 40 tuổi [1, 2].
Theo IARC (2002) UTTH thay đổi theo từng khu vực, cao ở các nước Bắc Âu
(9-10/100000 dân), thấp ở Châu Á – Trung Quốc (0,4/100000 dân). Người da
trắng mắc bệnh cao gấp 4-5 lần người da đen. Đặc biệt trong khoảng thời gian 40
năm (1930- 1971) tần suất UTTH ở người Mỹ da trắng đã tăng 2 lần từ (2/100000
người lên 4/100000 người), song tần suất UTTH ở người Mỹ da đen không thay
đổi (0,9/100000 người) [3, 4]. Ở Việt Nam, theo Phạm Hoàng Anh và CS (2000),
tần suất UTTH ở quần thể người Hà Nội là 0,85 /100000 dân/năm [5], ở quần thể
người tại Tp. HCM là 0,5 /100000 dân/năm.
Về mô học, UTTH được chia thành 3 nhóm chính: U tế bào mầm, u mô
đệm dây sinh dục và các u mô đệm không đặc hiệu khác, trong đó 90%–95%
UTTH là u tế bào mầm [1, 2, 6].
Nhìn chung, UTTH có tiên lượng tốt do bệnh có khả năng chẩn đoán
sớm, xác định chính xác được giai đoạn bệnh, điều trị đầy đủ, hợp lý bằng hóa
trị (có hay không có kết hợp phẫu trị và xạ trị) kết hợp chế độ theo dõi chặt
chẽ, nghiêm ngặt và xử trí phù hợp [7]. Ở Mỹ, tỷ lệ sống sau 5 năm của UTTH
lên tới >90% [4]. Ở Việt Nam, tại Bệnh viện K Hà Nội năm 1993 tỷ lệ sống
sau 5 năm đạt 53,47% [8], năm 2005 tỷ lệ sống sau 5 năm đạt 65,6% [9]. Về
chẩn đoán, ngoài dựa vào các triệu chứng lâm sàng, còn có sự đóng góp rất quan
trong của các chẩn đoán cận lâm sàng như: Siêu âm, chụp cắt lớp vi tính (CLVT),
chụp cộng hưởng từ (MRI), xét nghiệm chất chỉ điểm u αFP, HCG, LDH đã
giúp phát hiện sớm, theo dõi, đánh giá tình trạng bệnh một cách hợp lý và mang
lại cơ hội chữa khỏi bệnh UTTH ngày càng cao. Phương pháp điều trị đa mô
thức, nhất là những tiến bộ về hóa trị với các phác đồ mới đã làm tăng đáng kể
thời gian sống thêm và chất lượng sống của bệnh nhân UTTH.
2
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về UTTH, ở Việt Nam,
các công trình nghiên cứu về UTTH không nhiều, chủ yếu đề cập về typ mô
Muller ở nam giới bị thoái hoá và để lại di tích ở đầu trên là Hydatid không
cuống và một đầu ở dưới là một túi cùng gọi là túi tiền liệt. Khoảng tháng thứ
5, tinh hoàn nằm ở gần vùng bẹn, tháng thứ 6 nằm ở gần lỗ sâu ống bẹn và đi
qua ống đó vào tháng thứ 7 và tới vị trí vĩnh viễn vào khoảng cuối tháng thứ 8.
Trong nhiều trường hợp tinh hoàn lạc chỗ, có thể nằm trong ổ bụng (hay gặp),
trong ống bẹn, ở đùi, mặt lưng dương vật.
Hình 1.2. Sự di chuyển xuống bìu của tinh hoàn
(Nguồn: Frank H. Netter-2004[14])
- Hình thể ngoài: Tinh hoàn có hình dạng giống quả trứng, mỗi người có hai
tinh hoàn nằm trong bìuvà được treo bởi thừng tinh. Ở tuổi trưởng thành, mỗi
tinh hoàn trung bình nặng 20g, dài trung bình 4,5cm, dày trung binh 1,5cm,
rộng trung bình 2,5 cm. Khi về già, có thể nhỏ và nhẹ hơn một ít, phần lớn tinh
hoàn phải nặng hơn bên trái. Vỏ ngoài là lá phúc mạc tạng bụng bao phủ trừ
mào tinh và thừng tinh, có màu trắng xanh ,mặtnhẵn, mặt ngoài lồi, mặt trong
5
phẳng [11]. Mỗi tinh hoàn có hai đầu: trên và dưới, hai mặt: trong và ngoài,
hai bờ: trước và sau, bờ sau có mào tinh bám.
Hình 1.3. Tinh hoàn và mào tinh.
(Nguồn: Frank H. Netter-2004[13])
1. Đầu mào tinh 2. Thân mào tinh 3. Xoang mào tinh 4. Đuôi mào tinh 5.Cơ bìu
6. Lá thành của màng tinh 7.Mẩu phụ mào tinh 8. Mẩu phụ tinh hoàn 9. Tinh hoàn.
- Mô học: Về cấu tạo, lớp vỏ trắng bọc bên ngoài, là tổ chức liên kết đặc, ít
đàn hồi.Từ mặt trong của vỏ trắng, có các vách chạy ra chia tinh hoàn thành
nhiều tiểu thuỳ, có khoảng 250 đến 400tiểu thuỳ,mỗi tiểu thuỳ có từ một đến
bốn ống nhỏ.Tiểu thuỳ có hình chêm, đỉnh hướng về bờ sau của tinh hoàn, tại
đó các vách giao nhau tạo nên trung thất tinh hoàn. Nhu mô tinh hoàn nằm
trong các tiểu thuỳ, gồm các ống sinh tinh xoắn. Người ta ước lượng chừng
800 ống cho mỗi tinh hoàn. Các ống này chạy về phía trung thất tinh hoàn, khi
gần đến, các ống gặp nhau tạo nên các ống sinh tinh thẳng, có số lượng khoảng
20 đến 30, rồi tạo nên lưới tinh. Từ lưới tinh, có các ống xuất đi đến đầu mào
mạch dưới đòn và vòng tuần hoàn chung[10, 11, 15]. Mạch lympho vùng bìu
đổ vào đám rối hạch bẹn nông [11].
Hình 1.5. Mạch máu và mạch lympho chậu hông ở nam giới.
(Nguồn: Frank H. Netter-2004[13])
8
1.1.2. Sinh lý của tinh hoàn
Tinh hoàn vừa là tuyến nội tiết vừa là tuyến ngoại tiết. Về ngoại tiết là
tiết ra tinh trùng, về nội tiết là tiết ra các hoocmôn sinh dục nam là các
testoteron[10, 13, 15].
- Chức năng ngoại tiết: Tinh hoàn sản sinh tinh trùng, những tế bào mầm
nguyên thủy ở gần màng đáy của ống sinh tinh thành nguyên bào tinhrồi thành
tinh bào I (46NST), tinh bào I phân chia giảm nhiễm và các tế bào sinh ra chỉ
còn 23 nhiễm sắc thể gọi là tinh bào II, rồi thành tiền tinh trùng và cuối cùng
thành tinh trùng. Quá trinh này khoảng 74 ngày, tinh trùng là một tế bào di
động giàu AND, đầu tinh trùng chủ yếu là nhiễm sắc thể. Tinh hoàn sản sinh
tinh trùng từ lúc dậy thì cho đến cuối đời.Tinh trùng sắp xếp đầu hướng vào tế
bào Sertoli. Sự sản sinh tinh trùng cần nhiệt độ thấp hơn cơ thể (tinh hoàn nằm
trong cơ bìu và sự sắp xếp các mạch máu của tinh hoàn duy trì nhiệt độ thích
hợp cho việc sản sinh tinh trùng). Trường hợp tinh hoàn lạc chỗ sẽ không có
khả năng sản sinh tinh trùng.
- Chức năng nội tiết: Chức năng bài tiết ra các hoocmôn sinh dục nam gọi
chung là androgens (tiết tố nam). Bản chất là các steroid cấu trúc phân tử có
nhóm –OH ở C1, do tế bào Leydig tiết ra. Chất tác dụng chính là testoteron,
ngoài ra tế bào Sertoli còn bài tiết ra Estrogen và Inhibin.
1.2. SINH BỆNH HỌC, DỊCH TỄ VÀ MÔ BỆNH HỌC CỦA UTTH
1.2.1 Sinh bệnh học
- Một số yếu tố nguy cơ cao gây UTTH: Cho tới nay nguyên nhân gây UTTH
còn chưa được sáng tỏ. Dị tật bẩm sinh, do nội tiết, tinh hoàn không xuống bìu
(THKXB) là yếu tố có ý nghĩa nhất trong những yếu tố gợi ý làm tăng nguy cơ
phát triển bệnh UTTH. Theo Elder những tinh hoàn không xuống bìu có tỷ lệ ung
10
+ Các u chỉ có một typ mô học đơn thuần: Seminoma, spermatocytics
seminoma, ung thư biểu mô phôi, u túi noãn hoàng, u nguyên bào nuôi và u quái.
+ Các u có nhiều hơn một mẫu mô học (hình thái hỗn hợp): Hỗn hợp
ung thư biểu mô phôi và u quái, hỗn hợp u quái và seminoma, hỗn hợp
choriocarcinoma với u quái hoặc ung thư biểu mô phôi hoặc loại khác.
- U mô đệm dây sinh dục: Nhóm này cũng được chia thành các thứ typ nhỏ
với u chỉ có một mẫu mô học đơn thuần (U tế bào Leydig, u tế bào Sertoli, u tế
bào hạt, u tế bào vỏ/xơ vỏ) và nhóm hỗn hợp.
- Các u không đặc hiệu khác: U carcinoid, u biểu mô buồng trứng, u nguyên
bào thận, u cận hạch.
- U hệ lympho tạo huyết
- U của ống dẫn hiếm gặp
- U cấu trúc cận tinh hoàn
- U mô đệm
- U thứ phát.
1.2.3.1. Hình ảnh giải phẫu bệnh một số typ u tế bào mầm thường gặp
- Seminoma: Đây là các u hay gặp nhất, chiếm đến 95% của UTTH, tần suất
bệnh thay đổi theo địa dư. Theo Ferlay J và CS (2001), tỷ lệ u tế bào mầm tại
Đan Mạch, Đức, Na Uy, Hungary và Thụy Sĩ khoảng 8-10/100.000 dân [26].
Ở châu Phi, vùng Caribe và châu Á tỷ lệ mắc bệnh thấp, khoảng 2/100000 dân
[26]. Về hình thái đại thể, u tế bào mầm thường xuất phát ở một tinh hoàn,
kích thước lớn (đôi khi xuất hiện ở tinh hoàn teo). Hình ảnh đại thể đặc trưng
là mô u màu xám, màu kem hay hồng nhạt, thường chi thành thùy. Diện cắt
thuần nhất nhưng có thể có ổ hoại tử màu vàng. Hiện tượng nang hóa và chảy
máu khá phổ biến. Hiếm gặp các trường hợp u lan vào mào tinh và thừng tinh.
Về vi thể, mô u gồm các tế bào có bào tương rộng, chứa nhiều glycogen, ranh
giới tế bào rõ, nhân tế bào lớn, hạt nhân to và rõ. Người ta có thể phân thành
các nhóm seminoma biệt hóa cao và seminoma với chỉ số phân bào cao [27,
11
trung thành đám. Nhân chia thường gặp, nhất là nhân chia bất thường. Các hợp
bào có thể thấy rải rác. Tế bào u vùng ngoại vi có thể thoái hóa hoặc hoại tử tạo
hình ảnh giống choriocarcinoma. Mô đệm ít, ít tế bào viêm, hiems khi hình thành
dạng u hạt. Tế bào u thường xâm nhập huyết quản quanh mô u [35].
1.2.3.2. Hình ảnh giải phẫu bệnh một số typ u tinh hoàn ít gặp khác
- U túi noãn hoàng: U hay gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ nam giới, là u phổ biến
nhất ở tinh hoàn của nhóm tuổi này. Mật độ u chắc, diện cắt màu xám hay xám
trắng, có thể có chất nhầy. U lớn thường có hoại tử, chảy máu. Cấu trúc mô u
đa dạng, hiếm thấy u chỉ có một mẫu mô học thuần nhất. Những mẫu cáu trúc
có thể gặp là: Mẫu cấu trúc dạng lưới hay vi nang giống như hình tổ ong với
các tế bào u nhỏ, nhiều nhân chia, các hạt hyalin thường thấy. Mẫu nang lớn
với các cấu trúc dạng nang có thể kiên tieps nhau hoặc phân cách nhau bởi các
mẫu cấu trúc khác. Mẫu cấu trúc dạng đặc với các đám tế bào u hình đa diện,
bào tương rõ, hạt nhân to, nhiều nhân chia, đôi khi thấy tế bào khổng lồ hay
dạng hợp bào. Mẫu cấu trúc dạng chùm nang với các tế bào u dạng trụ hay đa
diện, đôi khi kèm mô đệm nhầy. Mẫu cấu trúc dạng nhú được tạo bởi các tế
bào u với hạt nhân nổi bật, nhiều nhân chia. Lõi trúc liên kết có thể thưa hay
phù nề hoặc xơ hóa. Mẫu cấu trúc dạng nhầy cho thấy các tế bào u nằm trong
mô đệm nhầy chưa các sợi tạo keo với hạt nhân to và nhiều nhân chia. Mẫu
cấu trúc dạng gan với các tế bào gợi hình ảnh bào gan, các hạt hyalin thường
thấy. Typ ruột với mẫu cấu trúc giống biểu mô ruột hay dạng nội mạc, thường
gặp các hạt hyalin.
13
- U tế bào Leidig: Nhóm u này chiếm 1-3% tổng số UTTH [36]. Mô u có ranh
giới rõ, thường có vỏ, đường kính trung bình khoảng 3-5cm. Diện cắt thường
đồng nhất, màu vàng tới nâu gụ, có thể thấy vôi hóa hoặc xơ hóa [6]. U xâm
lấn vỏ tinh hoàn gặp khoảng 10-15% các trường hợp [39]. Về vi thể, mô u gồm
các tế bào đa diện, bào tương rộng, ưa toan, ranh giới tế bào rõ. Bào tương tế
bào có thể có không bào hay dạng bọt, tùy thuộc lượng lipid trong tế bào. Tinh
thể Reinke có thể gặp trong khoảng 30-40% các trường hợp. Những tinh thể
bìu. Có khi động mạc tinh đập mạnh.
+ Trong trường hợp tinh mạc tràn dịch hoặc ứ máu thì sẽ khám theo thủ
thuật Chevassu, lấy ngón tay ấn mạnh bất tình lình vào bìu sẽ có cảm giác u
tinh hoàn ở dưới.
+ Một dấu hiệu khác có thể hướng sự chú ý vào tinh hoàn, đó là những
người đàn ông phì đại tuyến vú do tế bào u sản xuất gonadotropin rau thai, loại
này chiếm khoảng 2% -4%.
+ Thăm khám toàn diện ở bìu có thể thấy tăng kích thước của bìu, sờ
thấy u trong bìu, đau, rắn. Đặc biệt sự phát triển UTTH trên những người
THKXB được phát hiện bởi triệu chứng đau bụng hoặc đau hố chậu. Khám hai
bên để so sánh và phát hiện hạch di căn (hạch bẹn, hạch thượng đòn). Ngoài
ra có thể gặp một số triệu chứng tiết niệu sau:
+ Triệu chứng tắc nghẽn niệu quản trên do di căn hạch: Hạch vùng
cuống thận di căn gây tắc nghẽn niệu quản trên, gây ứ nước và giãn đài bể
thận, nhất là u ở THKXB phát hiện muôn để lâu có trường hợp u to nằm đúc
khuân hình tiểu khung, chèn ép bang quang niệu quản làm bệnh nhân bí đái
mới đến viện khám [1, 39]. Ngoài ra hạch còn có thể gây chèn ép thần kinh
vùng động mạch chủ gây ra nững rối loạn cơ năng của dạ dày, ruột [8].
15
+ Triệu chứng di căn sau phúc mạc vào hạch bạch huyết gây đau lưng,
di căn phổi gây ho và khó thở, dấu hiệu này chiếm khoảng 5%-10%. Theo
Lawrencer, UTTH ban đầu thường được chẩn đoán là viêm mào tinh hoàn dẫn
tới hậu quả phát hiện bệnh muộn từ vài tuần đến 9 tháng, thậm chí lâu hơn với
khoảng 10% bệnh nhân xuất hiện triêu chứng di căn khi khám lần đầu, cho đến
25% bệnh nhân có bằng chứng di căn đã được phát hiện [41]. Wallace báo cáo
trong 152 trường hợp u tinh hoàn, có 44 trường hợp di căn vào hạch, trong đó
typ Seminoma 15 trường hợp, ung thư biểu mô 29 trường hợp. Theo Võ Văn
Xuân, tỷ lệ UTTH di căn hạch vùng là 42,22% [8].
+ Seminoma: Typ ung thư này thường gặp ở nhóm tuổi 40-50, hầu hết
cho thấy kích thước tinh hoàn to hơn bình thường nhưng không đau. Người ta
(kể cả trường hợp cho thấy
u rõ ràng trên lâm sàng
[48]) và để đánh giá tinh
hoàn bên đối diện. Độ
nhậy của siêu âm trong
phát hiện u tinh hoàn là
gần 100% và nó có vai trò
quan trọng trong việc xác
định u còn giới hạn trong
tinh hoàn hay đã lan ra
ngoài tinh hoàn [49]. Siêu
âm tinh hoàn phải được
thực hiện ở nam giới trẻ
tuổi khi không thấy có tinh
hoàn hoặc nồng độ
gonadotrophin huyết thành (hCG) hoặc AFP huyết thanh tăng cao bất thường
[50, 51, 52]. Siêu âm cũng. được chỉ định trong các trường hợp tinh hoàn teo
17
hoặc cảm giác khi khám thấy tinh hoàn không đồng nhất. Ngoài ra, siêu âm có
thể phát hiện các khối di căn gan, phát hiện hạch di căn dọc động mạch chủ.
Finlay IG và cộng sự cho biết với các ổ di căn có kích thước từ 2cm, siêu âm có
giá trị tương đương chụp cắt lớp vi tính. Stone (1994) thông báo có 10% -12 % số
bệnh nhân được tìm thấy di căn lặng lẽ bằng siêu âm trong mổ. Siêu âm bìu giúp
phát hiện những u nhỏ không sờ thấy được như u tế bào Leydig, phân biệt với
tràn dịch màng tinh hoàn. Các ổ tăng âm trong nhu mô gan, những khối hạch dọc
theođộng mạch chủ bụng, động mạch chậu, các di căn ở thận hiếm gặp hơn. Một
giá trị khác của siêu âm là trực tiếp theo dõi, phát hiện di căn hay tái phát.
- Chụp x-quang thường quy
Chụp ngực: Được tiến hành thường quy để phát hiện các tổn thương di
căn của UTTH tới phổi hoặc các cơ quan trong lồng ngực. Khi hình thả bóng
phát hiện u tinh hoàn có đội nhậy 100% và độ đặc hiệu 95-100 % [54, 55].
1.4.3. Xét nghiệm chất chỉ điểm khối u
Theo Guidelines UTTH năm 2012, quản lý, theo dõi các trường hợp
UTTH phụ thuộc vào việc xác định chính xác các chất chỉ điểm u và việc phân
tích các giá trị này trong bệnh cảnh lâm sàng của mỗi bệnh nhân [7]. Hai chỉ
điểm có giá trị nhất là AFP và hCG [7].
- AFP là một glycoprotein thường được sản xuất bởi phôi thai hoặc các
tế bào u của ung thư biểu mô phôi từ tế bào mầm. AFP có thể không phát hiện
được ở người lớn bình thường, tuy nhiên, người ta quy ước ngưỡng AFP bình
thường là <16ng/ml. Thời gian bán hủy của protein này trong huyết thanh là
khoảng 5 ngày. AFP tăng cao trong khoảng 40% bệnh nhân UTTH [7]. Các
trường hợp seminoma thuần khiết thường chỉ khoảng 10% các trường hợp có
19
AFP tăng (mức độ thấp, <100ng/ml) nhưng tăng lên 30-50% các trường hợp
bệnh tiến triển. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp AFP tăng cao cần nghĩ tới typ
bệnh đầu tiên là các u không thuộc dạng seminoma [7]. Các trường hợp AFP
dương tính giả do lỗi của phóng xét nghiệm là hiếm gặp, tuy nhiên cần lưu ý
tới tình trạng bệnh gan của bệnh nhân.
- hCG (Human chorionic Gonadotropin): là một glycoprotein được
sản xuất bởi các nguyên bào nuôi (trophoblastic), trong ung thư tế bào mầm,
các hợp bào nuôi (syncytiotrophoblastic) là nơi sản xuất hormon này. hCG bao
gồm một tiểu đơn vị alpha và một tiểu đơn vị beta, mỗi trong số đó có tính
kháng nguyên khác nhau. Thời gian bán hủy của hCG là 18-24 giờ. Chẩn đoán
u tế bào mầm phụ thuộc vào nồng độ beta hCG. Ngưỡng bình thường của beta
hCG trong huyết thanh là <1ng/ml. Beta hCG tăng cao trong 100% các trường
hợp choriocarcinoma; trong 60% các trường hợp ung thư phôi, trong 55% các
u quái, trong 25% các u túi noãn hoàng và 7% trong seminoma. Các nghiên
cứu cho thấy beta hCG có giá trị nhất trong trường hợp tăng cao trước phẫu
thuật cắt u tinh hoàn và trở về ngưỡng bình thường sau 3 tuần có thể coi là hết
bệnh [56]. Ngược lại, biểu thị độ dốc beta hCG thấp sẽ cho thấy dấu hiệu
nhất của u, đặc điểm của thừng tinh, mào tinh hoàn, bao tinh hoàn. Sau khi mô
tả, công việc tiếp theo là lấy mẫu cho chẩn đoán vi thể. Việc lấy mẫu được lấy
vùng mô u, vùng nghi ngờ có u, phần thừng tinh gần và xa u.
- Chẩn đoán vi thể:
+ Typ mô học
+ Sự hiện diện hoặc không hiện diện của mô u xâm nhập mạch máu và
mạch lympho.
+ Mô u có hay không xâm nhập màng tinh hoàn, mào tinh hoàn hay
thừng tinh.
+ Sự hiện diện hay vắng mặt của tân sản nội biểu mô tinh hoàn (TIN-
Testicular Intraepithelial Neoplasia) hay xâm nhập mô đệm.
21
+ Phân loại giai đoạn (pT) theo phân loại 2009 [60].
- Nghiên cứu hóa mô miễn dịch
+ Seminoma: Nhuộm các dấu ấn cytokertin (CAM 5.2), PLAP, C- KIT.
+ Tân sản nội biểu mô tinh hoàn: Nhuộm các dấu ấn PLAP, C- KIT.
+ Một số dấu ấn giúp chẩn đoán phân biệt: Chromogranin, KI-1 (MIB -1).
1.4.6. Chẩn đoán phân biệt
U tinh hoàn chẩn đoán phân biệt với hai trường hợp bìu to và đau, bìu to
nhưng không đau.
- Bìu to không đau: Phân biệt u tinh hoàn với các trường hợp sau:
+ Nang nước thừng tinh: chẩn đoán tương đối dễ. Nếu nghi nghờ chọc
hút hết nước, rồi sờ nắn thấy tinh hoàn bình thường. Chú ý u tinh hoàn có thể
sinh ra nang nước.
+ Lao mào tinh và tinh hoàn: Khám toàn bộ hệ tiết niệu để tìm triệu
chứng lao ở bang quang, thận, tiền liệt tuyến bằng cách chụp UIV, soi bang
quang, tim BK trong nước tiểu, có thể điều trị thử và theo dõi nếu bệnh thuyên
giảm là không phải u tinh hoàn.
+ Giang mai tinh hoàn: Giang mai tinh hoàn thường choáng hết cả tinh
hoàn và mào tinh hoàn và có tiền sử giang mai. Xét nghiệm giang mai (+).
hoặc di căn nhiều hạch nhưng không có hạch nào có đường kính vượt quá 2cm.
+ N2: Di căn một khối hạch, đường kính lớn nhất trên 2cm nhưng không
vượt quá 5 cm hoặc di căn nhiều hạch, bất kỳ hạch nào trong số đó có đường
kính lớn nhất trên 2 cm nhưng không vượt quá 5 cm.
+ N3: Di căn khối hạch có đường kính lớn nhất trên 5 cm.
- Giai đoạn bệnh học của hạch vùng (pN)
+ pNx: Hạch không đánh giá được.
23
+ pN0: Không di căn hạch vùng.
+ pN1: Di căn một khối hạch có đường kính lớn nhất không vượt quá 2cm,
hoặc di căn nhiều hạch nhưng không có hạch nào có đường kính vượt quá 2cm.
+ pN2: Di căn một khối hạch, đường kính lớn nhất trên 2cm nhưng không
vượt quá 5 cm; hoặc di căn nhiều hạch, bất kỳ hạch nào trong số đó có đường
kính lớn nhất trên 2 cm nhưng không vượt quá 5 cm. Hoặc có biểu hiện xâm
lấn ngoài hạch.
+ pN3: Di căn khối hạch có đường kính lớn nhất trên 5 cm.
- Di căn xa (M)
+ Mx: Di căn xa không đánh giá được .
+ M0: Không có di căn xa.
+ M: Đã có di căn xa.
+ M1a: Di căn hạch không phải hạch vùng hoặc di căn phổi.
+ M1b: Di căn các vị trí khác ngoài các hạch không phải hạch vùng và phổi.
1.4.7.2. Các chỉ điểm sinh học u
Sx: Xét nghiệm chất chỉ điểm u không làm được.
S0: Nồng độ chất chỉ điểm u trong giới hạn bình thường.
S1: LDH < 1,5xN và HCG (mIU/ml) <5 000 và AFP <1 000 (ng/ml)
S2: LDH 1,5 - 10xN hoặc HCG 5 000 - 50 000 hoặc AFP 1 000 - 10 000
S3: LDH > 10xN hoặc HCG >50 000 hoặc AFP > 10 000
(N:là giới hạn trên của trị số bình thường.)
Bảng xếp nhóm giai đoạn UTTH theo phân loại của UICC2009 [60].
bất kỳ
/Tx
pT
bất kỳ
/Tx
pT
bất kỳ
/Tx
pT
bất kỳ
/Tx
N1-3
N1
N2
N3
M0
M0
M0
M0
S0-1
S0-1
S0-1
S0-1
III
IIIA
IIIB
IIIC
pT
bất kỳ
/Tx
M1
M1a
M0
M1a
M0
M1a
Mb
S0-3
S0-1
S2
S2
S3
S3
S
bất kỳ
1.5. ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TINH HOÀN
1.5.1. Giai đoạn I các khối u mầm
1.5.1.1. Giai đoạn I seminoma
Bằng các xét nghiệm cận lâm sàng cho thấy có khoảng 15-20% các khối u
seminoma giai đoạn I đã có di căn, thường di căn sau phúc mạc, bệnh có khả
năng tái phát nếu chỉ điều trị phẫu thuật cắt tinh hoàn u đơn thuần.
1.5.1.1.1. Mổ cắt tinh hoàn bị u và theo dõi.
Mổ căt u tinh hoàn đơn thuần với các seminoma tại chỗ có thể chữa khỏi
được khoảng 82,3%, tuy nhiên vẫn có tỷ lệ tái phát khoảng 15-20%. Tái phát
chủ yếu là biểu hiện di căn hạch dưới cơ hoành.
25
1.5.1.1.2. Hóa trị bổ trợ sau cắt tinh hoàn bị u
Hóa trị 1 chu kỳ có Carboplatin với bệnh nhân có kích thước u < 4cm và
tế bào u không có xâm nhập mạch tại tinh hoàn.
Hóa trị 2 chu kỳ có Carboplatin với bệnh nhân có kích thước u > 4cm và