skkn một số vấn đề về việc dạy từ hán – việt trong trường thcs - Pdf 23

A / PHẦN MỞ ĐẦU:
I. Cơ sở lý luận :
M.Go-rơ-ki nhà văn vĩ đại của nền văn học thế giới đã từng nói:“Văn học là
nhân học”, ''Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào
bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng hướng tới chân lí". Đúng như
vậy! Văn học nói chung hay môn Ngữ văn nói riêng có tác động vô cùng to lớn đối
với đời sống tình cảm cũng như việc phát triển tư duy của con người; giúp giáo dục,
bồi đắp tư tưởng, tình cảm, đạo đức… cho học sinh một cách hiệu quả nhất. Không chỉ
vậy, môn Ngữ văn còn có mối liên hệ tương hỗ với các môn học khác. Học tốt môn
văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại các môn học khác cũng
góp phần học tốt môn văn. Trong mối quan hệ tích cực đó, từ Hán – Việt đóng một vai
trò không thể phủ nhận được hay nói một cách khác là nó có vai trò vô cùng to lớn.
Nhờ sự đóng góp của từ Hán – Việt mà tiếng Việt thêm giàu có, tinh tế, trang nhã,
chuẩn xác và uyển chuyển, đủ khả năng đáp ứng một cách tốt nhất mọi sự diễn đạt
của con người trong giao tiếp, trong đời sống văn hoá xã hội. Bên cạnh đó, lớp từ này
còn giúp người Việt cảm nhận được tất cả cái hay cái đẹp trong những tác phẩm văn
chương với việc hiểu tường tận từng từ Hán - Việt ở trong những tác phẩm đó.
II. Cơ sở thực tiễn :
Trong kho tàng ngôn ngữ của mình, người Việt sử dụng rất nhiều từ ngữ gốc
Hán (từ Hán - Việt chiếm 60% - 70%) nhưng việc hiểu sai, dùng sai từ Hán - Việt là
khá phổ biến. Trong sinh hoạt hàng ngày, chúng ta gặp rất nhiều từ Hán – Việt nếu
chúng ta không hiểu hoặc hiểu sai sẽ dẫn đến nhiều vấn đề đáng tiếc xảy ra. Giáo sư
Nguyễn Lân( cha của 9 vị giáo sư, tiến sĩ) đã từng nói "Một điều cần chú ý hơn nữa là
ngay trong tiếng Việt hiện nay có bao nhiêu từ vốn là Hán tự bị người ta xuyên tạc,
làm sai cả ý nghĩa, ảnh hưởng đến sự trong sáng của tiếng Việt phải làm thế nào
cho thanh thiếu niên ta phải biết chữ Hán thì mới dùng đúng tiếng Việt”( đăng trên
báo Đại đoàn kết, số 28, ngày 7/4/1997). Từ Hán - Việt không chỉ có trong môn ngữ
văn mà còn có trong tất cả các môn học khác. Không hiểu từ Hán Việt học sinh sẽ gặp
khó khăn trong khâu phân biệt các khái niệm, ghi nhớ khái niệm, hiểu nghĩa của từ,
hiểu nội dung bài học Nếu biết nhiều từ Hán – Việt học sinh sẽ hiểu kiến thức bộ
môn nhanh hơn, kĩ hơn do hiểu được đến “chân tơ kẽ tóc” những từ ngữ Hán - Việt

Công việc này cũng đồng thời bồi dưỡng cho học sinh tình yêu mến tiếng nói của cha
ông, niềm tự hào về truyền thống văn hóa, cũng như tinh thần trách nhiệm trong việc
“Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”.
2
“Ngôn ngữ là linh hồn dân tộc”. Câu nói của W. Humboldt càng cho ta thấy
được tầm quan trọng của việc bảo vệ, giữ gìn sự trong sáng cuả tiếng Việt. Đây là một
việc tương đối khó khăn nhưng giáo viên phải làm và làm được. Là một giáo viên trực
tiếp giảng dạy môn Ngữ văn Trung học cơ sở tại trường PTCS Bãi Thơm, tôi hiểu rất
rõ giá trị của việc dạy và học từ Hán – Việt trong trường THCS. Chính vì những trăn
trở nhức nhối đó tôi đã suy nghĩ, tìm tòi, nghiên cứu tài liệu…để hoàn thành sáng
kiến kinh nghiệm :
“MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VIỆC DẠY TỪ HÁN – VIỆT TRONG TRƯỜNG
THCS”
III . Phạm vi đề tài :
Việc giảng dạy từ Hán – Việt là rất cần thiết nên tôi thực hiện đề tài
này trong phạm vi chương trình Ngữ văn THCS là một phạm vi tương đối rộng. Tuy
nhiên, đề tài tôi thực hiện chỉ mang tính chất điểm xuyết, “cưỡi ngựa xem hoa” với đối
tượng là học sinh điểm Rạch Tràm nơi vùng xa của huyện đảo ( Nơi học sinh chưa ý
thức được việc học, chưa có điều kiện đầy đủ, ….)
B / THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ :
I.Thực trạng, tình hình :
Như tôi đã trình bày ở trên, qua tìm hiểu thì hầu như giáo viên quên dạy các
em học sinh 220 từ Hán –Việt mà chuẩn kiến thức quy định, giáo viên chưa thấy hết
được tầm quan trọng của từ Hán –Việt đối với việc dạy và học môn ngữ văn. Học sinh
thì chưa có hứng thú đối với từ Hán –Việt, coi từ Hán – Việt như một “ngoại ngữ”…
II.Những hạn chế, khó khăn :
Ngay từ những năm đầu công tác tôi đã nhận thấy thực trạng trên song
nhận được sự giúp đỡ chưa nhiều . Thứ hai là do năng lực trình độ còn nhiều hạn chế
nên việc truyền đạt kiến thức còn chưa tốt. Thứ ba, do điều kiện kinh tế, dân trí tại
điểm Rạch Tràm cón thấp, học sinh chưa chăm học, phụ huynh chưa quan tâm, sách

về từ Hán – Việt đặc biệt kích thích hứng thú, sự tự học của học sinh . Có thể lấy ví
dụ về những cái tên mà các bậc tiền nhân đã mang như :
Nguyễn Ái Quốc: Người yêu nước.
Võ Chí Công : Người hết lòng hết sức vì việc công không vì việc riêng …v.v
Khi chúng ta dạy các tác phẩm văn học trong nhà trường ta có thể cho học sinh tìm
hiểu tên hay bút danh của các nhà văn nhà thơ. Ví dụ :
Học văn bản “Cố Hương” ta có thể cho học sinh tìm hiểu về quá trình
Lỗ Tấn trở thành nhà văn, mục đích khi ông chuyển từ những ngành kĩ thuật, y khoa…
sang viết văn .Từ đó hỏi học sinh ý nghĩa cái tên Chu Thụ Nhân(Chu Chương Thọ
4
đổi thành Chu Thụ Nhân). Thụ Nhân có nghĩa là trồng người từ đó nói sâu hơn về
mục đích viết văn, cống hiến của Lỗ Tấn trong văn nghiệp “thụ nhân” bằng văn
chương của ông. Cũng cần nói thêm rằng trước công nguyên bảy thế kỉ, nhà chính trị
Trung Quốc thời Tiền Tần là Quản Trọng (730 – 645 TCN) đã nói trong sách Quản tử
của ông như sau :
“Trù tính việc một năm hãy có kế trồng lúa
Trù tính việc mười năm hãy có kế trồng cây
Trù tính việc trăm năm hãy có kế trồng người”
( Nhất niên chi kế mạc nhi thụ cốc
Thập niên chi kế mạc nhi thụ mộc
Bách niên chi kế mạc nhi thụ nhân)
Bác Hồ của chúng ta đã học hỏi tư tưởng này chuyển tải vào trong bài nói
chuyện với “Hội nghị cán bộ giáo dục toàn quốc” ngày 13/9/1958 :
“ Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.
Khi dạy tác phẩm : “Bến quê” của Nguyễn Minh Châu cho học sinh tìm
hiểu tên nhà văn đồng thời cung cấp cho học sinh câu nói của ông về nhà văn, nghể
văn : “ Nhà văn phải là người đi tìm hạt ngọc ẩn dấu sâu trong lòng mỗi con người”.
Minh Châu là “viên ngọc sáng” và cả cuộc đời ông là cuộc đời của con người mải
miết đi tìm những “viên ngọc sáng” trong lòng mỗi con người. Đúng là tên nào, người

không chỉ trong bài dạy mà còn cho học sinh thấy được cái hay của từ Hán – Việt, dĩ
nhiên học sinh không trả lời được câu đố song mục đích chính là cho các em thấy
được cái hay của chữ Hán, của từ Hán – Việt. Ví dụ khi dạy bài “Chơi chữ” giáo viên
có thể mở rộng cách chơi chữ bằng lối chiết tự qua một số câu đố :
Câu đố :
“Cô kia đội nón chờ ai
Hay cô yên phận đứng hoài thế cô.”
( Đố là chữ gì ?)
“Cô kia” là chữ “Nữ” (女)ở dưới, đội nón là trên có chữ “Miên”( lợp trùm nhà ngoài
với nhà trong, mái nhà) tạo thành chữ An 安( yên ổn ) .Ý nghĩa : Trong nhà có người
phụ nữ tạo nên sự bình yên.
Câu đố :
6
“Thiếp là con gái còn son,
Nếp hằng giữ vẹn ngặt con dựa kề.”
( Đố là chữ gì ?)
“Con gái còn son” chính là chữ Nữ(女) đứng bên trái, “con dựa kề” chính là chữ Tử
đứng bên trái tạo thành chữ Hảo 好 (nghĩa là tốt).
Khi dạy các văn bản của tác gia Hồ Chí Minh ta có thể đưa thêm vào
trong bài học một số ví dụ sau để bài học thêm sinh động.
Trong kho tàng ca dao Nghệ Tĩnh có một bài ca dao hiện đại đã được tác
giả dân sử dụng hết sức độc đáo :
“Trăng xưa rọi tỏ lòng người
Treo gương nhật nguyệt cho đời soi chung”.
Giáo viên cho học sinh tìm hiểu từ Hán – Việt theo chiều ngược lại, dịch từ thuần Việt
sang từ Hán : Trăng từ Hán là gì ? Xưa từ Hán là gì ? Từ đó rút ra từ trăng xưa.
Tương tự các từ lòng , nhật , nguyệt….
Trăng xưa dịch từ chữ Cổ Nguyệt[古月], Cổ và Nguyệt ghép lại thành chữ Hồ [胡].
Lòng người là thầm nói đến chữ Sĩ [士] và Tâm [心], ghép lại hai chữ này lại ta có
chữ Chí [志]; còn chữ Nhật [日] và chữ Nguyệt [月] ghép lại thành chữ Minh [明].

ra cơn hồng thuỷ, vốn được xếp hàng đầu trong bốn đại họa: thuỷ, hoả, đạo, tặc. Ngày
24/10/2004, tượng đài "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" được dựng tại vườn hoa
Hàng Đậu để kỷ niệm nghìn năm Thăng Long - Hà Nội. Qua việc phân tích từ ngữ như
trên học sinh sẽ hiểu sâu sắc hơn nghĩa của từ “Cảm” từ “Quyết” và đặc biệt có ý
thức trong việc lựa chọn từ ngữ trong viết và nói. Một ví dụ khác cũng sẽ giúp học
sinh thích thú khi tìm hiểu cặn kẽ nó như từ “Khoái trá” chúng ta vẫn hay viết như
thế, vẫn hiểu là vui vẻ, vừa ý , thích thú. Khoái thì đúng là vui vẻ, thích thú rồi
nhưng Trá là giả dối . Tra quyển “ Hán – Việt từ điển” của Đào Duy Anh thì từ Chá
( chứ không phải từ Trá) có nghĩa là miếng thịt, miếng chả , là đồ ăn ngon” (trang
461) như vậy viết Khoái Chá mới đúng.
Khi dạy bài : “Sông nước Cà Mau” trong chương trình Ngữ văn lớp 6 ta có
thể cho học sinh tìm hiểu về rừng U Minh, giáo viên hỏi tại sao khu rừng đó lại có tên
là U Minh ? U là gì ? Minh là gì ? v.v……U là vắng vẻ yên lặng, tối tăm. Minh thì
học sinh sẽ biết nghĩa là sáng nhưng thực ra nghĩa từ Minh có nhiều nghĩa .
8
Minh 1 : Sáng trái với tối như bình minh, thông minh….
Rõ ràng như xác minh, minh bạch……….
Minh 2 : Thề như thệ hải minh sơn…….
Liên kết như đồng minh, liên minh……
Minh 3 : Tối tăm như u minh ………
Minh 4 : Kêu, bày tỏ như minh oan, cộng minh………
Và từ Minh(冥) trong U Minh có nghĩa là tối tăm. Với hai từ cùng có
nghĩa tối tăm thì học sinh hiểu được đặc tính của khu rừng này một cách cụ thể qua đó
học sinh cũng có được kiến thức liên môn khi học Vật lí, Địa lí, Lịch sử ……….với
những khái niệm, thuật ngữ : “quân đội đồng minh”, “ Rừng U Minh”, “Minh oan”,
“Quang minh chính đại” ………….
Khi dạy bài: “Từ đồng nghĩa” trong sách Ngữ văn 7 khi cho học sinh
tìm những từ cùng nghĩa là chết giáo viên có thể giải thích từ “ Quy tiên” cho học
sinh, “ Quy tiên” nghĩa là chết. “Quy” là về, nhưng tiên nghĩa là gì? Có người cho
rằng “ tiên” là “trước” rồi tưởng đến từ ghép “ tổ tiên” và cho rằng “quy tiên” là về

“ Hình” là sự trừng phạt người có tội. “Cực” ở đây có thể hiểu là quá chừng
quá mức.“Cực hình” là hình phạt nặng nhất, nặng hơn cả tử hình nói chung, vì “cực
hình” làm cho tội nhân chết một cách đau đớn. Để trừng phạt kẻ giám chống lại quyền
uy của triều đình, vua chúa ngày xưa dùng các cực hình như lăng trí ( bắt chết chậm
bằng cách cắt từng phần của cơ thể con người), tứ mã phanh thây (cho bốn ngựa xé
xác).“Nhục” là thịt, “nhục hình” là hình phạt làm tội nhân đau đớn về thể xác.
của con người, gần giống nhược điểm, khuyết điểm
J Trạm xá – bệnh xá, y xá, trạm y tế :
Từ trạm xá: Hai tiếng này cùng nghĩa là nhà nhưng nhiều nơi dùng từ
trạm xá để chỉ nơi khám và chữa bệnh, tức là dùng thay cho từ trạm y tế, y xá hay
bệnh xá . Như vậy nơi khám chữa bệnh phải gọi là trạm y tế, y xá hay bệnh xá.
J Mại – Mãi :
Những từ như khuyến mãi, khuyến mại, gái mại dâm, gái mãi dâm hay
bị sử dụng lầm lẫn . Mại là bán, Mãi là mua khác nhau rõ ràng. Gái bán hoa phải gọi
là gái mại dâm chứ không thể là gái mãi dâm được .
J Mạn và Mãn :
“Mãn” là tràn đầy, “mạn” là chậm. Nói “Mãn tính” (Vd: Viêm xoang là một
bệnh mãn tính là không đúng). Cần nói những bệnh phát triển chậm, lâu là bệnh “mạn
tính”.…v.v…………
10
Giáo viên cũng có thể chỉ cho học sinh lỗi dùng thừa từ mà chúng ta hay gặp
như : đường quốc lộ (lộ: đường), cây cổ thụ (thụ: cây), bà quả phụ (phụ: bà), ngày
sinh nhật (nhật: ngày)… v.v ………. Như vậy, chúng ta thấy nhà trường có vai trò rất
quan trọng trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và mỗi người giáo viên phải
có nhiệm vụ góp sức nhỏ bé của mình vào việc giữ gìn sự trong sáng đó.
3. Kể chuyện :
Kể chuyện là một phương pháp giảng dạy gắn lí thuyết với
thực tiễn. Kể chuyện không chỉ giúp cung cấp kiến thức, mở ra một chân trời mới cho
học sinh mà còn giúp tạo hứng thú cho học sinh trong các giờ học.
Với bài “Chơi chữ” trong sách Ngữ văn 7 giáo viên có thể vào bài

sử Nguyễn Duy Hiểu được cử làm chánh sứ cùng với bốn phó sứ là: Nguyễn Quang
Minh, Trần Nghi, Nguyễn Bình và Thân Khuê dẫn đầu hai đoàn sứ bộ sang cầu phong
và tuế cống nhà Minh. Lúc này mặc dù nhà Mạc đã chạy đi Cao Bằng nhưng nhà Minh
vẫn áp dụng chính sách ngoại giao hai mặt (với cả Lê và Mạc) và vẫn ngầm mong cho
cuộc nội chiến Lê - Mạc kéo dài, nên sau khi sang đến Yên Kinh, sứ bộ ta phải ăn
chực nằm chờ ở dịch xá gần một năm trời. Đến khi triều kiến, Minh Tự Tông lấy lý do
“Vì lệ cũ không có những quy định cụ thể cho việc sắc phong, do đó trong khi còn chờ
tra cứu chỉ ban sắc thư để tưởng lệ” và – để thị uy – Minh Tự Tông đã ngạo mạn ra
cho sứ bộ một vế đối:
Đồng trụ chí kim đài dĩ lục
(Cột đồng đến nay rêu đã xanh)
Nhắc việc Mã Viện đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau đó cho chôn
một chiếc cột đồng với lời nguyền: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (Cột đồng gãy thì
Giao Chỉ - tức Đại Việt - bị diệt vong). Không chút do dự, Giang Văn Minh đối ngay:
Đằng Giang tự cổ huyết do hồng
(Sông Đằng từ xưa máu còn đỏ)
Vế đối vừa chỉnh, vừa nhắc lại việc các triều đình phong kiến phương Bắc
trong quá khứ đã ba lần bị quân dân Đại Việt đánh cho đại bại trên sông Bạch Đằng.
Đó là: Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán (938), Lê Hoàn phá Tống (981) và Trần
Hưng Đạo đại phá quân Nguyên Mông lần thứ ba – 1288). Trước đông đảo văn võ bá
quan của Thiên triều và sứ bộ các nước, việc làm của Giang Văn Minh quả là ngang
với tát vào mặt vua Minh Tự Tông. Bất chấp luật lệ bang giao, Minh Tự Tông đã hèn
hạ thét bọn đao phủ trói ông lại, gắn trám đường vào miệng và mắt rồi cho người mổ
bụng xem “sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu”! Hôm đó nhằm ngày mùng 2
tháng 6 năm Kỷ Mão (1639). Tính ra, ông mới 58 tuổi. Hòng uy hiếp vua, dân Đại
12
Việt, sau đó Minh Tự Tông còn cho ướp xác ông bằng bột thuỷ ngân và cho sứ bộ ta
đem thi hài ông về nước. Khởi hành từ tháng Chạp năm Đinh Sửu (1637) đến cuối
mùa thu năm Kỷ Mão (1639), phái bộ ta mới đặt chân về đến cửa quan. Như vậy,
chuyến đi sứ lần này tính ra kéo dài gần hai năm. Thi hài Giang Văn Minh được quàn

riêng , đặc biệt
Dị bản , kì dị
Diêm Muối Diêm sinh, diêm dân
Diệm(Diễm) Nhan sắc đẹp đẽ, sáng sủa Kiều diễm
Tham khảo thêm tài liệu: “Bồi dưỡng về từ Hán– Việt” của trường PTCS Bãi
Thơm năm 2009 tại : hptt://baithom.tk.
Giáo viên sẽ hướng dẫn, nhắc nhở, kiểm tra, động viên học sinh giúp
học sinh có thêm thật nhiều vốn từ.
2. Dạy học qua thành ngữ Hán – Việt :
Thành ngữ Hán - Việt dùng để chỉ những kết cấu ngôn ngữ rất ổn định,
thông thường cô đọng về mặt ngữ nghĩa thịnh hành trong tiếng Hán, được du nhập vào
nước ta và được nhân dân sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay . Trước khi ghi tên bài
học mới lên bảng giáo viên ghi một câu thành ngữ ( sau đó có thể là một câu danh
ngôn, tục ngữ, câu thơ trong Kinh Thi ) lên góc phải bảng để học sinh có thêm kiến
thức về từ Hán – Việt, kích thích sự tò mò, ham hiểu biết của học sinh Cuối giờ giáo
viên cho học sinh tìm hiểu nghĩa của từng thành tố Hán – Việt sau đó tìm hiểu nghĩa
của thành ngữ đó. Ví dụ một số thành ngữ :
Bạch diện thư sinh :
Nghĩa :
+ Nghĩa đen : học trò mặt trắng
+ Nghĩa bóng : Người học trò chưa có kinh nghiệm
Bất nhập hổ huyệt, bất đắc hổ tử :
Nghĩa :
+ Nghĩa đen : Không vào hang hùm sao bắt được cọp con
+ Nghĩa bóng : Phải có gan mạo hiểm mới làm được việc khó.
Khắc cốt minh tâm :
Nghĩa :
+ Nghĩa đen : chạm vào xương, ghi vào lòng.
+ Nghĩa bóng : ghi nhớ không bao giờ quên
Nhất nhật vi sư, chung thân vi phụ :

thầy đã giao, đội nào ghi đúng và nhiều thì đội đó sẽ thắng. Ví dụ chủ đề màu sắc :
bạch, hắc, hoàng , thanh, hồng
3.3.Nối cột :
15
Giáo viên treo bốn bảng phụ, mỗi bảng gồm hai cột từ Hán – Việt và
nghĩa của nó, quy định thời gian rồi cho các đội từng em một chạy nên nối cột đội nào
ghi nhiều, đúng sẽ thắng. Ví dụ :
Nối các từ HV với nghĩa của nó :
Từ Hán – Việt : Nghĩa :
Thái bình Ngàn xưa
Thiên cổ Rất yên ổn, yên bình.
Giang san Núi sông
Thiên bẩm Dưới gầm trời (chỉ toàn xã hội; người ta)
Thiên hạ Trời cho, trời ban.
4. Cung cấp tài liệu :
Giáo viên cung cấp những tài liệu giúp học sinh học tập tốt từ
Hán – Việt như cung cấp những bài đọc vần, thơ vần. Ví dụ :
“Thiên trời , địa đất , vân mây
Vũ mưa, phong gió, nhật ngày, dạ đêm
Cân khăn, y áo, thường xiêm
Đao dao, phủ búa, liêm liềm, sáp mai
Song đôi, nhất một, nhị hai
Bát tám, cửu chín, thập mười, vạn muôn
Họat bùi, cam ngọt, chỉ ngon
Toan chua, khổ đắng, quỷ dòn, tân cay
Tâm lòng, diện mặt, thủ tay
Tu râu, phát tóc, mi mày, túc chân
Lượng lường, xích thước, hoành cân
Cao sào, trượng gậy, can cần, tiêu nêu
Kê gà, nga ngỗng, đồn heo

Lân long, phương phượng, long rồng
Quy rùa, hạc hạc, tước công, bàng hàng
Luận bàn, ẩm uống, thực ăn
Gián can, xiểm nịnh, tưởng khen, thệ thề
Du chơi, cư ở, quy về
Thiện lành, ác dữ, xi chê, tiếu cười
Khứ đi, trú ở, thiên giời
Kỉ 12 năm, kiếp vận, thế đời, đại thay
Cổ xưa, tân mới, kim nay
Thanh xanh, khô héo, tiên tươi, tạ tàn »
Hay :
17
« Thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn, tử con, tôn cháu, lục sáu, tam ba, gia nhà,
quốc nước ,tiền trước, hậu sau, ngưu trâu, mã ngựa, cự cựa, nha răng, vô chăng, hữu
có, khuyển chó, dương dê, quy về, tẩu chạy, bái lạy, quỳ qùy, khứ đi, lai lại, nữ gái,
nam trai, đái đai ,quan mũ, túc dủ, đa nhiều, ái yêu, tăng ghét, thức biết, trí hay, mộc
cây, căn rễ, di dễ ,nan khôn, chỉ ngon, cam ngọt, trụ cột, lương rường, sàng giường,
tịch chiếu, khiếm thiếu, dư thừa, sứ bừa, cúc quốc, chúc đuốc, đăng đèn, thăng lên,
giáng xuống, điền ruộng, trạch nhà, lão già, đồng trẻ, tước sẽ, kê gà, ngã ta, tha khóc,
bá bác, di dì… ».
Học sinh sẽ dễ dàng học thuộc và từ đó đã có vốn từ Hán – Việt tương
đối . Lại có nhiều ý kiến cho rằng phải dạy trong trường Phổ thông (PTCS, PTTH)
cách viết 214 bộ thủ ta cũng có thể cung cấp từ Hán- Việt( ví dụ mộc, thủy ), nghĩa
(cây, nước…) của 214 bộ này để học sinh học trước khi việc dạy này được Bộ Giáo
dục triển khai (các nước như Nhật, Hàn Quốc, Singgapo đã làm) :
DIỄN CA BỘ THỦ
“MỘC (木) - cây, THỦY (水) - nước, KIM (金) - vàng
HỎA (火) - lửa, THỔ (土) - đất, NGUYỆT (月)- trăng, NHẬT (日) - trời
XUYÊN (川) - sông, SƠN (山) - núi, PHỤ (阜) - đồi
TỬ (子) - con, PHỤ (父) - bố, NHÂN (人) - người, SỸ (士) - quan

hiểu ý nghĩa những cái tên, đi tìm vẻ đẹp của từ Hán – Việt Công việc thứ hai là
phải có phương pháp dạy từ Hán – Việt sao cho phù hợp như cho học sinh lập sổ tay
Hán – Việt, dạy thành ngữ Hán – Việt, sử dụng trò chơi trong dạy học hoặc cung cấp
tài liệu bổ ích, dễ học, dễ thuộc cho học sinh
Tóm lại, với những hình thức, phương pháp như trên giáo viên có thể
linh động lồng ghép, tích hợp vào các bài học có liên quan hay khi gặp những từ Hán –
Việt trong bài học giáo viên hỏi và giải thích cho học sinh góp phần giúp cho bài giảng
sinh động cũng như giúp học sinh có hứng thú, có thêm kiến thức về từ Hán – Việt.
Trong hai tiết học về từ Hán – Việt chính thức trong chương trình sách giáo khoa Ngữ
văn 7 kì 1 ngoài việc truyền đạt đầy đủ kiến thức giáo viên có thể nâng cao, mở rộng
19
vấn đề truyền cảm hứng cho học sinh. Ngoài ra giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho
học sinh thực hiện thường xuyên ở lớp, ở nhà ( có thể có ý kiến chúng ta đang thực
hiện giảm tải nhưng tôi nghĩ nếu học sinh đã hứng thú thì các em sẽ tự học thêm,
càng giao nhiều học sinh càng thích) hoặc có thể đưa một nội dung lớn vào trong một
đến hai tiết tự chọn Nhưng trên hết giáo viên phải biết tiết chế, tránh sa đà làm ảnh
hưởng đến nội dung bài học. Đó là bản lĩnh của người giáo viên cần phải có.
2 . Phạm vi áp dụng :
Qua tìm hiểu các trường trong huyện và tỉnh, tôi thấy đề tài này có thể
áp dụng cho toàn huyện Phú Quốc và tỉnh Kiên Giang.
3.Kiến nghị :
Từ những vấn đề đã trình bày , tôi xin kiến nghị lên các cấp trường,
phòng và sở giáo dục hãy quan tâm hơn nữa đối với việc dạy và học từ Hán – Việt ít
nhất cũng phải đề nghị các giáo viên dạy hoặc cho học sinh cấp PTCS học thuộc nghĩa
của 220 từ ở cuối sách giáo khoa ngữ văn kì 2 các lớp 6,7,8,9 .
Do trình độ chuyên môn còn hạn chế, do kinh nghiệm công tác còn
ít, do là lần đầu viết sáng kiến kinh nghiệm nên kinh nghiệm, giải pháp của tôi còn
rất nhiều sai sót. Kính mong thầy cô các cấp chỉ bảo, giúp đỡ để kinh nghiệm, giải
pháp của tôi được hoàn thiện hơn, bản thân tôi được lĩnh hội những đóng góp, sửa
chữa của các thầy cô để nâng cao trình độ tiếp tục theo đuổi sự nghiệp trồng người.

8. Nguyễn Văn Duận, Dạy chữ Hán để biết và hiểu.
9. Nguyễn Đức Hùng, Đề xuất giải pháp đưa chữ Hán Nôm vào giảng dạy ở
trường học.
10. Lâm Uyên, Học sinh cần được học chữ Hán .
11. I.S. Lisevich , Tư tưởng văn học Trung Quốc cổ xưa.
12 . Hồ Thúy An - Giải mã một câu tục ngữ .
…v.v……
F / MỤC LỤC :
Trang
A / PHẦN MỞ ĐẦU: 1
I. Cơ sở lý luận : 1
II. Cơ sở thực tiễn : 1
21
III . Phạm vi đề tài : 3
B / THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ : 3
I.Thực trạng, tình hình : 3
II.Những hạn chế, khó khăn : 3
C . GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ 4
I/ TẠO HỨNG THÚ, TRUYỀN CẢM HỨNG TRONG
VIỆC DẠY HỌC TỪ HÁN VIỆT : 4
1. Ý nghĩa từ những cái tên : 4
2. Đi tìm vẻ đẹp của từ Hán – Việt : 5
2.1.Vẻ đẹp từ lối chiết tự, câu đố từ Hán – Việt : 5
2.2.Cách sử dụng, lựa chọn từ : 8
3. Kể chuyện : 11
II / MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TỪ HÁN – VIỆT : 13
1. Lập sổ tay Hán – Việt : 13
2. Dạy học qua thành ngữ Hán – Việt : 14
3. Trò chơi : 15
3.1.Ván bài lật ngửa 15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status