tác động của chính sách lãi suất đến lạm phát - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
o0o
Công trình tham dự cuộc thi
Sinh viên Nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngoại Thương 2013 - 2014
Tên công trình:
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT ĐẾN LẠM PHÁT
TẠI VIỆT NAM
Nhóm ngành: KD2 Hà nội, tháng 05 năm 2014
I MỤC LỤC

KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 – 2013 29
2.1. Thực trạng và kết quả điều hành chính sách lãi suất nhằm kiểm soát lạm phát
ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2013 29
2.1.1. Thực trạng về điều hành chính sách lãi suất ở Việt Nam trong giai đoạn 2000
– 2013 29
2.1.2. Thực trạng về lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2013 35
2.1.3. Đánh giá kết quả và hạn chế của chính sách lãi suất đến kiềm chế lạm phát
của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2013 41
2.2. Phân tích định lượng tác động của chính sách lãi suất đến lạm phát 44
2.2.1. Lý do lựa chọn mô hình VAR 44
2.2.2. Lựa chọn biến và thiết lập phương trình 46
2.2.3. Ước lượng và kiểm định mô hình 49
2.2.4. Phân tích kết quả của mô hình 52
2.2.4.1. Phân tích tác động của các cú sốc lãi suất lên lạm phát ở Việt Nam 52
2.2.4.2. Phân tích tác động của cú sốc lạm phát lên chính lạm phát 57
2.2.4.3. Tác động của tỷ giá lên lạm phát và lãi suất 59
CHƯƠNG 3. KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT
NHẰM KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 61
3.1. Các giải pháp dành cho NHNN 61
3.1.1. Chính sách lạm phát mục tiêu và ổn định kỳ vọng lạm phát 61
3.1.2. Chính sách lãi suất căn cứ vào độ trễ và phạm vi tác động 63
3.1.3. Phát triển thị trường tài chính thứ cấp 64
3.2. Các giải pháp dành cho NHTM 65
3.3. Các giải pháp đồng bộ khác 66
III KẾT LUẬN 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70


GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
IMF
The International Monetary
Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
LSCB

Lãi suất cơ bản
LSCT

Lãi suất chính thức
LSTCK

Lãi suất tái chiết khấu
LSTCV

Lãi suất tái cấp vốn
NHNN

Ngân hàng Nhà nước
NHTM

Ngân hàng Thương mại
NHTW

Ngân hàng Trung ương
PBOC
People’s Bank of China

Bảng 2
Lạm phát theo tháng của Hoa Kỳ từ tháng 1/1999 đến tháng
12/2000
19
Bảng 3
Lãi suất huy động và cho vay VND tháng 01/2011 đến
06/2011
33
Bảng 4
CPI các tháng trong năm của Việt Nam giai đoạn 2000 –
2003
36
Bảng 5
CPI các tháng trong năm của Việt Nam giai đoạn 2007 –
2009
39
Bảng 6
Các biến sử dụng trong mô hình
47
Bảng 7
Kết quả kiểm định tính dừng của các biến trong mô hình
50
Bảng 8
Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị đối với phần dư của các
biến trong mô hình
51 VI


42
Hình 9
Diễn biến lạm phát và LSCB theo tháng giai đoạn 2007 – 2009
43
Hình 10
Ước lượng độ trễ tối ưu cho mô hình
50
Hình 11
Phản ứng của lạm phát trước cú sốc từ lãi suất cho vay
52
Hình 12
Phản ứng của lạm phát trước cú sốc từ lãi suất cơ bản
53
Hình 13
Phản ứng của lạm phát trước cú sốc từ lãi suất tái cấp vốn
54
Hình 14
Phân rã phương sai của lạm phát
56
Hình 15
Phản ứng của lạm phát quá khứ
57
Hình 16
Phản ứng của CPI trước cú sốc của chính nó
58
Hình 17
Phản ứng của lạm phát trước sự thay đổi của tỷ giá
59
Hình 18
Phản ứng của lãi suất cho vay trước cú sốc từ tỷ giá

thấy phần nào sự chưa hiệu quả trong chính sách lãi suất để kiềm chế lạm phát. Hạn
chế này của việc điều hành chính sách lãi suất ở Việt Nam thể hiện ở một số khía
cạnh. Thứ nhất, chính sách lãi suất ở Việt Nam vẫn còn mang tính hành chính.
NHNN công bố LSCB làm cơ sở để các TCTD ấn định mức trần lãi suất kinh doanh.
3 Tuy nhiên, NHNN chưa có cơ chế bảo vệ hữu hiệu cho mức lãi suất đã công bố.
Thực tế khi thị trường khan hiếm vốn, các TCTD vẫn tìm cách lách trần lãi suất.
Thực trạng này đã diễn ra trong 7 tháng đầu năm 2008, tình trạng khan hiếm VND
và lãi suất tiền gửi đồng Việt Nam trên thị trường liên ngân hàng đã tăng rất nhanh
đẩy các ngân hàng thương mại vào cuộc chạy đua lãi suất. Mặt bằng lãi suất huy
động tăng dần từ 12% lên tới 18,6%/năm. Ngoài ra, trong năm 2011, NHNN đã ban
hành thông tư 02/2011/TT-NHNN quy định lãi suất huy động được thỏa thuận
nhưng không vượt quá 14%/năm (bao gồm khuyến mãi dưới mọi hình thức). Việc
thỏa thuận lãi suất cho vay đã tạo cuộc đua lãi suất của các ngân hàng, dẫn đến lãi
suất tiền gửi thực tế đã tăng lên 17 – 19%/năm và lãi suất cho vay cũng bị đẩy lên
22 – 24%/năm gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn. Thứ hai,
chính sách lãi suất chưa linh hoạt với sự biến động của lạm phát. Giai đoạn 2000 –
2007, mặc dù lạm phát có xu hướng tăng nhanh (từ -2% năm 2000 lên 8% năm
2007), tuy nhiên, LSCB, LSTCV và LSTCK biến động rất ít (lớn nhất là 2%). Giai
đoạn 2007 – 2013, trong khi lạm phát liên tục tăng, giảm với biên độ mạnh (thời kỳ
tăng nhiều nhất là 2007 – 2008, với mức tăng 14%; thời kỳ giảm nhiều nhất là 2008
– 2009, với mức giảm 15%), LSCB chỉ biến động với biên độ nhỏ (lớn nhất là 4%).
Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Tác
động của chính sách lãi suất đến lạm phát tại Việt Nam”.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
a) Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Lạm phát là một trong những biến số kinh tế vĩ mô thường được sử dụng để
đánh giá tình hình kinh tế của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định.

chặt chẽ giữa lạm phát và lãi suất thực bằng mô hình định lượng VECM. Kết quả
cho thấy lạm phát chịu tác động của mức độ thay đổi lãi suất chứ không phải lãi
suất. Mức độ thay đổi lãi suất được xác định bằng hiệu của lãi suất tự nhiên cố định
và lãi suất thời kỳ trước. Tuy nhiên, việc xác định mức lãi suất tự nhiên là rất khó
và mức lãi suất này thường không cố định như giả định.
Trong bài nghiên cứu “Monetary Policy in Dollarized Economies” (1999),
Tomas J.T. Balino đã phân tích tác động của chính sách lãi suất đến toàn bộ nền
5 kinh tế của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia bị đô la hóa. Tuy nhiên, bài nghiên
cứu này chưa đánh giá cụ thể tác động của chính sách lãi suất đến lạm phát ở các
quốc gia bị đô la hóa.
Năm 2000, Alan S. Blinder đã trình bày các chính sách của các NHNN và tác
động của nó đến nền kinh tế trong nghiên cứu “Central banking in theory and
practice”. Nhưng giống như Tomas J.T. Balino, Alan S. Blinder không phân tích cụ
thể tác động của chính sách điều hành lãi suất đến lạm phát ở những quốc gia này.
Với nghiên cứu về “Implementation of Monetary Policy and the Central
Bank’s Balance Sheet” (2001), Andrea Schaechter đã đánh giá tác động của chính
sách lãi suất đến lạm phát. Tuy nhiên, tác giả chưa cập nhật được số liệu từ năm
2002 đến nay.
b) Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước
Giống với các nghiên cứu trên thế giới, các nghiên cứu ở Việt Nam hoặc chưa
đánh giá định lượng tác động của chính sách lãi suất đến lạm phát hoặc chưa có tiếp
cận bằng phương pháp định lượng nhưng lại không tập trung vào công cụ lãi suất.
Một số nghiên cứu điển hình về tác động của chính sách lãi suất đến lạm phát ở Việt
Nam như các nghiên cứu của: Nguyễn Thị Liên Hoa và Trần Đặng Dũng
(2013),Nguyễn Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2011), Hoàng Công Gia Khánh
(2010), Nguyễn Mạnh Hùng (2008).
Nguyễn Thị Liên Hoa và Trần Đặng Dũng (2013) đã tiến hành xem xét lạm

quả cần quan tâm đến việc kết hợp với chính sách tỷ giá trong xem xét nền kinh tế
bị đô la hóa như Việt Nam. Bài nghiên cứu chưa sử dụng mô hình định lượng để
nghiên cứu tác động của cả chính sách lãi suất và tỷ giá đến lạm phát để xem xét
mối quan hệ giữa lạm phát, lãi suất và tỷ giá.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở tổng hợp các lý luận về lãi suất, chính sách lãi suất và lạm phát,
phân tích và đánh giá diến biến lãi suất và lạm phát ở Việt Nam; đồng thời phân tích
tác động của chính sách lãi suất đến lạm phát thông qua mô hình VAR, đề tài đề
xuất các biện pháp điều hành chính sách lãi suất cho Việt Nam để góp phần giúp
Việt Nam kiểm soát lạm phát.
7 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động chính sách lãi suất đến lạm phát.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong không gian ở Việt Nam và trong
khoảng thời gian từ 2000 – 2013.
5. Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp tiếp cận thông tin: Đề tài sử dụng các phương pháp tiếp cận tổng hợp
gồm tiếp cận phân tích- tổng hợp, định tính- định lượng, hệ thống- cấu trúc.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Trên cơ sở tham khảo một số tài liệu, cùng với
việc thu thập các số liệu về lãi suất, lạm phát của nền kinh tế Việt Nam và các
quốc gia khác như Hoa Kỳ, Trung Quốc và Thái Lan, nhóm đề tài tiến hành biên
dịch, tổng hợp để lấy làm nguồn dữ liệu.
+ Phương pháp xử lí thông tin
- Xử lí thông tin định tính: Đề tài sử dụng một số bảng và hình để mô tả về các diễn
biến của lãi suất, lạm phát và mối tương quan của hai biến số này.
- Xử lí thông tin định lượng: Đề tài sử dụng mô hình định lượng VAR để định
lượng tác động của chính sách lãi suất đến lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn

1.1. Một số lý luận chung về lãi suất, chính sách lãi suất và lạm phát
1.1.1. Lãi suất
1.1.1.1. Khái niệm lãi suất
Trên thế giới cũng như Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái
niệm về lãi suất. Theo Peter S. Rose và Paul Samuelson (1995), lãi suất là giá mà
người đi vay phải trả cho người cho vay để được sử dụng nguồn vốn vay trong một
khoảng thời gian nhất định, nó chính là giá cả của việc mua bán quyền sử dụng tiền
tệ trong một thời gian xác định. Trong trường hợp này, lãi suất được tiếp cận từ mặt
định tính. Bên cạnh đó, lãi suất cũng được nhiều nhà nghiên cứu khác định nghĩa
theo cách định lượng. Một trong số đó là Lê Vinh Danh (2006). Theo ông, lãi suất
là tỷ lệ phần trăm giữa tiền lãi (hay chi phí phải trả) trên một số lượng tiền nhất định
để có được quyền sở hữu và quyền sử dụng khoản tiền ấy trong một thời gian đã
thỏa thuận. Nói cách khác lãi suất chính là chênh lệch lượng tiền tổng cộng phải trả
trong tương lai và lượng tiền nhận được hôm nay. Trong trường hợp này, lãi suất
được coi là chi phí để có được quyền sở hữu lượng tiền cho vay trong khoảng thời
gian từ ngày vay tiền đến ngày trả tiền.
Lãi suất được nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận từ những góc độ khác nhau; tuy
nhiên các quan điểm đều thống nhất cho rằng lãi suất chính là chi phí bỏ ra cho việc
vay tiền, là giá cả của việc sử dụng tiền tệ trong một khoảng thời gian nhất định mà
ngưởi sử dụng phải trả cho người sở hữu vốn khi tạm thời mượn quyền sử dụng.
Thông thường lãi suất được tính theo một tỷ lệ phần trăm của tiền lãi trên tổng số
vốn vay ban đầu, xác định cho một đơn vị thời gian.
Theo định nghĩa trên, lãi suất cho vay 5%/năm khi ngân hàng cho vay một
khoản tiền là 100 triệu VND được hiểu là người đi vay phải trả cho ngân hàng một
khoản phí là 5 triệu VND/năm để được vay khoản tiền đó trong thời hạn tín dụng đã
10 thỏa thuận. Giả sử, thời hạn vay khoản vốn trên là 10 năm theo hợp đồng tín dụng
thì người đi vay phải trả tổng cộng là 50 triệu VND.

cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định
trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và
lãi (luật các TCTD năm 2010 số 47/2010/QH12).
+ Lãi suất chiết khấu: là lãi suất của việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền
truy đòi các công cụ chuyển nhượng, các giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng
trước khi đến hạn thanh toán (luật các TCTD năm 2010 số 47/2010/QH12). Theo
định nghĩa này, lãi suất chiết khấu phát sinh trên cơ sở các cá nhân mang các giấy tờ
có giá đến các NHTM và các TCTD khác để bán lại và hưởng một khoản tiền nhỏ
hơn khoản tiền mà các cá nhân này đáng lẽ được hưởng nếu thu từ người thanh toán
ghi trên giấy tờ khi đến hạn. Khoản tiền chênh lệch mà NHTM được hưởng chính là
lãi suất chiết khấu.
+ Lãi suất thị trường liên ngân hàng: Loại lãi suất này được hình thành khi các
NHTM vay mượn lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng.
Ngoài ra, căn cứ vào thời hạn tín dụng, lãi suất gồm có ba loại là: lãi suất ngắn
hạn, lãi suất trung hạn, lãi suất dài hạn. Căn cứ vào tính linh hoạt của lãi suất, lãi
suất gồm có hai loại: lãi suất thả nổi, lãi suất cố định. Căn cứ vào giá trị thực của lãi
suất, lãi suất gồm có hai loại là: lãi suất danh nghĩa, lãi suất thực. Căn cứ theo loại
tiền tính lãi suất, lãi suất gồm có hai loại là: lãi suất nội tệ, lãi suất ngoại tệ.
1.1.2. Chính sách lãi suất
1.1.2.1. Khái niệm chính sách lãi suất
Theo tác giả, chính sách lãi suất là một bộ phận của chính sách tiền tệ. Chính
sách lãi suất là chính sách được NHTW áp dụng nhằm thực hiện các mục tiêu kinh
tế vĩ mô của nền kinh tế thông qua việc hướng dẫn và điều chỉnh lãi suất thị trường
bằng các quy định, biện pháp và công cụ của NHNN trong từng thời kỳ nhất định.
Như vậy, chính sách lãi suất hướng đến mục tiêu cuối cùng là kiểm soát nền kinh tế
vĩ mô (như ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh
12 tế, giải quyết việc làm, đảm bảo quốc phòng an ninh) thông qua mục tiêu trung gian

Lạm phát thường được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) tăng giá giữa hai thời điểm
này.
Theo định nghĩa trên, mức lạm phát năm 2013 là 6,6% được hiểu là mức giá
chung của nền kinh tế đã tăng lên liên tục trong giai đoạn 2012 - 2013; mức giá
chung năm 2013 cao hơn mức giá chung năm 2012 là 6,6%.
1.1.3.2. Phân loại lạm phát
Xét về mặt định lượng, lạm phát được chia thành bốn loại như sau:
Bảng 1. Phân loại lạm phát xét theo mặt định lượng
Loại lạm phát
Đo lường
Lạm phát ỳ
0%/năm – 3%/năm
Lạm phát vừa phải
3%/năm – 10%/năm
Lạm phát phi mã
10%/năm – 100%/năm
Siêu lạm phát
Từ 100%/năm trở lên
(Nguồn: Nguyễn Thị Quy, 2010)
Xét về mặt định tính, lạm phát được phân loại dựa vào hai căn cứ chính:
+ Căn cứ vào việc dự đoán trước lạm phát nhờ vào việc phân tích các nguyên nhân
đã bộc lộ của lạm phát, lạm phát đươc chia thành hai loại: lạm phát dự kiến (lạm
phát có thể dự đoán trước); lạm phát không dự kiến được (lạm phát không thể dự
đoán trước).
+ Căn cứ vào việc so sánh tốc độ tăng lạm phát và tốc độ tăng thu nhập, lạm phát
được chia thành hai loại chính: lạm phát cân bằng (tốc độ tăng lạm phát bằng tốc độ
tăng thu nhập); lạm phát không cân bằng (tốc độ tăng lạm phát khác tốc độ tăng thu
nhập).
1.2. Cơ chế truyền dẫn tác động của chính sách lãi suất đến lạm phát
Lãi suất là một công cụ của CSTT, các kênh truyền dẫn lãi suất là một bộ phận

thức
Lãi suất thị trường tiền tệ
Kỳ vọng
Tiền tệ, tín
dụng
Giá tài sản
Lãi suất
ngân hàng
Tỷ giá
Xác định giá cả và
tiền lương
Tiêu dùng, Đầu tư, Xuất khẩu ròng,
Lao động
Giá trong nước
Giá nhập khẩu
15 1.2.1. LSCT thay đổi tác động đến thị trường tiền tệ
LSCT thay đổi tác động đến lãi suất ngắn hạn trên thị trường tiền tệ bán buôn,
bao gồm các công cụ trên thị trường tiền tệ với thời hạn khác nhau và các lãi suất
ngắn hạn khác như lãi suất tiền gửi liên ngân hàng. Ngay sau khi NHTW thay đổi
LSCT, các NHTM sẽ điều chỉnh lãi suất tiền gửi và cho vay của ngân hàng cũng
như lãi suất của các tài sản khác.
1.2.2. LSCT thay đổi tác động đến kỳ vọng của thị trường về lãi suất và lạm
phát trong tương lai
Thông qua thay đổi LSCT, các lãi suất ngắn hạn khác trên thị trường sẽ thay
đổi và theo đó, các lãi suất dài hạn trên thị trường cũng sẽ thay đổi. Sở dĩ như vậy vì
lãi suất dài hạn bị ảnh hưởng bởi bình quân lãi suất ngắn hạn hiện hành và kỳ vọng
lãi suất ngắn hạn trong tương lai. Ngoài ra, tác động của việc thay đổi LSCT lên lãi

chịu tác động của các yếu tố nêu trên và cuối cùng là lạm phát.
1.3. Kinh nghiệm thế giới về điều hành chính sách lãi suất nhằm kiểm soát
lạm phát
1.3.1. Thực tiễn của Hoa Kỳ
- Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Tại Hoa Kỳ, chính sách tiền tệ được điều hành bởi FED. Trong chính sách tiền tệ do
FED đề ra, lãi suất được sử dụng như là một công cụ chính để FED có thể thực hiện
mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá cả, tạo việc làm tối đa, qua đó thúc
đẩy nền kinh tế phát triển một cách lành mạnh và bền vững.
- Công cụ của chính sách lãi suất
Về cơ bản, FED hiện đang điều hành lãi suất thông qua hai công cụ quan trọng
là lãi suất chiết khấu (Discount rate) và lãi suất quỹ dự trữ liên bang
1
(Federal funds 1
Sở dĩ có tên gọi quỹ dự trữ liên bang là vì nguồn tiền để cho các trung gian tài chính nhận tiền gửi
(depository institutions) vay qua đêm (nhằm đảm bảo đủ dự trữ bắt buộc theo quy định) được FED lấy từ quỹ
dự trữ liên bang hình thành bởi số tiền dự trữ bắt buộc của tất cả các trung gian tài chính nhận tiền gửi.

17 rate – FFR). Lãi suất chiết khấu của FED áp dụng cho các NHTM vay với tư cách là
người cho vay cuối cùng trên cơ sở cầm cố lại các chứng từ có giá. Về nguyên tắc,
lãi suất liên ngân hàng thông qua thường sẽ thấp hơn lãi suất chiết khấu vì nếu
không, các trung gian tài chính sẽ không vay liên ngân hàng mà sẽ vay từ FED để
được hưởng lãi suất chiết khấu thấp hơn. Lãi suất chiết khấu thường cao hơn lãi suất
FFR và có ba mức lãi suất chiết khấu áp dụng cho ba loại cho vay khác nhau là tín

Trong giai đoạn từ năm 1998 đến 2013, hai lãi suất chiết khấu và lãi suất quỹ dữ trự
liên bang được FED điều chỉnh khá linh hoạt với biến động của lạm phát, nhằm
kiểm soát chặt chẽ mức lạm phát. Vì vậy, mức lạm phát trong giai đoạn này được
giữ ở mức dưới 4%.
Hình 2. Lạm phát trung bình qua các năm của Hoa Kỳ giai đoạn
1998 – 2013

(Nguồn: Historical Inflation Rates: 1914 – 2014)
Trong phần này, tác giả sẽ phân tích cụ thể chính sách điều hành lãi suất của
FED nhằm kiềm chế lạm phát trong 2 giai đoạn từ tháng 1/1999 – tháng 12/2000 và
từ tháng 6/2004 – tháng 6/2006.
Giai đoạn từ tháng 1/1999 – tháng 12/2000
1.6
2.2
3.4
2.8
1.6
2.3
2.7
3.4
3.2
2.8
3.8
-0.4
1.6
3.2
2.1
1.5
-1
-0.5

Tháng 4
2,3
3,1
Tháng 5
2,1
3,2
Tháng 6
2,0
3,7
Tháng 7
2,1
3,7
Tháng 8
2,3
3,4
Tháng 9
2,6
3,5
Tháng 10
2,6
3,4
Tháng 11
2,6
3,4
Tháng 12
2,7
3,4
Bình quân năm
2,2
3,4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status