1
B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
NGUYN TH SNG
NGHIÊN CứU ĐặC ĐIểM LÂM SàNG, CậN LÂM
SàNG
Và KếT QUả CủA PHẫU THUậT UNG THƯ biểu
mô
THÂN ĐUÔI TụY
Chuyờn ngnh: Ngoi khoa
Mú s:
CNG LUN VN THC S Y HC
Ngi hng dn khoa hc:
1. PGS.TS. TRNH HNG SN
2
H NI 2011
B GIO DC V O TO B Y T
2
TRNG I HC Y H NI
NGUYN TH SNG
NGHIÊN CứU ĐặC ĐIểM LÂM SàNG, CậN LÂM
SàNG
Và KếT QUả CủA PHẫU THUậT UNG THƯ biểu
mô
THÂN ĐUÔI TụY
CHUYấN NGHNH: NGOI KHOA
Mó s: 60.72.07
CNG LUN VN THC S Y HC
NGI HNG DN KHOA HC:
PGS.TS. TRNH HNG SN
năm gần đây nhưng nói chung cũng không vượt quá mức 7% [1], [20].
Nguyên nhân gây bệnh hiện nay chưa được làm sáng tỏ, chỉ có thể đưa ra
một số yếu tố nguy cơ của ung thư tụy như thói quen uống rượu, hút
thuốc,chế độ ăn nhiều mỡ, nghề nghiệp có tiếp xúc với một số hóa chất và
nam gặp nhiều hơn nữ [13], [11].
Vị trí thân đuôi tụy chiếm 30%, đầu tụy chiếm 70% [20], [11], [1],
[23].Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong các phương tiện chẩn đoán như siêu âm,
chụp cắt lớp, chụp ống tuỵ và ống mật chủ ngược dòng (ERCP) [64] [41]
[58], chọc sinh thiết tuỵ dới hớng dẫn của siêu âm [53] và gần đây nhất là khả
năng sử dụng các “chất chỉ điểm khối u” (Tumor markers) [5] [8], nhưng việc
chẩn đoán sớm ung thư tụy còn gặp nhiều khó khăn vì các triệu chứng nghèo
nàn, không điển hình, nhất là các khối u vùng thân đuôi tụy nên tỷ lệ phẫu
5
thuật cắt bỏ được khối u không cao và tiên lượng sau mổ còn hạn chế [], [13],
[1].
Trên thế giới, phẫu thuật cắt tuỵ lần đầu tiên được thực hiện vào năm
1683 bởi Johann Conrad Brunner. Tác giả này đã tiến hành cắt tuỵ trên chó
không làm gây mê [30] Ngày 4 tháng 7 năm 1882, Trendelenburg [39] là
người đầu tiên cắt khối u của tuỵ trên người, (u sacom tế bào hình thoi). Năm
1890 Briggs [24] mô tả việc cắt một khối u lớn vùng thân tuỵ
Ở Việt Nam việc nghiên cứu ung thư tuỵ chưa được chú ý đúng mức.
Tuy nhiên trong vòng mấy năm trở lại đây, nhờ việc phát triển rộng rãi các
phương tiện chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, đặc biệt là chụp cắt lớp vi tính,
số trường hợp ung thư tuỵ được chẩn đoán và mổ có chiều hướng tăng đặc
biệt là ung thư thân đuôi tụy.Tại Bệnh viện Việt Đức có một số nghiên cứu về
u tụy, như năm 2004 Đỗ Trường Sơn có nghiên cứu về chẩn đoán và điều trị
ung thư tụy ngoại tiết (Luận án tiến sỹ y học) [20]. Năm 2007 Nguyễn Thanh
Hải có nghiên cứu chẩn đoán và điều trị phẫu thuật u tụy nội tiết (Luận văn
thạc sỹ y học) [10].Gần đây nhất, năm 2009 Nguyễn Văn Cường nghiên cứu
về ung thư tụy ngoại tiết vùng đầu tụy(luận văn thạc sỹ y học) [4]. Nhưng
hiện tượng phát triển bất thường của phần thấp bên trái mặt sau đầu tuỵ, nó
vòng phía sau tĩnh mạch cửa, bó mạch mạc treo tràng trên, trước động mạch
chủ và tĩnh mạch chủ bụng.
7
Hình 1.1. Vị trí và hình thể tụy
Cổ tụy
Cổ tuỵ dài độ 1,5-2cm. Chỗ cổ tiếp nối với đầu tuỵ đã được mô tả. Phía
bên trái giới hạn của cổ tuỵ chỉ là qui ước. Cổ tuỵ thường nằm tương ứng với
đốt sống lưng thứ nhất.
Ở phía trước, cổ tuỵ thường được che phủ một phần bởi môn vị. Ở phía
phải, động mạch vị-tá tràng chia nhánh động mạch tá-tuỵ trước trên. Toàn bộ
đường đi của động mạch này liên quan đến đầu tuỵ, nhưng chỗ bắt nguồn của
nó lại ở phần trên của cổ tuỵ gần chỗ nối với đầu tuỵ.
Ở phía sau, tĩnh mạch cửa được tạo nên bởi sự hợp lưu của tĩnh mạch
mạc treo tràng trên và tĩnh mạch lách (Hình 1.3). Từ đây có nhiều nhánh nhỏ
đi vào mặt sau và mặt trước tuỵ. Các động mạch vị tá tràng và động mạch tá-
tuỵ trước trên thường nằm ở phía phải của cổ tuỵ. Khi cắt ngang qua cổ tuỵ
(Trong mổ cắt khối tá-đầu tuỵ) cần chú ý tĩnh mạch cửa và các nhánh bên
nằm ở ngay dưới.
8
Hình 1.2: Sơ đồ cấu tạo TM cửa ở sau vùng cổ tuỵ
Thân tụy
Có hình lăng trụ với 2 mặt trước và sau dưới; các bờ trên, trước và dưới.
Không có các mốc rõ ràng phân định ranh giới phải, trái của thân tuỵ.
Thân tuỵ nằm ở khoảng ngang mức đốt sống lưng thứ nhất và được che
phủ ở phía trước bởi 2 lá kép của phúc mạc thành sau hậu cung mạc nối, phân
cách tuỵ với mặt sau dạ dày. Thân tuỵ cũng liên quan với mạc treo đại tràng
ngang: Lá phúc mạc này chẽ làm 2, một lá che phủ mặt trước và một lá che
phủ mặt dưới tuỵ. Động mạch đại tràng phụ giữa (Colica media accessoria)
chui ra từ bờ dưới tuỵ và chạy dọc xuống dưới giữa 2 lá của mạc treo đại
Tụy ngoại tiết: cấu tạo giống như tuyến nước bọt mang tai, đó là các
chùm tuyến. Mỗi chùm tuyến có một bao liên kết riêng được lót bởi tế bào
tuyến. Nhiều chùm tuyến họp lại thành tiểu thùy. Các tiểu thùy được ngăn bởi
các vách liên kết. Dịch tiết ra từ tuyến được đổ vào các ống tiết. Hệ thống ống
tiết này bắt đầu từ lòng các nang tuyến đi ra rồi hợp thành các ống tiết trong
tiểu thuỳ. Các ống tiết trong tiểu thuỳ hợp thành các ống tiết gian tiểu thuỳ và
cuối cùng đổ vào hai ống tiết lớn là ống tụy chính và ống tụy phụ.
Tụy nội tiết: là các tế bào nằm lẫn lộn giữa phần ngoại tiết, tạo thành
đám gọi là đảo tụy hay đảo Langerhans. Tuy vậy cũng có những tế bào đơn
độc nằm rải rác cũng có khả năng chế tiết. Số đảo tụy có tới hơn một triệu đảo
ở người bình thường, nhiều nhất là ở đuôi tụy. Các đảo tụy không có ống tiết
nhưng có mạng mao mạch rất dồi dào bao bọc, những mao mạch có cửa sổ,
và nhiều thần kinh tự chủ. Các tế bào đảo tiết ra 4 loại hormon vào thẳng hệ
thống mao mạch để điều hoà chuyển hoá đường trong cơ thể:
- Tế bào Alpha tiết ra Glucagon.
- Tế bào Beta tiết ra Insulin.
- Tế bào Delta tiết ra Somatostatin
- Tế bào PP tiết ra Polypeptide tụy, là chuỗi chứa 36 axít amin.
11
Ống tiết của tụy: dịch tụy tiết ra từ các chùm tuyến theo các ống tiết
đổ vào các ống trong tiểu thùy. Các ống trong tiểu thùy họp lại thành ống liên
tiểu thùy để sau đó đổ ra ống tụy chính và ống tụy phụ.
1.1.3. Mạch máu và thần kinh của tụy:
Động mạch: tá tụy được cung cấp máu từ 2 nguồn: động mạch thân
tạng và động mạch mạc treo tràng trên.
* Các nhánh từ động mạch thân tạng:
- Các nhánh từ động mạch vị tá tràng gồm bốn nhánh: Động mạch tá tụy
trên sau, động mạch tá tụy trên trước, các động mạch sau tá tràng, động mạch
trên tá tràng.
- Các nhánh tụy của động mạch lách gồm: Động mạch tụy lưng, động
của nang và các tế bào ống tuyến khi có sự kích thích của secretin.
Dịch tụy chứa từ 1-3% protein trong đó 90% là thành phần của các men
tiêu hoá. Một số men tiêu hoá được tụy tiết ra dưới dạng hoạt động như
amylase, lipase. Một số men tiêu hoá khác được tiết ra dưới dạng chưa hoạt
động, đặc biệt là men tiêu đạm như trypsin, chymotripsin, carboxypeptidases
A và B. Các men này được kích hoạt trong lòng tá tràng nhờ enterokinase.
13
1.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của ung thư biểu mô thân đuôi tụy:
1.2.1. Đặc điểm lâm sàng:
Nhìn chung triệu chứng ung thư thân đuôi tụy rất nghèo nàn, các nghiên
cứu trên thế giới và tại Việt Nam đã đưa ra được một đặc điểm, triệu chứng
thường gặp nhất như sau:
- Tháng 2 năm 1966, Nhóm tác giả John R. Mani; F. Frank Zboralske và
Alexander R. Margulis đã công bố nghiên cứu về ung thư biểu mô thân đuôi
tụy. Nghiên cứu này thực hiện từ tháng 1 năm 1955 đến tháng 3 năm 1964
dựa trên hồ sơ 46 bệnh nhân đã được chẩn đoán ung thư biểu mô thân đuôi
tụy tại đại học y ở California và San Francisco nhận thấy tỷ lệ Nam/Nữ là
xấp xỉ 2/1, độ tuổi trung bình là 63,3 tuổi.Trong 46 bệnh nhân thì có 57% ung
thư thân tụy, 28% ung thư thân đuôi tụy và riêng đuôi tụy là 15%. Các triệu
chứng thường gặp là đau bụng thượng vị, giảm cân, suy nhược và mệt mỏi.
Thời gian trung bình của các triệu chứng trước khi nhập viện là 4,5 tháng,
thời gian từ khi khởi phát triệu chứng đến khi chết là khoảng 7-8 tháng. [77]
- Kimura, W., I. Han. (1997). Tác giả báo cáo trường hợp bệnh nhân
nam 54 tuổi được xác định ung thư biểu mô thân đuôi tụy với các triệu chứng
đau bụng và mất trọng lượng cơ thể trong vòng 6 tháng.[90]
- Năm 2006, Hai-Chao Yan; Yu-Lian Wu; Li-Rong Chen và Shun-Liang
Gao đã mô tả tám trường hợp phẫu thuật cắt u nang biểu mô tuyến tụy và thấy
rằng độ tuôi trung bình của nhóm này là 67, tỷ lệ nam và nữ là xấp xỉ bằng
nhau. Triệu chứng thường gặp nhất là đau bụng chiếm 87,5%, giảm cân là
75% và đau bụng xiên ra sau lưng gặp với tỷ lệ 62,5%.[78]
1.2.2. Đặc điểm cận lâm sàng:
* Xét nghiệm sinh hóa: Theo Karen J Dickinson; Dhanwant Gomez;
Andrew Lowe; Jay A Gokhale; Jon R Ausobsky; Pierre J Guillou và
Sakhawat H Rahman (2007) đã nghiên cứu trên 31 bệnh nhân ung thư biểu
mô vùng thân tụy thì tỷ lệ bệnh nhân đái đường là 22,6%.[79]
* Hình ảnh siêu âm ổ bụng:
- Năm 2001, Nguyễn Việt Dũng nhận xét 55 trường hợp ung thư tụy thì
siêu âm phát hiện được 83,7%. Trong đó hình ảnh ống mật chủ (OMC) giãn
chiếm 78,4%, túi mật to 74,5%, ống Wirsung giãn chiếm 72,7%, dịch ổ bụng
13,6% và khối u gan 10%.[5]
- Năm 2001, Đoàn Văn Mỹ nhận xét từ kết quả nghiên cứu 29 bệnh
nhân được chẩn đoán xác định u tụy thì siêu âm phát hiện được 62%, phát
hiện được 80% u vùng thân tụy và 25% u vùng đuôi tụy.[6]
+ Đặc điểm cấu trúc âm trong u thấy 34,5% giảm âm, 41,7% hỗn hợp
âm, 3,4% tăng âm và không nhận định được là 20,4%.
+ Ranh giới khối u thấy tỷ lệ 6,9% bờ đều, 55,7% bờ không đều, 17%
không rõ và 20,4 % là không nhận định được.
+ Kích thước u tụy đo được qua siêu âm < 3cm (3,4%), 3-4 cm
(10,3%), 4-5cm (17%), 5-6cm (10,2%) và >6cm (10,2%).
+ Các hình thái tổn thương khác như giãn đường mật 69%, túi mật to
62,1%, hạch quanh tụy 10,3%. U xâm lấn chèn ép tĩnh mạch chủ dưới, tĩnh
mạch lách và tĩnh mạch mạc treo tràng trên là 13,8%.Phát hiện di căn gan
3,4%.[6]
16
- Theo Đỗ Trường Sơn (2004) nghiên cứu chẩn đoán ung thư tụy ngoại
tiết qua các trường hợp đã chẩn đoán và phẫu thuật tại bệnh viện Việt Đức
qua 5 năm từ 1997 dến 2001 thì tỷ lệ phát hiện khối u vùng thân đuôi tụy qua
hình ảnh siêu âm bụng là 71,2% (p<0,05).
+ Đặc điểm cấu trúc u chủ yếu có tính chất giảm âm (68,4%), khối u
tăng âm chiếm tỷ lệ thấp (10,5%) và khối có tính chất hỗn hợp âm 15,8%.
khả năng phát hiện u tụy đạt > 90%, nếu kích thước u > 2cm thì tỷ lệ này tăng
lên 95%.
+ Quan sát rõ bờ khối u qua hình ảnh cắt lớp vi tính đạt 87,5%. Cấu trúc
u tăng tỷ trọng 12,5%, giảm tỷ trọng 62,5%, cấu trúc u không đồng đều 25%.
+ Kết quả chụp cắt lớp phát hiện u vùng thân đuôi tụy từ 2-5cm chiếm
37,5%, > 5cm chiếm 62,5%.
+ Không phát hiện giãn đường mật trong gan ở các trường hợp u thân đuôi
tụy, tỷ lệ giãn ống mật chủ là 12,5% và hình ảnh ống Wirsung giãn là 12,5%.
+ Dự đoán xâm lấn mạch máu của u là 62,0% [20]
*Giá trị của chất chỉ điểm khối u tụy (CA 19-9):
- Năm 2007, Karen J Dickinson; Dhanwant Gomez; Andrew Lowe; Jay
A Gokhale; Jon R Ausobsky; Pierre J Guillou và Sakhawat H Rahman đã
nghiên cứu trên 31 bệnh nhân ung thư biểu mô vùng thân tụy, có 15 bệnh nhân
làm xét nghiệm CA19-9 và chỉ số này tăng ở 100% số mẫu xét nghiệm. Giá trị
18
trung bình thu được 1,308 kU/L (54-6,1264), giá trị giới hạn là < 33 kU/L. [80]
- Theo Nguyễn Việt Dũng(2001), CA19-9 ở mức 37 U/ml thì kết quả
nghiên cứu này có độ nhạy 81%, nhưng độ đặc hiệu chỉ đạt 45%. Khả năng có
u khi xét nghiệm dương tính là 67,3% và khả năng không có ung thư khi xét
nghiệm âm tính là 67,9%.Ở mức 75 U/ml thì nghiên cứu này sẽ có độ nhậy
72,7% và độ đặc hiệu 55%. Khi ở ngưỡng 2020 U/ml thì tác giả thu được độ
đặc hiệu 100%, độ nhạy giảm xuống còn 34,5% [5]
- Theo Đỗ Trường Sơn (2004), Tỷ lệ dương tính ở mức >37U/ml là
76,3%, Nếu ngưỡng >75U/ml thì tỷ lệ dương tính 69,7%, nếu ở ngưỡng >
500U/ml thì chẩn đoán xác định u gần như chắc chắn.[20]
*Ngoài ra có thể chẩn đoán u thân đuôi tụy bằng nội soi siêu âm, chụp
cộng hưởng từ, chụp PED- CT. Đây là các phương pháp có độ nhậy và độ đặc
hiệu cao nhất, phát hiện u tụy lên đến 99-100%.[6][43]
1.3.Kết quả phẫu thuật ung thư biểu mô thân đuôi tụy
Cho đến nay đối với ung thư biểu mô tuyến tụy cũng như ung thư tụy nói
trong tuyến và cũng đề xuất tất cả các bệnh nhân sau DP cần được hóa trị và
xạ trị hỗ trợ.[75]
-Năm 1996, Ozaki, H., T. Kinoshita nghiên cứu trên 3 nhóm bệnh nhân
được chẩn đoán ung thư biểu mô thân đuôi tụy.Nhóm 1 gồm 10 bệnh nhân
được phẫu thuật cắt thân đuôi tụy đơn thuần, nhóm 2 gồm 22 bệnh nhân được
cắt thân đuôi kèm theo nạo vét hạch, nhóm 3 gồm 7 bệnh nhân được phẫu
thuật và kết hợp hóa -xạ trị. Kết quả 10 bệnh nhân đầu tiên chết trong vòng 20
tháng sau mổ, trong số 22 bệnh nhân được nạo vét hạch trong mổ thì tỷ lệ
sống thêm 5 năm của 15 bệnh nhân không có di căn là 29% và còn 7 bệnh
20
nhân có di căn xa chết trong vòng 10 tháng. Trong 7 bệnh nhân điều trị kết
hợp xạ trị cộng hóa trị thì có 4 bệnh nhân sống sót lâu dài ngoài 5 năm [73].
- Mayumi,T, Y. Nimura (1997) nghiên cứu ung thư biểu mô thân đuôi
tụy đã tiến hành so sánh 6 trường hợp cắt thân đuôi tụy kèm thân celiac và 19
trường hợp cắt DP tiêu chuẩn và 22 trường hợp không thể cắt bỏ. Thời gian
nằm viện không khác biệt giữa nhóm DP và nhóm DP-CAR. Tỷ lệ sống sau 1
năm tương ứng cho nhóm DP, DP-CAR và không thể cắt bỏ là 40%, 33,3%
và 5,4%. Tỷ lệ sống sau 3 năm tương ứng là 20%, 16,6% và 0%. Sự khác biệt
giữa nhóm DP- CAR và nhóm không thể cắt bỏ có ý nghĩa thống kê (p<0,01).
[85]
- Kimura, W., I. Han. (1997) cho rằng một trong những lý do chính
không thể cắt bỏ u là ung thư xâm lấn các tạng lớn như gan, động mạch lách,
cắt bỏ các động mạch có liên quan có thể tăng tỷ lệ cắt bỏ và do đó tăng sống
sót sau phẫu thuật. Tác giả đề cập mục đích của nghiên cứu là làm rõ tầm
quan trọng của phẫu thuật áp dụng cho ung thư biểu mô thân đuôi tụy. Tác
giả báo cáo trường hợp bệnh nhân nam 54 tuổi được xác định ung thư biểu
mô thân tụy, kích thước 3cm có xâm lấn động mạch gan, động mạch lách.
Bệnh nhân được phẫu thuật cắt thân đuôi tụy kèm theo cắt động mạch gan,
quá trình hậu phẫu diễn ra thuận lợi, bệnh nhân thèm ăn và tăng cân về mức
bình thường, bệnh nhân hết đau bụng và trở lại làm việc sau 18 tháng mặc dù
sức tích cực hơn, tuy nhiên không có tử vong. Với các trường hợp ung thư
biểu mô tuyến thì thấy kích thước khối u lớn hơn 3,5 cm, độ tuổi trung bình
22
trên 60, có 4 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến đã sống 5năm sau phẫu thuật.
[82]
- Năm 2007, Jurg Kleeff; Markus K. Diener và cộng sự nghiên cứu cắt
thân đuôi tụy trên 320 bệnh nhân thu được 76,5% trường hợp cắt thân đuôi
tụy kèm lách.Cắt thân đuôi tụy kèm theo các tạng lân cận (như dạ dày, đại
tràng, thận, gan…) thực hiện trong 36,1%. Thời gian phẫu thuật trung bình là
245 phút, lượng máu mất trung bình là 700ml. Thời gian nằm viện trung bình
là 12 ngày. Tỷ lệ các biến chứng chung là 35,4%, do phẫu thuật là 27,2%.
Trong đó rò tụy 11,6%, áp xe tồn dư 5%, Chậm làm rỗng dạ dầy 4,6%, chảy
máu 3% và nhiễm trùng vết mổ 2,7%, tỷ lệ tử vong 2%.
Trong nghiên cứu này tác giả thấy có sự khác biệt khá lớn giữa các kỹ
thuật đóng mỏm tụy còn lại: Không thấy rò tụy trong thóm nối ruột với mỏm
tụy còn lại, tỷ lệ rò trong nhóm khâu mỏm tụy 9,3%, trong nhóm đóng mỏm
stapler 15,9%, rò trong nhóm bảo tồn lách 5,1%, nhóm cắt lách 11,2%, nhóm
cắt đa tạng là 15,6% [44]
- Năm 2007, Hirano, S., S. Kondo đã nghiên cứu phân tích kết quả
phẫu thuật cắt thân đuôi tụy với trục celiac (DP- CAR) ở 23 bệnh nhân ung
thư thân tụy thì tỷ lệ tử vong sau mổ là 0%, tỷ lệ biến chứng 48%. Các biến
chứng phổ biến ở đây là rò tụy và thiếu máu cục bộ dạ dày. Phẫu thuật lấy bỏ
hết mô ung thư trong 21 bệnh nhân (91%), thời gian sống thêm trung bình 21
tháng, tái phát tại chỗ là trường hợp và 6 trường hợp di căn gan. Nghiên cứu
này cho thấy phẫu thuật DP-CAR có thể lấy hết u về mặt vi thể cao (phẫu
thuật R0).[83]
- Mayumi, T Sperti, C., M. Berselli thực hiện nghiên cứu về ung thư
biểu mô thân đuôi tụy từ 1989 đến 2007 và nhận thấy ung thư biểu mô thân
đuôi tụy là một bệnh ác tính với tỷ lệ cắt bỏ thấp và tiên lượng nghèo nàn, khi
có xâm lấn trục celiac thường là chống chỉ định cắt bỏ. Trong nghiên cứu này
đáng kể. Như vậy DP- CAR có thể được thực hiện an toàn trên một bệnh nhân
ung thư biểu mô thân đuôi tụy và cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống cho
bệnh nhân.[89]
- Takahashi, Y., Y. Kaneoka nghiên cứu phẫu thuật cho 43 bệnh nhân
ung thư biểu mô thân đuôi tụy từ năm 1993 dến 2010 trải qua phẫu thuật được
xác định ở mức R0. Tác giả chia thành hai nhóm, 16 bệnh nhân cắt thân đuôi
tụy kèm theo cắt trục celiac (DP-CAR), 27 bệnh nhân còn lại cắt thân đuôi tụy
đơn thuần (DP) thấy không có sự khác biệt về thời gian phẫu thuật trung bình,
số máu mất trong mổ, tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật và tỷ lệ biến chứng giữa
DP-CAR và DP. Tỷ lệ biến chứng và tử vong trong bệnh viện của DP-CAR là
56% và 6% tương ứng. Trong số DP-CAR thì 15 bệnh nhân không thực hiện
tạo hình động mạch gan và cũng không thấy nhồi máu gan sau mổ. Tỷ lệ sống
1năm, 3 năm của DP-CAR tương ứng là 42,6% và 25,6%. Tỷ lệ cắt bỏ R1của
DP- CAR là 44%, của DP là 22%. [76]
- Takahashi, H., H. Ogawa đã nghiên cứu 58 bệnh nhân ung thư biểu
mô tuyến tụy được DP, trong đó 28 bệnh nhân điều trị hóa chất (gemcitabine)
trước phẫu thuật và 30 bệnh nhân không sử dụng hóa chất trước phẫu
thuật.Kết quả trong nhóm dùng hóa chất trước mổ (CRT) thì 86% không phát
hiện dò tụy (PF), trong nhóm không CRT thì 33% không phát hiện dò
tụy.Như vậy có thể thấy rằng phẫu thuật có CRT làm giảm đáng kể tỷ lệ PF
sau khi DP, tạo nhiều cơ hội hơn cho việc bắt đầu điều trị bổ trợ ngay sau mổ.
[88]
- Đỗ Trường Sơn (2004) thực hiện nghiên cứu chẩn đoán ung thư tụy
ngoại tiết trên 271 bệnh nhân thì tỷ lệ U thân đuôi tụy là 7%, trong đó tỷ lệ
còn chỉ định phẫu thuật cắt thân đuôi tụy là 31,6%, mổ thăm dò là 63,1%, tỷ
lệ tử vong 5,3% do suy kiệt và viêm phổi , tỷ lệ nối tắt 5,3% [20].
25
Tác giả chỉ đề cập đến các biến chứng sau mổ cắt khối tá tụy như chảy
máu ổ bụng 2,4%, rò tụy 3,7%, rò tiêu hóa 1,2%, Áp xe tá tồn dư 1,2%,
nhiễm trùng vết mổ 3,75, viêm phổi nặng sau mổ 1,2%.