nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài côn trùng bộ cánh cứng (coleoptera) tại xã phỏng lái huyện thuận châu tỉnh sơn la - Pdf 23

LỜI CẢM ƠN

Để đánh giá kết quả học tập tại khoa Nông – Lâm trường đại học Tây
Bắc, giúp sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và gắn công tác
nghiên cứu khoa học với đời sống sản xuất, được sự ủng hộ của khoa Nông –
Lâm, cùng với sự hướng dẫn của thầy giáo Th.s Trần Quang Khải, tôi tiến hành
thực hiện khóa luận: “Nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài côn trùng bộ
cánh cứng (Coleoptera) tại xã Phỏng Lái, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La”.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn khoa học,
Thạc sĩ Trần Quang Khải đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện các
nội dung của đề tài. Xin cảm ơn các thầy, cô giáo trong bộ môn Quản lí tài
nguyên rừng và môi trường, cùng tập thể cán bộ làm việc tại UBND xã Phỏng
Lái đã tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi hoàn thành đề tài của mình.
Vì điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn và những khó khăn khách quan
khác nên đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp từ các thầy, cô giáo và bạn đọc để bản khóa luận được
hoàn thiện hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn !
Sơn La, ngày 18 tháng 4 năm 2014
Sinh viên thực hiện:

Phạm Đức Ngọc
MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Trên thế giới 3
1.1.1. Tình hình nghiên cứu côn trùng nói chung 3
1.1.2. Tình hình nghiên cứu côn trùng Bộ cánh cứng 3
1.2. Ở Việt Nam 5

3.2. Các nguồn tài nguyên, thực trạng môi trường 21
3.2.1. Tài nguyên đất 21
3.2.2. Tài nguyên nước 22
3.2.3. Tài nguyên rừng 22
3.2.4. Tài nguyên khoáng sản 22
3.2.5. Tài nguyên nhân văn 23
3.2.6. Thực trạng môi trường 23
3.3. Điều kiện kinh tế, xã hội 23
3.3.1. Dân số và lao động 23
3.3.2. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 24
3.4. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường 28
3.4.1. Thuận lợi: 28
3.4.2. Khó khăn: 28
PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
4.1. Lập bảng danh lục thành phần loài côn trùng bộ cánh cứng tại khu vực
nghiên cứu. 31
4.2. Nghiên cứu đa dạng của một số loài côn trùng bộ cánh cứng tại khu vực
nghiên cứu. 36
4.2.1. Đa dạng về loài, giống, họ 36
4.2.1.1. Đa dạng số loài theo giống 36
4.2.1.2. Đa dạng số loài theo họ 37
4.2.1.3. Đa dạng về giống theo họ 38
4.2.2. Tính đa dạng về hình thái của một số loài côn trùng bộ cánh cứng tại khu
vực nghiên cứu 40
4.2.3. Đa dạng của các loài côn trùng bộ cánh cứng theo trạng thái sinh cảnh 42
4.2.4. Phân bố các loài côn trùng bộ cánh cứng theo độ cao tương đối. 47
4.2.5. Ảnh hưởng của yếu tố môi trường tới sự xuất hiện các loài côn trùng bộ
cánh cứng. 48
4.3. Ý nghĩa các loài côn trùng bộ cánh cứng trong khu vực xã Phỏng Lái 49
4.3.1. Các loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam 49

Biểu 4.5: Số lượng loài côn trùng bộ cánh cứng trong từng họ 37
Biểu 4.6: Số lượng giống theo từng họ thuộc côn trùng bộ cánh cứng 39
Biểu 4.7: Tính đa dạng về kích thước, màu sắc 40
Biểu 4.8. Các dạng hình thái cơ bản để phân biệt các loài côn trùng bộ cánh
cứng 41
Biểu 4.9: Phân bố các loài côn trùng bộ cánh cứng theo các dạng sinh cảnh 43
Biểu 4.10: Các loài côn trùng bộ cánh cứng bắt gặp ở nhiều dạng sinh cảnh 45
Biểu 4.11: Các loài côn trùng bộ cánh cứng bắt gặp ở một dạng sinh cảnh duy
nhất 46
Biểu 4.12: Phân bố côn trùng bộ cánh cứng theo độ cao 47
Biểu 4.13: Sự biến động số lượng loài thu được tại khu vực nghiên cứu 48
Biểu 4.14: Các loài côn trùng quý hiếm 49
Biểu 4.15: Mô tả đặc điểm hình thái của các loài côn trùng quý hiếm tại khu vực
nghiên cứu 50
Biểu 4.16: Mức độ bắt gặp các loài côn trùng bộ cánh cứng của người dân tại
khu vực nghiên cứu 53
Biểu 4.17: Mức độ đa dạng về màu sắc của các loài côn trùng bộ cánh cứng. 54
Biểu 4.18: Mức độ đa dạng về kích thước của các loài côn trùng bộ cánh cứng 54
Biểu 4.19: Giá trị của các loài côn trùng bộ cánh cứng 55
Biểu 4.20: Vai trò của các loài côn trùng bộ cánh cứng 56
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1: Bản đồ hành chính xã Phỏng Lái 30
Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện độ bắt gặp các loài côn trùng bộ cánh cứng 34
Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện số loài trong các họ côn trùng bộ cánh cứng 38
Hình 4.3: Biểu đồ thể hiện số giống theo các họ côn trùng bộ cánh cứng 39

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong thế giới tự nhiên, côn trùng là nhóm động vật thu hút sự quan tâm
đặc biệt của con người. Theo số liệu điều tra từ 1999-2006 của IUCN: Côn trùng
trên thế giới có số loài đã được mô tả là 950.000 loài, chiếm 76,06% tổng số loài
động vật và 60,79% tổng số các loài động thực vật, có 1192 loài đã được đánh
giá, trong đó có 623 loài bị đe doạ (Wikipedia, 2007).
Nhờ đặc tính thích nghi kì lạ với ngoại cảnh, lớp động vật này hết sức
phong phú, đa dạng về thành phần loài đồng thời số lượng cá thể của mỗi loài
cũng rất lớn, theo C.B. Willam, (Thomas Eisner và E. O. Wilson, 1977), lớp
Côn trùng có đến một tỷ tỷ (10
18
) cá thể. Chúng có mặt ở khắp mọi nơi và can
dự vào mọi quá trình sống trên trái đất, trong đó có đời sống của con người. Ở
một số phương diện côn trùng là những kẻ gây hại nguy hiểm, theo “Sedlay
1978 thì chỉ có khoảng 0,1% số loài Côn trùng gây hại cho cây trồng, động vật
và con người”, trên những mặt khác chúng lại là những động vật rất có ích. Côn
trùng đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái như tham gia vào chu trình tuần
hoàn vật chất, là thành phần quan trọng của chuỗi thức ăn, chúng có vai trò quan
trọng trong việc thụ phấn cho các loài thực vật làm tăng năng suất cây trồng và
góp phần tạo tính đa dạng của thực vật. Nhiều loài côn trùng ăn thịt và kí sinh
tham gia vào diệt trừ sâu hại, một số còn cung cấp những sản phẩm công nghiệp
quý hiếm như cánh kiến, tơ tằm, mật ong.
Bộ cánh cứng (Coleoptera) là bộ khá phong phú trong lớp côn trùng. Bộ
này có khoảng 250.000 loài gồm nhiều loài có hại và có ích, phân bố khá rộng
[7]. Chúng có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực tới đời sống của con người cũng
như có vai trò quan trọng trong cân bằng sinh thái môi trường tham gia vào chu
trình chuyển hoá vật chất và năng lượng trong hệ sinh thái, tham gia vào quá
trình thụ phấn làm tăng suất cây trồng, làm cho đất tơi xốp, cung cấp thực phẩm,
dược phẩm, đồ trang sức,…các loài như bọ rùa, bọ cánh cứng ba khoang, bọ

3
PHẦN I
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Trên thế giới
1.1.1. Tình hình nghiên cứu côn trùng nói chung
Ngay từ khi loài người mới xuất hiện, đặc biệt là từ lúc con người bắt đầu
biết trồng trọt và chăn nuôi, họ đã thấy được sự phá hoại nhiều mặt của côn
trùng. Do đó con người phải bắt tay vào tìm hiểu và nghiên cứu về côn trùng.
Những tài liệu nghiên cứu về côn trùng rất nhiều và phong phú. Trong
một cuốn sách cổ của Xêri viết vào năm 3000 TCN đã nói tới những cuộc bay
khổng lồ và sự phá hoại rất lớn của những đàn châu chấu sa mạc.
Trong các tác phẩm nghiên cứu của ông nhà triết học cổ Hy Lạp
Aristoteles (384 - 322 TCN) đã hệ thống hoá được hơn 60 loài động vật chân
có đốt (Cedric Gillot, 1982) [10].
Nhà tự nhiên học vĩ đại người Thụy Điển Carl von Linné được coi là
người đầu tiên đã đưa ra đơn vị phân loại và đã tập hợp xây dựng được một
bảng phân loại về động vật và thực vật trong đó có côn trùng. Sách phân loại
thiên nhiên của ông đã được xuất bản tới 10 lần [3].
Liên tiếp các thế kỉ sau như thế kỉ XIX có Lamarck, thế kỉ XX có
Handlirich, Krepton 1904, Ma-tư-nốp 1928, Weber 1938 tiếp tục cho ra những
bảng phân loại côn trùng của họ [10].
Ở Trung Quốc môn côn trùng lâm nghiệp đã được chính thức giảng dạy
trong các trường Đại học lâm nghiệp từ năm 1952, từ đó việc nghiên cứu về

phân loại một số loài Họ Bọ lá .
Ở Rumani năm 1962 M.A. Ionescu đã xuất bản cuốn "Côn trùng học"
trong đó có đề cập đến phân loại Họ Bọ lá Chrysomelidae. Tác giả cho biết
trên thế giới đã phát hiện được 24.000 loài bọ lá và tác giả đã mô tả cụ thể
được 14 loài [10].
Năm 1964 giáo sư V.N Xegolop viết cuốn "Côn trùng học" có giới
thiệu loài Sâu cánh cứng khoai tây Leptinotarsa decemlineata Say là loài hại
nguy hiểm đối với cây khoai tây.
Năm 1965 Viện hàn lâm khoa học Nga đã xuất bản 11 tập phân loại côn
trùng phần thuộc châu Âu, trong đó có tập thứ 5 chuyên về phân loại Bộ Cánh

5
cứng (Coleoptera) trong tập này đã xây dựng bảng tra 1350 giống thuộc Họ
Bọ lá Chrysomelidae.
Năm 1965 và năm 1975 N.N Pađi, A.N Boronxop đã viết giáo trình
Côn trùng rừng trong các tác phẩm này đã đề cập đến nhiều loài côn trùng
Bộ Cánh cứng hại rừng như: mọt, xén tóc, sâu đinh và bọ lá.
Năm 1966 Bey - Bienko đã phát hiện và mô tả được 300.000 loài côn
trùng thuộc Bộ Cánh cứng.
Ở Mỹ theo tài liệu sách hướng dẫn về lĩnh vực côn trùng ở Bắc châu Mỹ
thuộc Mêhicô của Donald.J.Borror và Richard. E. White (1970 - 1978) đã đề
cập đến đặc điểm phân loại của 9 họ phụ thuộc Họ Bọ lá Chrysomelidae.
Năm 1987 Thái Bang Hoa và Cao Thu Lâm đã xuất bản cuốn "Côn
trùng rừng Vân Nam" đã xây dựng một bảng tra của ba họ phụ của Họ Bọ
lá (Chrysomelidae) cụ thể họ phụ Chrysomelinea đã giới thiệu 35 loài, họ
phụ Alticinae đã giới thiệu 39 loài và họ phụ Galirucinae đã giới thiệu 93 loài [3].
1.2. Ở Việt Nam
1.2.1. Tình hình nghiên cứu côn trùng nói chung
Năm 1897 đoàn nghiên cứu tổng hợp người Pháp tên là "Mission Parie"
đã điều tra côn trùng Đông Dương, đến năm 1904 kết quả đã được công bố.

của Phạm Bình Quyền (1969), của Bùi Công Hiển (1973), của Vũ Quang
Côn (1976). Theo hướng phòng trừ sinh học có công trình của Nguyễn Vân
Đình (1972), Nguyễn Anh Diệp (1980), Mai Phú Quý (1976),…v.v.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu côn trùng Bộ cánh cứng
Năm 1968 và sau này Medvedev đã công bố một công trình về Họ Bọ lá
Chrysomelidae ở Việt Nam trong đó có 8 loài mới đối với khoa học [3].
Trong cuốn "Sâu hại rừng và cách phòng trừ" của tác giả Đặng Vũ
Cẩn 1973 có giới thiệu một số loại sâu họ bọ hung hại lá bạch đàn là: Bọ hung
nâu lớn (Holotrichia sauteri Mauser); Bọ hung nâu xám bụng dẹt (Adoretus
compressus); Bọ hung nâu nhỏ (Maladera - sp), sâu trưởng thành của nhóm
này thường sống ở trên tất cả các giống bạch đàn. Qua điều tra ở trại Long
Phú Hải - Đông Triều - Quảng Ninh cho thấy con Maladera sp gây hại bạch
đàn trắng nhiều hơn bạch đàn đỏ. Đối tượng hại của chúng là lá và ngọn non
của bạch đàn, hình thức hại là gặm lá, song ít có hiện tượng ăn hết toàn bộ lá,

7
vì thế các rừng bạch đàn ngay cả trong những lúc có dịch sâu cũng không xảy
ra hiện tượng bị trụi lá, chẻ cành. Nguyên nhân của hiện tượng này có thể do
hiện tượng ăn bổ sung của sâu mẹ. Bên cạnh đó tác giả còn cho biết
thêm một số loài sâu khác như:
+ Bọ vừng (Lepidota bioculata) chúng ăn cả cây nông nghiệp và cây
lâm nghiệp, nhất là những cây như Phượng vĩ, Muồng hoa vàng, Phi lao,
Bạch đàn chúng phân bố khá rộng ở miền Bắc đặc biệt là vùng đất cát hoặc
cát pha.
+ Bọ sừng (Xylotrupes gideon L.) thuộc Bộ Cánh cứng, bộ phụ đa thực,
Họ Bọ hung chúng ăn hại cả cây nông nghiệp và cây lâm nghiệp nhưng thích
gặm vỏ non của các loại cây gỗ thuộc họ đậu như Phượng vĩ, Dương hoè
chúng phân bố rộng khắp miền Bắc.
+ Bọ cánh cam (Anomala cupripes Hope) cũng như bọ vừng, bọ sừng
phá hoại nhiều loại cây khác nhau và chúng cũng có phân bố rộng.

thành phần loài và phân bố của các loài côn trùng bộ cánh cứng trong khu vực là
rất cần thiết, hướng tới việc tạo cơ sở khoa học cho việc đề xuất một số giải
pháp quản lý nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, gắn kết công tác bảo tồn với việc
phát triển kinh tế thông qua việc nhân nuôi, buôn bán các loài côn trùng bộ cánh
cứng có giá trị kinh tế mà không làm nguy hại đến sự đa dạng hay tuyệt chủng
của chúng ngoài tự nhiên.

9
PHẦN II
MỤC TIÊU - NỘI DUNG - PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu chung
- Góp phần quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học côn trùng bộ cánh cứng tại
xã Phỏng Lái, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định thành phần loài và phân bố của các loài côn trùng bộ cánh
cứng tại khu vực nghiên cứu.
- Xác định được một số dạng sinh cảnh của các loài côn trùng bộ cánh
cứng tại khu vực nghiên cứu.
- Đề xuất một số giải pháp quản lí các loài côn trùng bộ cánh cứng theo

2.5.2.1 Xác định hệ thống tuyến điều tra
Các loài côn trùng thuộc bộ cánh cứng có nhiều kiểu miệng khác nhau
như miệng gặm nhai, miệng hút,…nên thức ăn của chúng khá phong phú như
hút nhựa cây, ăn hoa, lá, gỗ, hút mật, bắt mồi… vì vậy chúng thường tập trung ở
nhưng nơi có nguồn thức ăn dồi dào, nơi có điều kiện thuận lợi cho sự sinh
trưởng phát triển như các khu rừng tự nhiên, rừng trồng các đám cây bụi có
nhiều hoa, các loài cây có nhựa và chứa tinh dầu… Dựa vào tính xu quang, tính
xu hóa… của các loài côn trùng để áp dụng phương pháp điều tra theo tuyến.
Trên tuyến điều điều tra Ôtc và phương pháp bẫy đèn.
Các tuyến điều tra cần đảm bảo các tiêu chí sau:
 Tuyến điều tra phải đi qua các dạng sinh cảnh, địa hình khác nhau.
 Tuyến điều tra phải đảm bảo tính đại diện cao.
 Tuyến điều tra kéo dài từ 500 m – 2000 m.
 Thuận lợi cho việc điều tra.
Dựa vào các tiêu chí trên tôi đã xác định được 9 tuyến điều tra. Đặc điểm
của các tuyến như sau:
Tuyến 1: chiều dài 1 km
Tọa độ Gps:
Điểm đầu tuyến: N: 21
0
32,748’; E: 103
0
37,799’; độ cao: 766 mét
Điểm cuối tuyến: N: 21
0
32,430’; E: 103
0
37,663’; độ cao: 748 mét

11

37,043’; độ cao: 786 mét
Tuyến này nằm trong khu vực bản Pe. Xuất phát từ đỉnh đồi theo hướng
tây nam, đi qua các sườn dông có độ cao lớn độ dốc trung bình. Tuyến đi qua
các dạng sinh cảnh 3, 4, 6 ,7, trong tuyến lập 4 điểm điều tra
Tuyến 4: chiều dài 900 m
Tọa độ Gps:
Điểm đầu tuyến: N: 21
0
36,191’; E: 103
0
36,986’; độ cao: 826 mét
Điểm cuối tuyến: N: 21
0
35,882’; E: 103
0
37,117’; độ cao: 736 mét
Xuất phát từ bản Pha Lao, tuyến chạy vuông góc với trục đường chính,
địa hình tương đối phức tạp, đi qua 4 dạng sinh cảnh là 2, 3, 6, 7 trong tuyến lập
4 điểm điều tra.
Tuyến 5: chiều dài 1 km
Tọa độ Gps:
Điểm đầu tuyến: N: 21
0
35,363’; E: 103
0
36,290’; độ cao: 795 mét
Điểm cuối tuyến: N: 21
0
34,590’; E: 103
0

33,662’; E: 103
0
36,701’; độ cao: 725 mét
Xuất phát từ bản Mô Cổng kết thúc ở bản Pá Chặp, tuyến chạy song song
với trục đường chính, địa hình khá đơn giản. Tuyến này đi qua các dạng sinh
cảnh là 1, 3, 4, 5, 6, trong tuyến này lập 5 điểm điều tra.
Tuyến 8: chiều dài 1 km
Tọa độ Gps:
Điểm đầu tuyến: N: 21
0
35,912’; E: 103
0
37,044’; độ cao: 826 mét
Điểm cuối tuyến: N: 21
0
35,696’; E: 103
0
36,598’; độ cao: 846 mét
Tuyến nằm trong khu vực bản Nậm Giắt, vuông góc theo trục đường
chính, đi qua các đồi núi thấp có độ dốc trung bình. Tuyến đi qua các dạng sinh
cảnh là 2, 3, 5, 6, 7. Trong tuyến lập 5 điểm điều tra.
Tuyến 9: chiều dài 1 km
Tọa độ Gps:
Điểm đầu tuyến: N: 21
0
38,176’; E: 103
0
35,178’; độ cao: 921 mét
Điểm cuối tuyến: N: 21
0

thuộc từng diện tích của lâm phần hay khu vực điều tra mà có tổng diện tích của
Otc chiếm từ 3% đến 5% diện tích của lâm phần, khu vực điều tra.
+ Điều tra sâu dưới đất (côn trùng bộ cánh cứng): Trong Otc tiến hành lập
5 ô dạng bản (ODB), đối với Otc hình vuông với diện tích mỗi ODB là 1m
2
1 ô
ở giữa và 4 ô ở 4 góc Otc sau đó tiến hành xác định trạng thái rừng, lâm phần,
độ tàn che, độ che phủ, độ dốc, toạ độ của Otc.

14
Trong mỗi ODB tiến hành đào phẫu diện sâu theo từng lớp để điều tra côn trùng
bộ cánh cứng, số lượng, pha biến thái từng loài.
Điều tra theo từng lớp:
Lớp đất 1: Lớp thảm khô, thảm mục.
Lớp đất 2: 10 cm đầu tiên.
Lớp đất 3: 10 – 20 cm.
Lớp đất 4: 20 – 30 cm.
Lớp đất 5: 30 – 40 cm.
Kết quả thu được ghi lại ở mẫu biểu sau:

Mẫu biểu 2.1. Điều tra số lƣợng loài cánh cứng ở dƣới đất.

Tuyến điều tra:………………………………………………………….
Ngày điều tra:…………… Người điều tra:……………Vị trí: ………
Số Otc:………………… Hướng dốc:……………… Độ dốc:………

STT
O
ODB
ĐĐộ


2 3 …


điều
tra

hiệu
cành
đ.tra
Tên
loài
sâu
Trứng
Sâu non
Nhộng
Sâu
trưởng
thành
Mật
độ
Ghi
chú
T1
T2
T3
T4

1


- Điều tra mồi bẫy.
Sử dụng cây làm mồi nhử là những cây sinh trưởng nhanh, gỗ tạp, các loài
cây có tinh dầu thơm, nhiều nhựa, lá non để thu hút côn trùng. Trong 1 Otc đặt 9
mồi bẫy trở lên, chia Otc làm 3 hàng cách đều nhau trên mỗi hàng chia làm 3
điểm cách đều nhau mỗi điểm đạt một mồi bẫy, ngoài ra nên đặt thêm mồi bẫy ở
gần gốc chặt của những cây chọn làm mồi bẫy.
+ Đối với mồi bẫy là gỗ, chặt thành từng khúc dài khoảng 30 cm đến
50cm và đặt trên mặt đất mỗi điểm đặt 2 khúc, cách 2 đến 3 ngày đến kiểm tra
mồi bẫy một lần.
+ Đối với mồi bẫy bằng lá cây hoặc hoa trên điểm bẫy tận dụng các cành
cây làm thành các giá thể cao 1 m đến 1.2 m, buộc lá cây hoặc hoa thành từng

16 …

- Điều tra bằng phương pháp bẫy đèn.
Dựa vào tính xu quang của các loài côn trùng nên có thể áp dụng phương
pháp bẫy đèn vào ban đêm, trên các tuyến, cứ 1 tuyến đặt một đèn bẫy tại giữa
tuyến, tuyến dài 1 km đạt 1 đèn bẫy, tại địa điểm 500 m tiến hành phát quang
khu vực rộng khoảng 10 m
2
, sau đó xác định địa điểm bằng phẳng trên mặt đất
rồi đặt chậu đổ nước chiếm 1/3 thể tích của chậu, đặt giữa chậu là 1 giá thể (1
khúc gỗ hình trụ có 2 đầu bằng phẳng) trên giá thể đặt 1 cái đèn (loại đèn dân
dụng), sau đó bật đèn lên, thấy loài nào tiến hành bắt và cho vào lọ đựng mẫu có
chứa cồn bảo quản mẫu, ghi rõ thời gian bắt nếu biết tên loài hay họ, bộ thì ghi
ngay vào phiếu điều tra.
Kết quả thu được ghi lại ở mẫu biểu sau: + Đánh giá về giá trị và tình trạng tài nguyên côn trùng bộ cánh cứng tại
khu vực nghiên cứu thông qua phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự
tham gia của người dân (PRA).
* Phương pháp điều tra và thu thập.
- Với các loài côn trùng đã rõ tên khoa học tiến hành ghi vào sổ tay điều tra.
- Với những loài chưa rõ tên tiến hành bắt rồi cho lọ giữ mẫu ghi kí hiệu
mẫu theo thứ tự.
+ Tuyến điều tra
+ Đợt điều tra
+ Điểm điều tra
+ Tên loài
- Mỗi tuyến điều tra sử dụng một lọ đựng mẫu riêng
- Mỗi 1 sinh cảnh sử dụng một lọ đựng mẫu riêng
Sau khi bắt được mẫu phải cho vào lọ có cồn ngay để bảo đảm không
hỏng mẫu.
2.5.3. Công tác nội nghiệp
- Kiểm tra số liệu của các tuyến, sắp xếp số liệu quan sát theo thứ tự thời
gian, theo tuyến điều tra.

18
+ Xử lí số liệu thu thập được trong phương pháp điều tra sâu dưới đất:
+ Kiểm tra số liệu các loài sâu điều tra được trong từng lớp đất sắp xếp
theo thời gian, tuyến, Otc và theo độ sâu lớp đất.
+ Xử lí số liệu thu thập được trong phương pháp điều tra cây tiêu chuẩn
trong Otc: Kiểm tra số liệu các loài sâu điều tra được trên Otc sắp xếp theo thời

Trích đoạn Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng Giải pháp tăng cường công tác quản lý bảo vệ Công tác điều tra, giám sát, thu thập thông tin về điều kiện sinh vật học, Các biện pháp kĩ thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status