Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của hàng không VN đối với hành lý, hàng hóa và tư trang của hành khách - Pdf 23

Trờng đại học ngoại thơng
Khoa kinh tế ngoại thơng

* * * * * *
Khoá luận tốt nghiệp
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của
hàng không Việt Nam đối với hành lý, hàng hoá
và t trang của hành khách.
Sinh viên thực hiện : Lê Văn Lân
Giáo viên hớng dẫn : PGS. TS. Nguyễn Nh Tiến
Hà Nội, năm 2003
Mục lục
Lời nói đầu
Lời cảm ơn
Những từ viết tắt trong khoá luận
Chơng I: Khái quát về BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý,
hàng hoá và t trang của hành khách 1
I. Khái niệm và đặc điểm của BHTNDS 1
I.1. Khái niệm và đặc điểm của BHTNDS 1
I.2. Những rủi ro thờng gặp phát sinh TNDS của hãng hàng không 10
I.3. Vai trò và tính tất yếu của BHHK 13
II. Các loại hình BHTNDS của hãng hàng không 16
II.1. BHTNDS của hãng hàng không đối với hành khách 16
II.2.BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý, hàng hoá và t trang của
hành khách 16
II.3. BHTNDS của hãng hàng không đối với ngời thứ 3 19
II.4. BHTNDS của chủ sân bay và ngời điều hành bay 19
III. Nội dung BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý, hàng hoá
và t trang của hành khách 20
III.1. Ngời đợc bảo hiểm và ngời đợc bồi thờng 20
III.2. Đối tợng bảo hiểm 20

IV. Về phía ngời thứ 3 94
Lời kết
Tài liệu tham khảo
Phục lục I
Phụ lục II
Lời nói đầu
Chúng ta đang sống trong thời đại mà KH - KT và công nghệ phát triển
nh vũ bão, xu thế hội nhập và quốc tế hoá đời sống KT -XH ngày càng trở
thành một nhu cầu tất yếu nhất là từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần
thứ VI năm 1986 với chủ trơng chính sách đổi mới và mở cửa nền kinh tế,
chuyển từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng theo định hớng
XHCN có sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc đã tạo những bớc chuyển biến tích
cực cả về mặt KT XH ở nớc ta.
Đóng góp vào thành công chung đó, trong những năm gần đây ngành
HKDD đã tự khẳng định mình là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn đại
diện cho phơng thức vận tải tiên tiến và hiện đại nhất, ngày càng đóng vai trò
to lớn và có ảnh hởng quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hoá,
xã hội, an ninh, quốc phòng của Đất nớc.
Hàng không là một ngành có khối lợng vốn đầu t khổng lồ tới hàng
chục hàng trăm tỉ đô la Mĩ. Theo thống kê thì xác suất xảy ra rủi ro là nhất
nhỏ có thể tính trên một phần tỉ, nhng khi xảy ra rủi ro thì mức độ cực kỳ
nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn hậu quả là ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của ngành. Bên cạnh việc vận tải hành khách, hành lý,
hàng hoá bằng đờng hàng không là hoạt động thờng xuyên và đem lại lợi
nhuận cho các hãng hàng không thì những thiệt hại về hành khách, hành lý,
hàng hoá xảy ra ảnh hởng không những đến chính đối tợng bị thiệt hại mà
còn ảnh hởng đến uy tín và danh tiếng của hãng hàng không.
Chính vì vậy, Luật pháp quốc tế cũng nh Luật pháp của từng quốc gia
đều có qui định về trách nhiệm dân sự phải bồi thờng của hãng hàng không
đối với những rủi ro gây thiệt hại đến hành lý, hàng hoá, và t trang của hành

Lê Văn Lân
Lời cảm ơn
Để hoàn thành khoá học nói chung và khoá luận tốt nghiệp nói riêng.
Ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân trớc hết em xin đợc bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc tới:
Thầy giáo PGS.TS. Nguyễn Nh Tiến ngời đã trực tiếp hớng dẫn chỉ bảo
tận tình em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện khoá luận này.
Ban giám hiệu nhà trờng đã tổ chức khoá học để em có cơ hội để học
hỏi và mở mang tri thức của mình. Hy vọng trong tơng lai gần em lại có cơ
hội để tham gia những khoá học cao hơn tại trờng.
Các thầy cô giáo đã trực tiếp dạy dỗ chúng em qua những môn học
nhằm trang bị cho chúng em hành trang kiến thức để vững bớc vào đời một
cách tự tin hơn.
Em cũng hết sức cảm ơn:
Những cán bộ, chuyên viên của Phòng bảo hiểm pháp chế - Ban tài
chính kế toán - TCTHKVN đã cung cấp tài liệu bổ ích giúp em đợc hoàn thiện
khoá luận này.
Những cán bộ, chuyên viên của Phòng Hàng Hải - Hàng không thuộc
Công Ty bảo hiểm TP. HCM (Bảo Minh) chi nhánh tại Hà Nội số 57 Hàng
Chuối đã cung cấp số liệu liên quan tới phí bảo hiểm, công tác bồi thờng giữa
Bảo Minh và HKVN những năm qua cùng những thông tin về Bảo Minh và thị
trờng bảo hiểm hàng không thế giới.
Trung tâm thông tin phản hồi - Ban kế hoạch thị trờng - TCTHKVN đã
cung cấp số liệu hành khách mà HKVN chuyên chở đợc trong thời gian từ
1993 - 2002
Ban tiếp thị hàng hoá - TCTHKVN đã cung cấp số liệu về khối lợng
hàng hoá mà HKVN chuyên chở đợc trong thời gian từ 1993 - 2002.
Bên cạnh đó em xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp đã động viên kịp thời ủng hộ nhiệt tình, đã góp phần quan trọng cho
em hoàn thành đợc khoá luận tốt nghiệp này.

kinh tế.
Có quan niệm cho rằng: Bảo hiểm là hợp đồng trong đó bên mua phải
nộp cho bên bán một số tiền nhất định gọi là phí bảo hiểm, còn bên bán cam
kết thanh toán cho bên mua một số tiền bằng hay tơng đơng với loại tổn thất
xảy ra.
Tuy nhiên, một số tai biến xảy ra vợt quá khả năng của các nhà bảo
hiểm và hoạt động bảo hiểm đòi hỏi phải có một số điều kiện về kinh tế và tài
chính (giá bảo đảm xác định các rủi ro, khả năng tài chính của tổ chức có
trách nhiệm thanh toán tổn thất).
Do đó, Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó một bên là ngời đợc bảo
hiểm cam đoan trả một khoản tiền, đó là phí bảo hiểm cho mình hoặc cho một
ngời thứ 3. Trong trờng hợp xảy ra rủi ro, sẽ nhận đợc một khoản tiền bồi th-
ờng của bên khác, đó là nhà bảo hiểm. Ngời này nhận trách nhiệm đối với
toàn bộ rủi ro và bồi thờng thiệt hại dựa trên các luật thống kê và tính toán xác
suất rủi ro. Nhng quan niệm này chỉ nhấn mạnh phần bồi thờng cho ngời đợc
bảo hiểm, chỉ tính đến phí thuần mà không tính đến chi phí về mặt quản lý của
nhà bảo hiểm và chỉ hợp với bảo hiểm t nhân.
Nh vậy các quan niệm trên đây cha phản ánh đầy đủ nội dung kinh tế
bên trong của phạm trù tài chính. Trên cơ sở các quan niệm khác nhau về bảo
hiểm đã nêu ở trên và thực tiễn bảo hiểm cũng nh những công trình nghiên
cứu khoa học, theo chúng tôi khái niệm phản ánh đầy đủ nhất phạm trù bảo
hiểm chính là khái niệm trong Giáo trình Tài chính học của Trờng Đại học Tài
chính Hà Nội. Đợc phát biểu nh sau: Bảo hiểm là một biện pháp kinh tế
nhằm tạo lập nguồn tài chính cho mục đích bù đắp tổn thất vật chất và trả tiền
bảo hiểm cho ngời tham gia bảo hiểm khi gặp rủi ro bất ngờ. Nguồn tài chính
để tạo lập quĩ là do ngời tham gia bảo hiểm đóng góp dới hình thức phí bảo
hiểm. Mục đích sử dụng quỹ bảo hiểm trớc hết là để bù đắp, bồi thờng những
tổn thất cho các đối tợng bảo hiểm khi xảy ra rủi ro bất ngờ đối với ngời tham
gia bảo hiểm. Điều kiện bổi thờng của bảo hiểm là phải có tổn thất thực tế xảy
ra trong phạm vi bảo hiểm và do những nguyên nhân khách quan ngẫu nhiên,

liên tục và góp phần đảm bảo ổn định cho cuộc sống của mọi thành viên trong
xã hội, khắc phục khó khăn do hậu quả rủi ro xảy ra, ngời tham gia bảo hiểm
đều có trách nhiệm đóng góp phí bảo hiểm. Nói một cách khác là hai loại hình
bảo hiểm có cùng phơng thức hình thành và sử dụng quỹ. Song chúng có
những điểm khác nhau, nh về đối tợng phục vụ, nguồn trích lập quỹ, tính chất
lợi nhuận (đối với BHXH hoạt động không mang tính chất kinh doanh thu lợi
nhuận nh BHTM ). Phạm vi hoạt động của BHTM thờng rộng hơn không chỉ
dừng lại ở biên giới một quốc gia dới hình thức tái bảo hiểm, BHTM có nhiều
hình thức đa dạng và phong phú.
Nên để phân biệt các hình thức bảo hiểm, có thể dựa vào nhiều tiêu thức
khác nhau để phân loại.
Dựa vào đối tợng của bảo hiểm thì bảo hiểm đợc chia thành bảo hiểm
tài sản, bảo hiểm con ngời và bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Bảo hiểm tài sản: là các nghiệp vụ bảo hiểm, mà đối tợng bảo hiểm là
tài sản vật chất, ví dụ: bảo hiểm hàng hoá, bảo hiểm các phơng tiện vận tải đ-
ờng biển, đờng sông, đờng bộ, và đờng không
Đặc điểm của bảo hiểm tài sản là ngời ta dễ dàng tính đợc giá trị bảo
hiểm. Khi bồi thờng, ngời bảo hiểm căn cứ vào trị giá của tài sản bồi thờng
một phần hay toàn bộ trị giá tài sản. Bảo hiểm này là quan hệ kinh tế phát sinh
trong quá trình phân phối, phí bảo hiểm loại này đợc hạch toán vào giá thành
nh những chi phí sản xuất.
Bảo hiểm con ngời: còn gọi là bảo hiểm thân thể. Bảo hiểm con ngời là
các nghiệp vụ bảo hiểm mà đối tợng bảo hiểm là sinh mạng, sức khoẻ và khả
năng lao động của con ngời. Căn cứ vào tính chất khác nhau của việc trả tiên
bảo hiểm đối với bảo hiểm con ngời có thể chia thành bảo hiểm nhân thọ và
bảo hiểm tai nạn con ngời. Bảo hiểm nhân thọ thì việc trả tiền cho ngời tham
gia bảo hiểm nhất thiết diễn ra, còn đối với bảo hiểm tai nạn con ngời thì chỉ
trả tiền cho ngời tham gia bảo hiểm khi bị thiệt hại. Loại bảo hiểm này là quan
hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân.
BHTNDS: là các nghiệp vụ bảo hiểm mà đối tợng bảo hiểm là nghĩa vụ

hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm đầu t, bảo hiểm khách du lịch, bảo
hiểm thăm dò và khai thác dầu khí
Ngoài ra nếu dựa vào các chỉ tiêu khác. Có:
Bảo hiểm hàng hải
Bảo hiểm phi hàng hải
Bảo hiểm nhân thọ
Bảo hiểm phi nhân thọ
Trong phạm vi nghiên cứu của khoá luận này tác giả chỉ tập trung đi sâu
nghiên cứu nghiệp vụ BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý, hàng
hoá và t trang của hành khách. Vì BHTNDS của hãng hàng không đối với
hành lý, hàng hoá và t trang của hành khách là một bộ phận không thể tách rời
nghiệp vụ BHHK nói chung và BHTNDS tại TCTHKVN nói riêng.
I.1.3. Đặc điểm của BHTNDS:
Trớc hết hãy tìm hiểu về BHHK vì trong các loại hình bảo hiểm thì
BHHK là loại hình bảo hiểm tơng đối phức tạp. Lịch sử của BHHK hình thành
cùng với sự phát triển của HKDD. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II, công
nghiệp hàng không và ngành vận chuyển HKDD phát triển cực kỳ nhanh
chóng, từ loại máy bay hai động cơ, sức chở không qúa 20 hành khách, đã đợc
thay thế bằng loại máy bay 4 động cơ rồi máy bay phản lực và ngày nay xuất
hiện loại máy bay phản lực khổng lồ, bay với vận tốc siêu âm, khả năng
chuyên chở lớn và đặc biệt là giá trị máy bay cao tới hàng trăm triệu đô la Mỹ.
Tình hình giá cả máy bay tăng lên không ngừng biểu hiện số lợng vốn rất lớn
mà các hãng sản xuất máy bay, các nhà điều hành bay và các tổ chức tài chính
đang đầu t vào lĩnh vực công nghiệp hàng không và vận chuyển HKDD.
Thực tế giá trị các máy bay thờng rất lớn (nhất là đối với loại máy bay
thân rộng) đã buộc thị trờng BHHK thế giới nâng giới hạn trách nhiệm của
mình lên một cách đáng kể. Do vậy, nhu cầu bảo hiểm trong ngành vận
chuyển ngành HKDD ngày càng tăng, chỉ cần một vụ tai nạn máy bay xảy ra
cũng đủ làm một hãng hàng không bên bờ vực thẳm của phá sản nếu không đ-
ợc bảo hiểm. Ví dụ: ngày 03/09/1997 máy bay TU-134/VNA120 của HKVN

hình bảo hiểm khác?
Thứ nhất: đối tợng của nghiệp vụ BHTNDS của hãng hàng không
mang tính trừu tợng. Giống nh các loại hình BHTNDS khác, đối tợng bảo
hiểm ở đây là phần trách nhiệm dân sự - trách nhiệm bồi thờng của hãng vận
chuyển đối với những thiệt về hành khách, hành lý, hàng hoá và t trang của
hành khách Do vậy mà đối tợng ở đây mang tính trừu tợng tức là không cảm
nhận bằng giác quan đợc và cha xuất hiện khi ký kết hợp đồng bảo hiểm. ở
trong các hợp đồng bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con ngời chúng ta dễ dàng xác
định đợc đối tợng bảo hiểm là các tài sản nh nhà cửa, máy bay, ô tô, xe
máy, hay tính mạng sức khoẻ của ngời đợc bảo hiểm. Đối tợng bảo hiểm
trong nghiệp vụ BHTNDS này chỉ biểu hiện cụ thể và có thể tính toán đợc
thiệt hại khi sự cố xảy ra làm phát sinh nghĩa vụ bồi thờng. Do vậy, trách
nhiệm của ngời bảo hiểm trong loại hình này cũng có thể là rất lớn lên tới
hàng tỉ USD cho một vụ tổn thất.
Thứ hai: phơng thức bảo hiểm có giới hạn (Limited) và không giới
hạn( Unlimited) .
*Bảo hiểm có giới hạn:
Chúng ta biết rằng các rủi ro về hàng không luôn gây ra giá trị tổn thất to
lớn, tơng ứng với trách nhiệm ngời vận chuyển cũng rất nhiều. Do vậy, mà
việc lựa chọn phơng pháp bảo hiểm nh là một biện pháp chuyển giao rủi ro
hữu hiệu nhất. Nh vậy thì nhà bảo hiểm lại phải tìm cách giới hạn trách
nhiệm của mình tức là ấn định một số tiền trớc trong hợp đồng bảo hiểm. Số
tiền bảo hiểm này đợc ấn định trên cơ sở công ty bảo hiểm đề nghị và đợc
hãng vận chuyển thoả thuận chấp nhận. Số tiền bảo hiểm này đợc xem là
hạn mức trách nhiệm - mức bồi thờng tối đa của công ty bảo hiểm cho hãng
vận chuyển. Việc giới hạn trách nhiệm đem lại u điểm cho công ty bảo
hiểm có khả năng chủ động hơn trong việc dự phòng các tình huống phát
sinh trách nhiệm do họ có thể đánh giá đợc mức độ tổn thất tối đa của hợp
đồng. Hơn nữa, việc tham gia theo loại hình này giúp hãng vận chuyển
giảm đợc phí bảo hiểm cũng tức là giảm đợc chi phí và giảm đợc giá vé (vì

không lệ thuộc bất cứ giới hạn trách nhiệm nào đối với hành khách.
I.2. Những rủi ro th ờng gặp phát sinh TNDS của hãng hàng không :
Bảo hiểm trong lĩnh vực hàng không càng trở nên có ý nghĩa thiết thực hơn
khi hàng không là một hoạt động chứa đựng rất nhiều rủi ro tiềm ẩn. Rủi ro
luôn luôn thờng trực bên cạnh chúng ta, thiên biến vạn hoá dới mọi hình thức,
ở bất cứ thời gian, không gian nào và với qui mô không thể lờng trớc đợc. Có
rất nhiều quan niệm về rủi ro, nhìn chung dù ghi nhận rủi ro dới góc độ nào
thì quan niệm về rủi ro đều đề cập tới hai khía cạnh:
- Sự không chắc chắn, yếu tố bất trắc
- Một khả năng xấu, một biến cố không mong đợi.
Nh vậy: Rủi ro đợc hiểu là thuật ngữ dùng để chỉ khả năng xảy ra biến cố bất
thờng với hậu quả thiệt hại hoặc mang lại kết quả không nh dự tính.
Sự nguy hại của rủi ro đòi hỏi một quy trình xử lý đồng bộ, từ việc xây dựng hệ thống tín hiệu khuyến cáo rủi ro, lựa chọn những giải
pháp thích hợp. Công tác xử lý rủi ro có ý nghĩa to lớn tới sự an toàn của các cá nhân, các ngành và toàn xã hội.
Ngành hàng không là một ngành rất hiện đại, luôn luôn áp dụng thành tựu
và công nghệ mới nhất của con ngời. Tuy nhiên, với tốc độ phát triển nh vũ
bão của KH - KT hiện nay cũng không thể loại trừ hoàn toàn mọi rủi ro.
Ngành hàng không luôn phải đối mặt với nhiều loại rủi ro nghiệm trọng.
Chẳng hạn nh năm 1996 là năm bất thờng của ngành hàng không xảy ra tới
25 vụ tổn thất toàn bộ, làm 1.597 ngời và đội bay tử vong, số ngời thứ 3 bị
thiệt mạng trên mặt đất là 347 ngời và tổng số tổn thất lên tới gần 2 tỷ USD.
Nh vậy, rủi ro ngành hàng không tác động đến nhiều đối tợng khác nhau.
Nhìn chung có thể xếp vào các nhóm sau:
I.2.1. Rủi ro tác động đến tài sản: Đây là loại rủi ro có đối tợng tác
động là tài sản. Đối với ngành hàng không loại rủi ro này rất nguy hiểm bởi lẽ
để tiến hành hoạt động của mình, các hãng hàng không phải đầu t lợng vốn
không lồ. Một chiếc máy Boeing 747 với tốc độ kinh tế nhất 600 dặm/giờ với
sức chở trên 400 hành khách, trị giá hàng trăm triệu USD. Ngoài ra, các hãng
hàng không còn phải đầu t cơ sở vật chất nh đờng băng, sân đỗ, nhà ga, nhà
kho, hệ thống cung cấp nhiên liệu ngay cả hãng nhỏ nh HKVN cũng phải

máy móc trên máy bay
- Tai nạn của hành khách trong quá trình lên, xuống máy bay
- Tai nạn con ngời khác do sự cố máy bay, hỏng hóc kỹ thuật
I.2.3. Rủi ro phát sinh trách nhiệm dân sự (pháp lý) bồi th ờng của
hãng hàng không:
Khi những rủi ro này xảy ra sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thờng của
hãng hàng không đối với những thiệt hại về ngời, tài sản. Hãng hàng không
phải có trách nhiệm bồi thờng trách nhiệm trong trờng hợp:
- Hành khách bị chết hoặc bị thơng tích về thân thể trong quá trình hoạt
động của máy bay
- Mất mát, h hỏng, thiếu hụt của hành lý, hàng hoá trong quá trình vận
chuyển bằng đờng hàng không.
1: Do thời tiết (18%)
2: Do sơ suất của con ngời (21%)
3: Do trục trặc kỹ thuật (59%)
4: Do rủi ro bất ngờ (2%)
- Thiệt hại về tính mạng sức khoẻ, thơng tích tài sản của ngời thứ 3 ở
mặt đất do máy trực tiếp gây ra.
- Thiệt hại do máy bay va chạm hoặc gây cản trở cho nhau
Giải quyết hậu quả của những rủi ro này là trách nhiệm của mọi hãng
hàng không. Trách nhiệm này bị điều chỉnh bởi các nguồn luật của từng quốc
gia, đồng thời cũng đợc các công ớc quốc tế qui định. Mức trách nhiệm của
các hãng hàng không có thể đợc giới hạn hoặc không giới hạn. Xu hớng chung
là giới hạn trách nhiệm ngày càng đợc nâng cao hơn, có trờng hợp lên tới trên
1 tỷ USD cho mỗi vụ tổn thất. Nh vậy, loại rủi ro này phát sinh là trách nhiệm
nặng nề của các hãng hàng không và xử lý rủi ro này nh thế nào ảnh hởng rất
nhiều đến uy tín của họ.
I.3: Vai trò và tính tất yếu của BHHK
Cùng với xu hớng toàn cầu hoá, thị trờng vận chuyển hàng không đã
phát triển ngày càng sôi động. Nếu nh vào năm 1945 lợng vận chuyển hàng

thiệt hại rất lớn có thể đủ làm cho hãng hàng không đi đến phá sản nếu không
đợc bảo hiểm (ví dụ: Vụ tai nạn 2 máy bay đâm nhau tại đảo Tertarist năm
1977 đã làm 538 ngời bị chết, thiệt hại tài sản khoảng 300 triệu USD và con
số bồi thờng chiếm khoảng từ 10 - 20% tổng số phí BHHK trên toàn thế giới).
Nên đây cũng là lý do giải thích vì sao ngành bảo hiểm có những đặc điểm
hoạt động phân tán rủi ro và nguyên tắc số đông bù số ít, giờ đây đợc xem là
một ngành không thể thiếu đợc trong chuỗi mắt xích hoạt động của xã hội.
Tham gia bảo hiểm sẽ giúp hãng vận chuyển vợt qua những khó khăn về tài
chính sau tai nạn, sự cố hàng không trở lại hoạt động kinh doanh bình thờng.
Vì khi có tổn thất xảy ra, công ty bảo hiểm thay mặt chủ phơng tiện giải quyết
bồi thờng cho ngời bị thiệt hại, hãng hàng không không phải điều chỉnh giá c-
ớc vận chuyển hàng hoá, giá vé của hành khách tăng lên khi có thiệt hại xảy
ra do hãng hàng không đã tính phí bảo hiểm vào giá thành vận chuyển từ đầu
năm.
* Thứ ba: Góp phần thực hiện tốt công tác ĐP & HCTT của hãng hàng không.
Công tác ĐP & HCTT thực sự có ý nghĩa to lớn đối với công ty bảo
hiểm lẫn hãng vận chuyển. Nó thể hiện quyền lợi lẫn trách nhiệm của mỗi
bên. Bởi vì thực hiện công tác ĐP & HCTT nhằm loại trừ những nguy cơ rủi ro
hay giảm thiểu tổn thất khi có sự cố xảy ra sẽ giúp cho công ty bảo hiểm giảm
bớt đợc chi phí bồi thờng và tăng lợi nhuận kinh doanh. Còn hãng vận chuyển
sẽ tránh đợc những tổn thất phát sinh trong hay sau sự cố xảy ra nh là việc
thiệt hại do gián tiếp kinh doanh. Lợi ích của công tác này là rất lớn, do vậy
ngoài chức năng chính là bồi thờng, hàng năm công ty bảo hiểm trích một
phần quỹ bảo hiểm (theo tỉ lệ qui định) để phối hợp với các cơ quan hữu quan
nh: Cảnh sát PCCC, chủ phơng tiện (ngời tham gia bảo hiểm) tiến hành kiểm
tra giám sát các quy định về an toàn bay, xây dựng kho chứa hàng, lắp đặt hệ
thống camera theo dõi chống moi móc hàng hoá, hành lý, hỗ trợ các công
trình nghiên cứu nhằm cải tiến, hợp lý hoá các khâu vận chuyển đảm bảo an
toàn tính mạng và tài sản của hành khách, bảo vệ tài sản của các đơn vị tham
gia bảo hiểm.

đời, tồn tại và phát triển là một tất yếu khách quan. BHHK không chỉ có ý
nghĩa đối với các hãng hàng không mà còn có ý nghĩa đối với rất nhiều ngời.
Có thể nói sự tồn tại và phát triển của hoạt động BHHK làm giảm đáng kể
nguy cơ phá sản, một căn bệnh lây truyền nguy hiểm vốn có của nền kinh tế
thị trờng.
II. các loại hình bhtnds của hãng hàng không:
BHHK là một loại hình bảo hiểm khá phức tạp, liên quan đến nhiều loại rủi
ro và phạm vi trách nhiệm khác nhau. Riêng đối với BHTNDS mà HKVN
hiện này tham gia chủ yếu gồm những loại BHTNDS sau:
II.1: BHTNDS của hãng hàng không đối với hành khách:
Hành khách ở đây đợc hiểu là bất kỳ ngời nào, ngoại trừ tổ bay, đợc vận
chuyển hoặc sẽ đợc vận chuyển trên tàu bay với sự đồng ý của ngời vận
chuyển. Đây là loại hình bảo hiểm trách nhiệm theo luật định (luật quốc tế
hoặc luật quốc gia). Theo đó công ty bảo hiểm sẽ bồi thờng những khoản
tiền mà các hãng hàng không (theo luật áp dụng) do gây thơng vong cho
hành khách khi họ đang lên, xuống máy bay, hoặc trong quá trình bay. Đối
với loại bảo hiểm này, trách nhiệm của công ty bảo hiểm không vợt quá giới
hạn trách nhiệm bảo hiểm qui định trong giấy chứng nhận bảo hiểm.
Loại hợp đồng bảo hiểm này không áp dụng đối với nhân viên tổ bay khi họ
đang đi trên máy bay với t cách phục vụ chứ không phải là hành khách và
cũng không áp dụng đối với thiệt hại về ngời và tài sản liên quan đến ngời
thứ 3.
II.2. BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý, hàng hoá và t
trang của hành khách:
Trớc hết chúng ta nghiên cứu một số khái niệm có liên quan:
* Hành lý: đợc hiểu là những vật phẩm, đồ dùng và t trang của hàng
khách đợc xem là cần thiết hoặc thích hợp cho việc mang, sử dụng, cho sự
thoải mái hoặc tiện lợi trong chuyến đi. Trừ khi đợc xác định khác đi, hành lý
bao gồm cả hành lý ký gửi và hành lý xách tay của hành khách.
* Hành lý ký gửi: hành lý ký gửi là hành lý mà ngời vận chuyển chịu

định nghĩa của The Air Cargo Tariff Rules - TACT - April 1999 issue 48 của
IATA).
* Vận đơn hàng không: là chứng từ dành cho việc vận chuyển hàng
hoá. Tất cả hàng hoá đợc vận chuyển, tất cả những kiện hàng nào đợc để trên
máy bay dù đợc trả cớc hay không trả cớc đều phải có vận đơn hàng không
kèm theo.
* T trang của hành khách: là những vật dụng mà hành khách mang
theo lên khoang hành khách và đợc hành khách tự bảo quản cùng với hành lý
xách tay ví dụ nh tiền, vàng, giấy tờ tuỳ thân
Cũng giống nh BHTNDS của hãng hàng không đối với hành khách. Đây
là loại BHTNDS theo luật định (luật quốc tế hoặc luật quốc gia). Công ty bảo
hiểm sẽ bồi thờng những khoản tiền mà các hãng hàng không (theo luật áp
dụng) do gây thiệt hại đối với hành lý, hàng hoá và t trang của hành khách
nhận chuyên chở. Đối với loại bảo hiểm này trách nhiệm của công ty bảo
hiểm không vợt quá giới hạn trách nhiệm bảo hiểm qui định trong giấy chứng
nhận bảo hiểm. Loại hợp đồng này không áp dụng với nhân viên tổ bay khi họ
đang đi trên máy bay với t cách phục vụ chứ không phải là hành khách và
cũng không áp dụng đối với thiệt hại (về ngời và tài sản) liên quan đến ngời
thứ 3.
II.3: BHTNDS của hãng hàng không đối với ng ời thứ 3:
Tơng tự nh BHTNDS của hãng hàng không đối với hành khách, hành lý,
hàng hoá và t trang của hành khách, ngời đợc bảo hiểm là hãng hàng không,
tuy nhiên ngời đợc bồi thờng trong loại hình bảo hiểm này lại là ngời thứ 3 ở
trên mặt đất, ngời chịu những thiệt hại về sinh mạng và tài sản do máy bay
hay bất kỳ vật gì từ máy bay rơi vào. Là loại BHTNDS theo luật định. Công ty
bảo hiểm sẽ bồi thờng thiệt hại (về ngời và tài sản) mà ngời đợc bảo hiểm có
trách nhiệm phải bồi thờng do máy bay hay bất kỳ ngời nào, vật thể nào từ
trên máy bay rơi xuống gây thiệt hại cho ngời thứ 3 trên mặt đất. Trách nhiệm
này cũng bao gồm cả thiệt hại đối với máy bay và hành khách trên máy bay
đó đang bay trên không là đối tợng bị thiệt hại của các vụ va chạm trên không.

giữa chủ hãng với hành khách và chủ hàng. Thờng là trên vé máy bay, hay
trong vận đơn hãng hàng không thờng in làm theo phần ghi rõ giới hạn trách
nhiệm bồi thờng của chủ hãng trong trờng hợp phát sinh trách nhiệm bồi th-
ờng của chủ hãng đối với hành lý, hàng hoá và t trang.
III.2: Đối t ợng bảo hiểm:
Trong hợp đồng BHTNDS đối với hành lý, hàng hoá và t trang thì việc
ký kết hợp đồng giữa công ty bảo hiểm và hãng vận chuyển đã xác định đối t-
ợng bảo hiểm là phần trách nhiệm pháp lý của hãng vận chuyển đối với những
thiệt hại liên quan đến hành lý, hàng hoá và t trang của hành khách. Đây là
phần trách nhiệm trong hợp đồng đợc xác định dựa trên sự thoả thuận của
hãng vận chuyển và hành khách trên tấm vé hoặc vận đơn hàng không (Air
Waybill). Đối tợng bảo hiểm ở đây cũng khá trừu tợng, tuy nhiên khách hàng
hay chủ hàng hoá có thể xác định đợc hạn mức trách nhiệm bồi thờng khi có
tổn thất xảy ra. Điều này tạo ra một tâm lý tích cực cho hành khách và chủ
hàng hoá khi sử dụng hoạt động vận tải hàng không.
III.3: Ph ơng thức bảo hiểm: Do tính chất, đặc điểm của hoạt động
HKDD là số vụ tổn thất xảy ra ít nhng giá trị các vụ tổn thất thờng rất lớn.
Chính vì vậy, khác với các loại hình bảo hiểm khác, nghiệp vụ BHTNDS đối
với hành lý, hàng hoá và t trang của hành khách phải đợc tiến hành theo phơng
thức bắt buộc. Điều này có nghĩa là tất cả các hãng hàng không trên thế giới
đều phải tham gia BHTNDS đối với hành lý, hàng hoá và t trang của hành
khách, tuỳ theo nhu cầu và khả năng tài chính của mình mà tham gia với hạn
mức trách nhiệm là bao nhiêu. Tham gia loại hình bảo hiểm này chính là để
nhằm bảo vệ quyền lợi cho các nạn nhân (hành khách và chủ hàng hoá), góp
phần tạo nên một trật tự công bằng xã hội. Và do vậy mà công ty bảo hiểm
phải có trách nhiệm cung cấp loại hình bảo hiểm trách nhiệm đối với hành lý,
hàng hoá và t trang của hành khách và các nghiệp vụ BHHK khác, cùng chịu
trách nhiệm bồi thờng thiệt hại đối với hành lý, hàng hoá và t trang của hành
khách dựa trên mức độ thiệt hại và giới hạn trách nhiệm. Chủ hãng vận
chuyển phải có nghĩa vụ mua BHTNDS cho mình. Cơ quan chức năng Nhà n-

hãng đối với việc bảo vệ sự an toàn đối với hành khách, hành lý, hàng hoá và
t trang của hành khách.
III.4: Phạm vi bảo hiểm và loại trừ bảo hiểm: BHTNDS đối với hành
lý, hàng hoá và t trang của hành khách là loại hình bảo hiểm những rủi ro
thuộc về trách nhiệm của chủ hãng vận chuyển. Thông thờng, đối với mỗi vụ
tổn thất thì khi có trách nhiệm bồi thờng của chủ hãng vận chuyển thì trách

Trích đoạn Về phía TCTHKVN Về phía công ty bảo hiểm Về phía ngời thứ 3
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status