BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
ĐẶNG HOÀI AN
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN SỨC BỀN TỐC ĐỘ CHO
NAM VẬN ĐỘNG VIÊN CHẠY CỰ LY NGẮN (100 - 200m)
Ở GIAI ĐOẠN CHUYÊN MÔN HOÁ BAN ĐẦU
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
ĐẶNG HOÀI ANNGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN SỨC BỀN TỐC ĐỘ CHO
NAM VẬN ĐỘNG VIÊN CHẠY CỰ LY NGẮN (100 - 200m)
Ở GIAI ĐOẠN CHUYÊN MÔN HOÁ BAN ĐẦU
Chuyên ngành: Huấn luyện thể thao
Mã số: 62.14.01.04
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS.TS NGUYỄN ĐẠI DƯƠNG
2. PGS.TS VŨ CHUNG THỦY
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả trình bày
trong luận án là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào.
Tác giả luận án
Đặng Hoài An
2.1.2. Khách thể nghiên cứu 42
2.2. Phương pháp nghiên cứu 42
2.2.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 42
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn toạ đàm 43
2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm 43
2.2.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm 44
2.2.5. Phương pháp kiểm tra y sinh 49
2.2.6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm 53
2.2.7. Phương pháp toán học thống kê 54
2.3. Tổ chức nghiên cứu 56
2.3.1. Thời gian nghiên cứu 56
2.3.2. Địa điểm nghiên cứu 57
Chương 3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận 58
3.1. Thực trạng sức bền tốc độ của nam VĐV chạy ngắn giai đoạn
chuyên môn hoá ban đầu 58
3.1.1. Lựa chọn test đánh giá sức bền tốc độ cho nam VĐV
chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu 58
3.1.2. Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá SBTĐ cho nam VĐV
chạy cự ly ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu 74
3.1.3. Thực trạng diễn biến SBTĐ của nam VĐV chạy ngắn giai
đoạn chuyên môn hóa ban đầu trong chu kỳ huấn luyện năm 78
3.1.4. Đánh giá thực trạng sức bền tốc độ của nam VĐV chạy
ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu theo tiêu chuẩn
phân loại đã xây dựng 79
3.1.5. Thực trạng sử dụng bài tập trong huấn luyện SBTĐ cho
nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu 80
3.1.6. Thực trạng kế hoạch huấn luyện sức bền tốc độ cho nam
VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu 82
3.1.7. Bàn luận 93
3.2. Nghiên cứu xây dựng nội dung huấn luyện sức bền tốc độ cho
HLTT - Huấn luyện thể thao.
HLV - Huấn luyện viên.
LVĐ - Lượng vận động.
SB - Sức bền.
SBC - Sức bền chung.
SBCM - Sức bền chuyên môn.
TCTL - Tố chất thể lực.
TDTT - Thể dục thể thao.
TĐ - Thi đấu.
TN - Thực nghiệm.
TT - Thứ tự.
VĐV - Vận động viên.
VH,TT&DL - Văn hoá, Thể thao và Du lịch.
XHCN - Xã hội chủ nghĩa.
XPC - Xuất phát cao.
XPT - Xuất phát thấp.
y/c - Yêu cầu.
DANH MỤC ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG TRONG LUẬN ÁN
cm - Centimet.
kg - Kilôgam.
Km - Kilômet
m - Mét.
min - Phút.
s - Giây.
V - Vận tốc.
Vmax - Vận tốc tối đa.
DANH MỤC BIỂU BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ TRONG LUẬN ÁN
Thể
loại
Số Nội dung Trang
Các thông số về chuyển hóa cung cấp năng lượng
khi thực hiện 3/7 test đánh giá (n=8)
73
3.8
Kết quả kiểm tra và so sánh giá trị trung bình của
các test đánh giá sức bền tốc độ của nam VĐV chạy
cự ly ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Sau 75
3.9
Hệ số biến sai và tính đại diện của số trung bình của
các test đánh giá sức bền tốc độ của nam VĐV chạy
cự ly ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Sau 75
3.10
Tiêu chuẩn phân loại các chỉ tiêu đánh giá sức bền
tốc độ của nam VĐV chạy cự ly ngắn giai đoạn
chuyên môn hóa ban đầu
Sau 76
3.11
Bảng tiêu chuẩn qui điểm đánh giá sức bền tốc độ cho
nam VĐV chạy cự ly ngắn giai đoạn chuyên môn hóa
ban đầu
Sau 76
3.12
Bảng điểm tổng hợp đánh giá sức bền tốc độ của
nam VĐV chạy cự ly ngắn giai đoạn chuyên môn
hóa ban đầu
78
3.13
Thực trạng diễn biến sức bền tốc độ của nam VĐV
ban đầu tại trung tâm huấn luyện TDTT Ninh Bình
Sau 80
3.19
Thực trạng sử dụng bài tập huấn luyện sức bền tốc
độ cho nam VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên
môn hóa ban đầu tại Trung tâm đào tạo VĐV
Trường Đại học TDTT Bắc Ninh
Sau 80
3.20
Thực trạng phân chia thời gian trong các giai đoạn
huấn luyện
83
3.21
Thực trạng phân chia nội dung trong các giai đoạn
huấn luyện
84
3.22
Thực trạng sử dụng nội dung huấn luyện thời kỳ
chuẩn bị chung cho VĐV chạy ngắn giai đoạn
chuyên môn hóa ban đầu
87
3.23
Thực trạng sử dụng nội dung huấn luyện thời kỳ
chuẩn bị chuyên môn cho VĐV chạy ngắn giai đoạn
chuyên môn hóa ban đầu
Sau 87
3.24
Thực trạng sử dụng nội dung huấn luyện thời kỳ
tiền thi đấu cho VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên
môn hóa ban đầu
Phân phối thời gian huấn luyện năm thứ hai giai
đoạn CM hóa ban đầu (từ 1/8/2009 - 1/8/2010)
101
3.31
Phân phối thời gian huấn luyện năm thứ ba giai
đoạn CM hóa ban đầu (từ 1/8/2009 - 1/8/2010)
101
3.32
Định hướng tổng khối lượng huấn luyện sức bền tốc
độ giai đoạn chuẩn bị chung
102
3.33
Định hướng nội dung giáo án mẫu trong thời kỳ
chuẩn bị chung
104
3.34
Định hướng tổng khối lượng huấn luyện sức bền tốc
độ trong giai đoạn chuẩn bị chuyên môn
105
3.35
Định hướng nội dung giáo án mẫu trong thời kỳ
chuẩn bị chuyên môn
106
3.36
Định hướng tổng khối lượng huấn luyện sức bền tốc
độ trong giai đoạn tiền thi đấu và thi đấu
Sau 107
3.37
Định hướng nội dung giáo án mẫu trong thời kỳ
chuẩn bị thi đấu và thi đấu
B
= 5)
Sau 115
3.42
Kết quả kiểm tra sau 12 tháng của 2 nhóm đối
chứng và thực nghiệm (n
A
= n
B
= 5)
Sau 115
3.43
Nhịp tăng trưởng của các test đánh giá sức bền tốc
độ của 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng qua các
giai đoạn thực nghiệm
Sau 115
Thể
loại
Số Nội dung Trang
Bảng
3.44
Kết quả so sánh tự đối chiếu ở nhóm thực nghiệm
và đối chứng qua các thời điểm kiểm tra
Sau 115
3.45
So sánh kết quả phân loại sức bền tốc độ của 2
nhóm thực nghiệm và đối chứng theo tiêu chuẩn đã
xây dựng
116
Biểu đồ
3.7
Tỷ lệ sắp xếp các nội dung huấn luyện SBTĐ giai
đoạn chuẩn bị chuyên môn năm thứ 1 của nam
VĐV chạy ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Sau 106
3.8
Tỷ lệ sắp xếp các nội dung huấn luyện sức bền tốc
độ giai đoạn CBCM năm thứ 2 của nam VĐV chạy
ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Sau 106
3.9
Tỷ lệ sắp xếp các nội dung huấn luyện sức bền tốc
độ giai đoạn CBCM năm thứ 3 của nam VĐV chạy
ngắn giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Sau 106
3.10
Diễn biến LVĐ giai đoạn chuẩn bị chuyên môn của
nam VĐV chạy ngắn năm thứ nhất giai đoạn chuyên
môn hóa ban đầu
Sau 106
3.11
Diễn biến LVĐ giai đoạn chuẩn bị chuyên môn của
nam VĐV chạy ngắn năm thứ 2 giai đoạn chuyên
môn hóa ban đầu
Sau 106
Thể
loại
Số Nội dung Trang
Biểu đồ
3.12
ngắn năm thứ 3 giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Sau 107
3.19
Diễn biến kết quả kiểm tra chạy 120m (s) của 2
nhóm qua các giai đoạn thực nghiệm
Sau 115
3.20
Diễn biến kết quả kiểm tra chạy 150m (s) của 2
nhóm qua các giai đoạn thực nghiệm
Sau 115
3.21
Diễn biến kết quả kiểm tra chạy 300m (s) của 2
nhóm qua các giai đoạn thực nghiệm
Sau 115
3.22
Diễn biến kết quả kiểm tra bật 10 bước (m) của 2
nhóm qua các giai đoạn thực nghiệm
Sau 118
3.23
Diễn biến kết quả kiểm tra thời gian 20m cuối cự ly
200 (s) của 2 nhóm qua các giai đoạn thực nghiệm
Sau 118
3.24
Diễn biến kết quả kiểm tra chạy 100m (s) của 2
nhóm qua các giai đoạn thực nghiệm
Sau 118
3.25
Diễn biến kết quả kiểm tra chạy 200m (s) của 2
nhóm qua các giai đoạn thực nghiệm
119
một trong 3 quốc gia có thành tích thể thao đứng đầu khu vực Đông Nam Á,
tiến tới thu hẹp khoảng cách trình độ đối với thể thao châu Á và thế giới.
1
Tăng cường hội nhập quốc tế, tích cực thực hiện chủ trương, đường lối ngoại
giao nhân dân của Đảng và Nhà nước ” [7].
Thực tiễn thành tích thể thao trong môn điền kinh những năm qua đã
vượt ra ngoài dự báo của những nhà chuyên môn. Hàng loạt kỷ lục mới được
thiết lập như ở SEA Games 24 Thái Lan, Điền kinh Việt Nam đã lập được 03
kỷ lục, ở nội dung 800m, 1500m nữ của VĐV Trương Thanh Hằng và 1500m
nam của Nguyễn Đình Cương và trong số 08 HCV mà các VĐV điền kinh
Việt Nam đã dành được phải nhắc đến 02 HCV ở nội dung 100m - 200m của
nữ VĐV Vũ Thị Hương thành tích đạt tầm châu Á. Ngoài ra, tại các cuộc thi
đấu trong nước số VĐV giành chức vô địch ngày càng nhiều và trải rộng trên
nhiều địa phương, khoảng cách giữa thắng, thua chỉ chênh lệch rất nhỏ. Tuy
nhiên, thành tích của các VĐV nam ở chạy cự ly ngắn lại chưa có huy
chương. Thực tiễn đó đã thúc đẩy hoạt động khoa học tìm tòi những phương
pháp huấn luyện mới, những nhân tố mới nhằm nâng cao thành tích thể thao.
Việc đưa những công nghệ tiên tiến hiện đại, những phương pháp mới vào
quá trình huấn luyện đã tạo tiền đề trong việc thúc đẩy phát triển thể thao
thành tích cao.
Trong đào tạo VĐV, thành tích thể thao là kết quả tổng hòa của nhiều
yếu tố như: Đặc điểm sinh lý, tâm lý - ý chí, trình độ kỹ - chiến thuật và thể
lực. Trong đó yếu tố thể lực vừa là cơ sở, đồng thời có ý nghĩa quyết định tới
thành tích ở nhiều môn thể thao, trong đó có môn điền kinh.
Theo tài liệu biên dịch của tác giả Nguyễn Quang Hưng và Nguyễn Đại
Dương thì khi giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn huấn luyện
chuyên môn hóa ban đầu là HLV dần dần tiến hành việc lựa chọn tiếp tục để
chuyên môn hóa trong chạy cự ly ngắn. Tiêu chuẩn chủ yếu để chuyên môn
hóa chạy ngắn là thành tích mà VĐV trẻ thể hiện trong các cuộc thi đấu [14].
Xem xét thành tích của VĐV chạy cự ly ngắn Việt Nam thấy:
hiện tại các nước có nền thể thao tiên tiến, việc chuẩn hoá tất cả các mặt, các
khâu trong huấn luyện đã trở thành phổ biến và được thống nhất trên phạm vi
toàn quốc. Đặc biệt đối với các môn thể thao cá nhân, mà trong đó thành tích
thi đấu phụ thuộc chủ yếu vào chính bản thân VĐV [48].
Nghiên cứu về vấn đề này đã có nhiều tác giả trên thế giới đề cập tới
như: Bôbốp, Philine, Bulgakôva Ở Việt Nam, đào tạo và huấn luyện VĐV
chạy cự ly ngắn luôn là ưu tiên của các đội tuyển điền kinh ở các trung tâm
đào tạo VĐV địa phương và Quốc gia. Vì vậy, VĐV được tổ chức huấn luyện
liên tục theo các tuyến và đảm bảo tính kế thừa giữa các lứa tuổi. Tuy nhiên,
nguồn tài liệu tham khảo chuyên môn về cự ly chạy ngắn rất hạn chế, chủ yếu
là tài liệu biên dịch. Công trình nghiên cứu về cự ly chạy ngắn cũng chưa
tương xứng với yêu cầu thực tế huấn luyện, chủ yếu tập trung vào một số tác
giả: Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Đại Dương, Đàm Quốc Chính, Đàm Trung
Kiên Tuy vậy, trong các công trình nghiên cứu đã hoàn thành thì chưa có
tác giả nào đề cập đến việc huấn luyện sức bền - sức bền tốc độ cho nam
VĐV chạy ngắn ở giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu. Vì vậy, việc nghiên
cứu và hệ thống hóa các nội dung phát triển sức bền - sức bền tốc độ cho
VĐV một cách khoa học, đúng đắn sẽ góp phần nâng cao thành tích thể thao,
tiết kiệm được kinh phí, thời gian, nhân lực và phát triển nhân tài. Đồng thời,
hiệu quả của công tác huấn luyện được nâng cao sẽ trở thành động lực thúc
đẩy tính tự giác tích cực, lòng say mê luyện tập của VĐV.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài:
“Nghiên cứu phát triển sức bền tốc độ cho nam vận động viên chạy cự ly
ngắn (100 - 200m) ở giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu”
4
Mục đích nghiên cứu:
Xây dựng nội dung huấn luyện cho nam VĐV chạy ngắn (cự ly 100m,
200m) lứa tuổi 13 - 15 ở giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu để đưa vào ứng
dụng nhằm phát triển sức bền tốc, góp phần nâng cao thể lực và hiệu quả công
tác huấn luyện nam VĐV chạy cự ly ngắn của Việt Nam.
Trong đó, giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ chia thành hai giai đoạn nhỏ là huấn
luyện ban đầu và chuyên môn hoá [12].
Tác giả Nabatnhicova, Philin cho rằng quá trình đào tạo VĐV trẻ gồm
bốn giai đoạn: (1) Huấn luyện ban đầu; (2) Chuyên môn hoá (từ 9 - 10 tuổi);
(3) Chuyên sâu môn thể thao lựa chọn (từ 11 - 15 tuổi); (4) Hoàn thiện thể
thao (16 tuổi trở lên) [24], [26].
Quan điểm của các tác giả Novicôp, Matveep lại chia quá trình huấn
luyện thể thao nhiều năm thành bốn giai đoạn lớn: (1) Giai đoạn chuẩn bị thể
thao sơ bộ; (2) Giai đoạn chuyên môn hoá thể thao bước đầu; (3) Giai đoạn
hoàn thiện sâu; (4) Giai đoạn “tuổi thọ thể thao”. Trong đó, mục tiêu của giai
đoạn chuyên môn hoá bước đầu là tạo nền tảng đầy đủ và có chất lượng cho
những thành tích tương lai [25].
Theo Aulic, Geran Pett, Vovk có một số điểm tương đồng khi cho rằng:
Đánh giá quá trình huấn luyện đi liền với đánh giá trình độ thể lực để xác định
năng lực tiềm tàng của VĐV nhằm đạt được những thành tích nhất định trong
môn thể thao lựa chọn. Năng lực này được biểu hiện cụ thể mức chuẩn bị về
kỹ thuật, chiến thuật, thể lực, đạo đức - ý chí và trí tuệ. Giữa trình độ thể lực
6
và trình độ tập luyện có mối liên quan đến nhau, nó phụ thuộc vào yêu cầu
vận động chuyên môn của môn thể thao sở trường [1], [13], [45].
Tác giả Tạ Văn Vinh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Văn Trọng chia
quá trình huấn luyện VĐV trẻ thành 4 giai đoạn: (1) Huấn luyện sơ bộ; (2)
Huấn luyện ban đầu; (3) Huấn luyện chuyên môn hoá; (4) Hoàn thiện thể
thao. Huấn luyện ban đầu còn được gọi là giai đoạn dự bị năng khiếu [42].
Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn chia quá trình huấn luyện nhiều năm
làm 3 giai đoạn chính: (1) Giai đoạn đào tạo ban đầu; (2) Giai đoạn thực hiện
tối đa khả năng thể thao; (3) Giai đoạn duy trì thành tích thể thao [35].
Dưới quan điểm tuyển chọn tài năng thể thao, theo tác giả Nguyễn
Ngọc Cừ, Bùi Quang Hải, Nguyễn Kim Xuân, Vũ Chung Thủy, Nguyễn Danh
Hoàng Việt thì giai đoạn chuyên môn hóa khoảng 4 – 6 năm. Giai đoạn này
ban đầu là phù hợp với cơ sở lý luận và đặc thù chuyên môn chạy cự ly ngắn.
Đồng thời lứa tuổi 13 – 15 là giai đoạn cuối của giai đoạn chuyên môn hóa
ban đầu và chuẩn bị chuyển tiếp sang giai đoạn chuyên môn hóa sâu. Vì vậy,
việc đòi hỏi trình độ tập luyện của VĐV nói chung và sức bền tốc độ nói
riêng cần phải đáp ứng được nhiệm vụ, chỉ tiêu đặt ra.
1.2. Đặc điểm huấn luyện VĐV trẻ giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu
Theo các tác giả Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn, Lê Văn Lẫm thì giai
đoạn chuyên môn hoá ban đầu là giai đoạn chuyên môn hoá cơ sở. Ở giai
đoạn chuyên môn hoá thể thao ban đầu cần tận dụng thời kỳ phát triển "nhạy
cảm" theo lứa tuổi của cơ thể, tránh chuyên môn hoá quá hẹp, sớm. Đặc điểm
LVĐ trong những năm đầu là nâng dần khối lượng (dao động hàng năm
khoảng 30 – 200%). Cường độ cũng tăng, song ít hơn nhiều so với khối lượng
[20], [35].
8
Theo tác giả Matvêep, đặc điểm chuyên biệt của quá trình tập luyện ở
giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu là: Hiệu quả cao của các lượng vận động
được thể hiện ở chỗ lượng vận động tăng trưởng ít song mức tăng thành tích
tương đối lớn; tính đều đặn tương đối của nhịp độ tăng hàng năm về khối
lượng của lượng vận động tập luyện và mức tăng trưởng thành tích thể thao;
tác động tập luyện ít thể hiện tính đặc thù nhưng hiệu quả của chúng lại có
phạm vi rộng, thể hiện ở khả năng "chuyển" trình độ tập luyện khi sử dụng
những phương tiện huấn luyện khác nhau có biên độ lớn hơn so với các giai
đoạn sau [25].
Theo tác giả Nguyễn Đại Dương và cộng sự thì đặc điểm của giai đoạn
chuyên môn hóa ban đầu trong chạy cự ly ngắn là việc sử dụng rộng rãi các
phương tiện huấn luyện, song có tính toán đến đặc thù của chạy ngắn. Để
huấn luyện tốc độ thì không nên cho VĐV chạy với tốc độ cực đại quá nhiều.
Các bài tập tốc độ cần áp dụng ngay sau phần khởi động. Cần đặc biệt thận
trọng tuân thủ giới hạn cường độ của LVĐ vì cơ thể các em đang phát triển
[10].
dựa trên sự lựa chọn hoặc xây dựng thành hệ thống một cách khoa học và
phản ánh được mục đích, nhiệm vụ đã đặt ra. Nó mang tính quyết định và gắn
liền với hệ thống điều khiển trong huấn luyện VĐV.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thành tích chạy cự ly ngắn
Môn thể thao điền kinh có lịch sử lâu đời và phổ biến rộng rãi trên toàn
thế giới. Phân loại theo nội dung, môn điền kinh bao gồm các nội dung: Đi
bộ, chạy, nhảy, ném đẩy và nhiều môn phối hợp. Chạy cự ly ngắn bao gồm
các cự ly từ 200m đến 400m. Chạy 100m, 200m, 400m, 4×100m và 4×400m
10
là các môn thi trong đại hội thể thao Olympic. Ở Việt Nam, điền kinh là một
trong những môn thể thao cơ bản [10], [82].
Theo tác giả Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Kim Minh: Thành tích thi
đấu của VĐV phụ thuộc vào nhiều yếu tố song cần thiết phải chỉ rõ mức độ
quan trọng của từng yếu tố với năng lực thi đấu. Đồng thời chỉ rõ, vai trò của
tố chất thể lực (tốc độ, sức mạnh tốc độ, sức bền) đối với thành tích thể thao
của VĐV ở các môn thể thao có yêu cầu về thể lực chuyên môn khác nhau
giữ vai trò quyết định [37].
Theo tác giả Bùi Quang Hải, Nguyễn Kim Xuân, Vũ Chung Thủy,
Nguyễn Danh Hoàng Việt đã tổng hợp các test tuyển chọn trong chạy cự ly
ngắn bao gồm: Nhóm hình thái (6 chỉ tiêu và chỉ số); Nhóm chức năng (3 chỉ
số); Nhóm tố chất vận động (7 test). Đồng thời giới thiệu một số chỉ tiêu đặc
trưng trong tuyển chọn VĐV chạy cự ly ngắn: Về các test và tiêu chuẩn mô
hình VĐV chạy cự ly ngắn (7 nội dung); Về tiêu chuẩn đánh giá mức độ phát
triển các tố chất vận động của VĐV chạy cự ly ngắn trẻ (10 bài tập kiểm tra);
Về tiêu chuẩn kiểm tra và tuyển chọn trẻ em vào nội dung chạy ngắn và vượt
rào (5 bài tập kiểm tra). Trong tài liệu cũng chỉ giới thiệu giới hạn tuổi đạt
thành tích thể thao của nam VĐV chạy 100m như sau: Vùng thành tích cao
ban đầu (17 – 21 tuổi); Vùng khả năng tối ưu (22 – 24 tuổi); Vùng duy trì kế
quả cao (25 – 26 tuổi) [17].
Theo tài liệu biên dịch của tác giả Nguyễn Quang Hưng và Nguyễn Đại
Qua đánh giá diễn biến về tốc độ trên các đoạn chạy 20m một của các
VĐV Việt Nam và Thế giới nhận thấy:
12