thực trạng sản xuất và giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm tại công ty cổ phần công nghiệp ô tô – vinacomin - Pdf 23

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Trần Thanh Toàn
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU
Hà Duy Khanh TM13-01
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Trần Thanh Toàn
DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU
HÌNH VẼ
Hà Duy Khanh TM13-01
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Trần Thanh Toàn
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam hội nhập, Việt Nam đang trên đà phát triển, chính vì lẽ đó một sự
cạnh tranh lớn đang thực sự diễn ra giữa các sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp . Theo
su thế tất yếu của xã hội đó là khi kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu về sử dụng
phương tiện vận chuyển bằng đường bộ của nền kinh tế ngày càng lớn vỡ vậy nhu
cầu về phương tiện vận tải bằng ôtô ngày càng phát triển . Đó là cơ hội rất lớn cho
thị trường ô tô phát triển phục vụ cho nhu cầu về phát triển kinh tế xã hội , một sản
phẩm không thể thiếu của phương thức vận tải đường bộ.
Công ty cổ phần công nghiệp – Vinacomin trong những năm qua luôn hoàn
thành tốt chỉ tiêu kinh doanh của tập đoàn công nghiệp than – khoáng sản Viêt Nam.
Số lượng sản phầm sản xuất ra và tiêu thụ ngày càng tăng , lợi nhuận đạt được có xu
hướng ngày càng cao. Nhìn chung hoạt động Marketing của công ty có nhiều ưu
điểm . Tuy nhiên sau một thời gian thực tập tại công ty cổ phần công nghiệp ô tô –
Vinacomin em nhận thấy một số vấn đề Marketing đặc biệt là xúc tiến tiêu thụ sản
phẩm , còn có nhiều đặt ra cần tốt hơn. Do đó em chọn đề tài “Thực trạng sản xuất
và giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm tại công ty cổ phần công
nghiệp ô tô – Vinacomin” để làm luận văn nhằm mục đích :
- Củng cố và phát triển nội dung khoa học về quản trị kinh doanh thương
mại đã được học ở trường , mặt khác qua nghiên cứu thực tiễn tập vận dụng đưa
lý thuyết vào thực tiễn , phân tích đánh giá thực tiễn trong kinh doanh đẻ sau khi
ra trường phát triển nghiệp vụ thương mại .
- Hy vọng đóng góp ý kiển nhỏ của mình vào việc kinh doanh của công ty

Để thực hiện thành công quá trình trao đổi sản phẩm có giá trị với người
khác ta cần hiểu được ở công ty kinh doanh làm marketing không phải chỉ có
các cán bộ phòng marketing mà là toàn bộ lực lượng của công ty tham gia vào
tạo ra sản phẩm có giá trị đối với khách hàng.
Peter Dcuke đã nói: Marketing là hết sức cơ bản đến mức độ không thể
xem nó là một chức năng riêng biệt. Nó là toàn bộ công việc kinh doanh dưới
góc độ kết quả cuối cùng, tức là dưới góc độ khách hàng. Thành công của kinh
doanh không phải là người sản xuất mà chính là khách hàng quyết định.
Vào thời kỳ trước năm 50 của thế kỷ XX các công ty có thể đạt được thành
công bằng cách sản xuất ra các sản phẩm rồi nâng đỡ chúng bằng những thủ
thuật bán hàng, nài ép và quảng cáo rầm rộ. Việc làm đó được gọi là
"marketing" và quan niệm như vậy về marketing hiện nay hãy còn rất phổ biến.
Thật đáng tiếc là có một số giám đốc công ty cũng cho rằng marketing là huy
động lực lượng bán hàng của mình vào thị trường để bán tất cả những thứ gì
công ty làm ra. Bởi lẽ quan niêm nhưvậy về marketing là cách dẫn đến không
thành công.
Ngày nay người tiêu dùng đứng trước tình trạng mọi chủng loại sản phẩm
đều có rất nhiều nhãn hiệu. Các khách hàng lại có những yêu cầu rất khác nhau
Hà Duy Khanh TM13-01
3
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Trần Thanh Toàn
đối với sản phẩm/dịch vụ và giá cả. Họ có những đòi hỏi cao và ngày càng cao
về chất lượng và dịch vụ. Đứng trước sự lựa chọn vô cùng phong phú như vậy
khách hàng sẽ bị hấp dẫn bởi những thứ hàng hóa nào đáp ứng tốt nhất những
nhu cầu và mong đợi cá nhân của họ. Họ sẽ mua hàng căn cứ vào nhận thức về
giá trị của mình.
Thỏa mãn đầy đủ nhất và thực sự làm vui lòng những khách hàng là mục
tiêu của mình. Những công ty đó xem marketing là một triết lý của toàn công ty,
chứ không chỉ là một chức năng riêng biệt. Họ muốn những người làm
marketing của mình phải xác định rõ nhứng nhóm khách hàng và những nhu cầu

tiếp nhiều hơn với những người của các bộ phận nghiên cứu và phát triển, cung
ứng, sản phẩm hậu cần và tài chính.
Những công ty này đã tạo ra một nếp làm việc theo đó tất cả các thành viên
của tổ chức đều phải "có ý thức về thị trường" và "có ý thức về khách hàng".
Mọi cán bộ, công nhân viên đều có thể có ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến nhận thức
và sở thích của khách hàng.
Nếu làm được như vậy tức là các công ty đã nhận thức đúng được làm
marketing hiện đại và được nhiều là sản phẩm sẽ được tiêu thụ tốt.
1.1.2. Những định hường về thị trường của công ty kinh doanh
Phần 1 đã mô tả quản trị marketing là một nỗ lực có ý nghĩa nhằm đạt được
những kết quả mong muốn trong việc trao đổi với các thị trường mục tiêu. Bây
giờ chúng ta sẽ cân đối như, thế nào quyền lợi của tổ chức, của khách hàng và
của xã hội? Những quyền lợi này rất hay mẫu thuẫn với nhau. Hiểu nhiên là các
hoạt động marketing phải được tiến hành trong khuôn khổ của một triết lý đã
được cân nhắc kỹ về marketing hữu hiệu, có hiệu quả và có trách nhiệm.
Có năm quan điểm cạnh tranh mà các tổ chức thường vận dụng trong hoạt
động, marketing của mình.
1.1.2.1. Quan điểm sản xuất
Quan điểm sản xuất là một trong những quan điểm chỉ đạo người bán lâu
đời nhất.
* Quan điểm sản xuất khẳng định rằng người tiêu dùng sẽ ưa thích những
sản phẩm được bán rộng rãi và giá hạ. Những người lãnh đạo các tổ chức theo
quan điểm sản phẩm phải tập trung vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất và mở
rộng phạm vi phân phối.
Hà Duy Khanh TM13-01
5
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Trần Thanh Toàn
Để tạo được nhiều sản phẩm bán rộng rãi các nhà sản xuất cần áp dụng
công nghệ hiện dại công nghệ cao vào sản xuất. Muốn có giá bán hạ các nhà
quản trị công ty vừa phải hợp lý hóa để tiết kiệm các yếu tố đầu vào, tiết kiệm

1.1.2.4. Quan điểm marketing
* Quan điểm marketing khẳng định rằng chìa khóa để đạt được những mục
tiêu của tổ chức là xác định những nhu cầu cùng mong muốn của các thị trường
mục tiêu và đảm bảo mức độ thỏa mãn mong muốn bằng những phương pháp
hữu hiệu và hiệu quả hơn so với các đối thủ cạnh tranh.
Quan điểm marketing được diễn đạt một cách văn hóa theo nhiều cách:
+ Đáp ứng các nhu cầu một cách có lời.
+ Hãy tìm kiếm những mong muốn rồi thỏa mãn chung.
+ Hãy yêu quý khách hàng chứ không phải sản phẩm.
+ Khách hàng là thượng đế.
Theodoe Levit đã nêu ra sự tương phản sâu sắc giữa quan điểm bán hàng
và quan điểm marketing như sau:
Quan điểm bán hàng tập trung vào những nhu cầu của người bán; Quan
điểm marketing thì chú trọng đến những nhu cầu của người mua. Quan điểm
bán hàng để tâm đến nhu cầu của người bán là làm thế nào để biến sản phẩm
của mình thành tiền mặt, còn quan điểm marketing thì quan tâm đến ý tưởng
thỏa mãn những nhu cầu của khách hàng bằng chính sản phẩm và tất cả những
gì liên quan đến việc tạo ra, cung ứng tối khách hàng những sản phẩm đó.
Quan điểm marketing dựa trên bốn trụ cột chính là thị trường tiêu thụ, nhu
cầu của khách hàng, marketing phối hợp và khả năng sinh lời. Những yếu tố này
được thể hiện trong H1.1 và được đối chiếu với quan điểm bán hàng.
(a) Quan điểm bán hàng (marketing cổ điển)
(b) Quan điểm marketing (marketing hiện đại)
Hình 1.1. So sánh quan điểm bán hàng và quan điểm marketing
Hà Duy Khanh TM13-01
7
Nhà máy Sản phẩm
Bán hàng và
khuyến mại
Lợi nhuận thông qua

người từ chính cái tiêu dùng do marketing tạo ra.
Ví dụ 1:
Một vỏ chai của nước giải khát nếu thực hiện lưu chuyển bao bì, nó sẽ lưu
chuyển được 17 lần mới hỏng. Nhưng theo quan điểm marketing là thuận tiện
cho người tiêu dùng là để họ dùng một lần rồi vứt vỏ chai nước giải khác đi kết
quả là xã hội phải gánh chịu một lượng chất thải rắn giá lớn không còn có chỗ
để chôn vùi nó và khi chôn vùi nói thì nó cũng không thể tự tiêu huỷ được, lúc
này đến lược nó xã hội lại phải lo về vấn đề này.
Ví dụ 2:
Ngành công nghiệp ô tô Mỹ nay vẫn cung ứng những chiếc ô tô lớn theo
mong muốn của dân Mỹ, thế nhưng việc đáp ứng những mong muốn này đã dẫn
đến mức tiêu hao nhiên liệu cao, gây ô nhiễm nặng và nhiều tai nạn chết người
hơn so với xe nhỏ, chi phí mua và sửa chữa xe cao hơn.
Hà Duy Khanh TM13-01
8
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Trần Thanh Toàn
Qua hai ví dụ trên đòi hỏi phải có quan điểm mới rộng hơn quan điểm
marketing, nhiều ý kiến đề nghị:
"Quan điểm vì con người", quan điểm tiêu dùng văn minh" và "quan điểm
yêu cầu sinh thái", tất cả đều đề cập đến những khía cạnh khác nhau của cùng
một vấn đề. Chúng tôi đề nghị đặt tên là quan điểm marketing xã hội.
1.2. TẠO SỰ THOẢ MÃN CHO KHÁCH HÀNG BÀNG CHẤT
LƯỢNG, DỊCH VỤ VÀ GIÁ CẢ
1.2.1. Định nghĩa giá trị và sự thoả mãn khách hàng
Phần I đã đề cập các cơ sở lí luận rằng để các công ty đối phó được với sự
cạnh tranh ngày càng gia tăng họ cần thiết phải chuyển từ triết lý sản phẩm và
bán hàng sang triết lý khách hàng và marketing xã hội. Phần II chỉ ra cho các
công ty thấp chi tiết hơn bằng cách nào để các công ty giành được khách hàng
và chiến thắng đối thủ cạnh tranh.
Khách hàng ngày nay đang đứng trước sự lựa chọn của nhiều chủng loại

10
Giá trị sản phẩm
Giá trị dịch vụ
Giá trị về nhân sự
Giá trị về hình ảnh
Tổng giá trị của
khách hàng
Giá tiền
Phí tổn thời gian
Phí tổn công sức
Phí tổn tinh thần
Tổng chi phí của
khách hàng
Giá trị dành
cho
khách hàng
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Trần Thanh Toàn
Công thức tính giá trị khách hàng
Giá trị =
Các lợi ích vật chất + Các lợi ích tinh thần
Chi phí tiền bạc + chi phí thời gian + Hao tổn cơ bắp + Hao tổn
tinh thần
Hay có thể viết ngắn gọn:
Theo công thức này, doanh nghiệp có thể tăng giá trị theo 5 cách sau:
(1) Tăng lợi ích.
(2) Giảm chi phí
(3) Tăng lợi ích kết hợp với giảm chi phí.
(4) Tăng lợi ích nhiều hơn tăng chi phí.
(5) Giảm lợi ích ít hơn giảm chi phí.
- Thích ứng với sự thoả mãn khách hàng hoàn toàn

bán hàng, giao hàng và hỗ trợ sản phẩm của mình. Chuỗi giá trị xác định chín
hoạt động tương ứng về chiến lược tạo ra giá trị và sản phẩm của mình. Chuỗi
giá trị xác định chín hoạt động tương ứng về chiến lược tạo ra giá trị và chi phí
trong một doanh nghiệp cụ thể. Chín hoạt động tạo ra giá trị này bao gồm năm
hoạt động chủ chốt và bốn hoạt động hỗ trợ.
Những hoạt động chủ chốt thể hiện một chuỗi những công việc chuyển vật
tư về xí nghiệp, gia công chúng, xuất chúng đi, bán và phục vụ chúng. Những
hoạt động hỗ trợ xuất hiện trong tất cả những hoạt động chủ chốt này. Chẳng
hạn như hoạt động mua sắm và việc cung ứng những yếu tố đầu vào khác nhau
cho từng hoạt động chủ chốt mà bộ phận cung ứng chỉ giải quyết một phần.
Hoạt động phát triển công nghệ xuất hiện trong mọi hoạt động chủ chốt, phòng
nghiên cứu và phát triển cũng chỉ đảm nhiệm một phần. Hoạt động quản lý
nguồn nhân lực cũng xuất hiện trong mọi bộ phận. Cơ sở hạ tầng của công ty
bao trùm những công việc quản lý chung, kế hoạch, tài chính, kế toán, pháp chế
và quan hệ với nhà nước do tất cả các hoạt động chủ chốt và hỗ trợ đề ra.
Nhiệm vụ của công ty là phải kiểm tra chi phí kết quả thực hiện của mình
trong từng hoạt động tạo giá trị và tìm cách cải tiến. Công ty phải ước tính chi
phí và kết quả thực hiện của các đối thủ cạnh tranh để làm căn cứ sánh. Công ty
chỉ có thể đạt được ưu thế cạnh tranh trong chừng mực mà nó có thể thực hiện
những hoạt động nhất định tốt hơn đối thủ cạnh tranh của mình.
Sự thành công của công ty không chỉ phụ thuộc vào kết quả công tác tốt
Hà Duy Khanh TM13-01
12
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Trần Thanh Toàn
của tưng bộ phận riêng rẽ, mà còn phụ thuộc vào vịêc phối hợp tốt hoạt động
của các bộ phận khác nhau. Các bộ phận trong công ty rất hay hành động nhằm
tăng tối đa lợi ích của bộ phận mình, chứ không phải lợi ích của công ty và
khách hàng. Ví dụ, bộ phận bán hàng chịu kéo dài thời gian kiểm tra khả năng
tin cậy vào khách hàng triển vọng để tránh phát sinh nợ khó đòi, trong khi khách
hàng phát triển vọng để tránh phát sinh nợ khó đòi, trong khi khách hàng phải

Quản lý nguồn nhân lực
Phát triển công nghệ
Cung ứng
Hậu
cầu
đầu
vào
Sản
xuất
chế
biến
Hậu
cần
đầu
ra
Marketing
và bán
hàng
Dịch vụ
sau khi
bán
G
i
á

t
r


g

nghệ (nhằm hỗ trợ cho các hoạt động của chuỗi giá trị như nghiên cứu và phát
triển, tiến trình tự động, thiết kế, tái thiết kế…) quản lý nguồn nhân lực (các hoạt
động liên quan đến tuyển dụng, phát triển, đào tạo, bồi dưỡng cho nhân viên và
quản lý…) và cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp (bao gồm quản trị tổng quát, quản
trị kế hoạch, luật pháp, tài chính, kế toán, đối ngoại, quản trị chất lượng…)
Ý nghĩa của mô hình chuỗi giá trị là ở chỗ đến bán được nhiều sản phẩm,
công ty cần giải quyết đồng bộ từ hậu cần đầu vào (nhập khẩu linh kiện từ các
đối tác lớn của nước ngoài), sản xuất (bố trí hợp lý lao động cho các dây chuyền,
khai thác hiệu quả dây chuyền, máy móc thiết bị hiện có), hậu cần đầu ra (chủng
loại sản phẩm phù hợp với thị hiếu và yêu cầu của khách hàng), marketing và
dịch vụ xen kẽ vào các hoạt động chủ chốt là bốn hoạt động hỗ trợ, các hoạt
động trên chúng đan xen vào nhau.

1.3.PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ CỦA MỘT CÔNG TY
Hà Duy Khanh TM13-01
14
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Trần Thanh Toàn
KINH DOANH
1.3.1 Vấn đề cơ bản về phát triển thị trường
Kinh tế thị trường phát triển mở ra cho doanh nghiệp nhiều cơ hội và thách
thức mới. Do vậy, doanh nghiệp cần phát triển thị trường để tìm kiếm cơ hội
phát triển cho doanh nghiệp của mình.
* Khái niệm phát triển thị trường
Theo giáo trình marketing Ngân hàng của trường Đại học Ngân hàng TP.
Hồ Chí Minh, NXB Thống kê 2008 do TS Trịnh Quốc Trung chủ biên:
Phát triển thị trường là một quá trình nghiên cứu thị trường, xác định nhu
cầu thị trường, đồng thời dựng biện pháp nhằm đưa tối đa khối lượng sản phẩm
của doanh nghiệp vào thị trường một cách hiệu quả nhất.
Vì vậy phát triển thị trường giúp doanh nghiệp tăng doanh số bán ra, tăng
doanh thu và đạt được hiệu quả trong kinh doanh.

và dịch vụ hiện tại thông qua các nỗ lực marketing. Áp dụng chiến lược này
trong các trường hợp:
- Thị trường sản phẩm dịch vụ hiện tại của doanh nghiệp chưa bão hồ.
- Tỷ lệ tiêu thụ của khách hàng có khả năng gia tăng
- Thị phần của đối thủ cạnh tranh giảm do doanh số toàn ngành gia tăng.
- Có mối tương quan giữa doanh thu và chi phí marketing
- Việc tăng kinh tế theo quy mô đem lại lợi thế cạnh tranh chủ yếu.
Doanh nghiệp khi áp dụng chiến lược này cần triển khai: gia tăng số người
bán, kênh phân phối, tăng chi phí quảng cáo, chào hàng rộng rãi, tăng cường
PR… Chiến lược này đòi hỏi đầu tư tài chính thấp với độ rủi ro nhỏ nhưng dễ
gặp phải sự cạnh tranh gay gắt của đối thủ cạnh tranh.
* Chiến lược phát triển thị trường
Chiến lược phát triển thị trường nhằm giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ
hiện tại của doanh nghiệp vào các thị trường mới. Doanh nghiệp áp dụng chiến
lược này khi:
- Doanh nghiệp có sẵn các kênh phân phối mới tin cậy, có chất lượng, chi
phí hợp lý.
- Doanh nghiệp đạt được thành công trên thị trường hiện có
- Các thị trường khác chưa được khai thác hoặc chưa bão hồ
Hà Duy Khanh TM13-01
16
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Trần Thanh Toàn
- Khi Doanh nghiệp có công suất nhàn rỗi.
- Khi ngành hàng của Doanh nghiệp phát triển nhanh thành quy mô toàn
cầu.
Công ty cần nghiên cứu thị trường tìm ra thị trường mới với cơ hội phát
triển mạnh, thiết kế các chương trình marketing phù hợp. Chiến lược này giúp
Doanh nghiệp khai thác tăng độ bao phủ trên thị trường với sản phẩm hiện tại
nhưng đòi hỏi chi phí nghiên cứu thị trường, xây dựng mở rộng kênh phân phối,
thực hiện hoạt động xúc tiến khá lớn.

cách thức khai thác và phát huy nội lực của mình. Nhưng để có thể thành công
thì cách thức khai thác và phát huy cũng hết sức quan trọng. Do đó, có thể nói
phát triển thị trường là cần thiết với mọi Doanh nghiệp
1.4. NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
CÔNG TY KINH DOANH
1.4.1 Nhân tố bên trong Doanh nghiệp
Đây là nhân tố nói lên tiềm lực thực tế của Doanh nghiệp như tiềm lực về
tài chính, nhân sự. Khoa học kỹ thuật, uy tín của Doanh nghiệp…. Tiềm lực của
Doanh nghiệp…. Tiềm lực của Doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới các thị
trường của Doanh nghiệp. Tiềm lực càng lớn, Doanh nghiệp càng có cơ hội để
phát triển mạnh và sẽ tạo ra được cho mình cơ cấu thị trường ngày càng lớn.
Tiềm lực tài chính của Doanh nghiệp: Nhân tố tổng hợp phản ánh sức mạnh
Doanh nghiệp, được thể hiện qua các chỉ tiêu chủ yếu như: vốn chủ sở hữu, vốn lưu
động, doanh thu, lợi nhuận, nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, tỷ lệ và khả năng sinh lời…
Các Doanh nghiệp hoạt động trong ngành đòi hỏi chi phí sản xuất kinh doanh cao và
có sức ép cạnh tranh lớn thì tiềm lực về tài chính là rất quan trọng.
Nhân lực của Doanh nghiệp: Nguồn nhân lực về con người là tài sản vô giá
của mỗi Doanh nghiệp. Bất kỳ một sản phẩm nào cũng có thể dễ dàng bị sao
chép tuy nhiên người ra khó có thể bắt chước hoạt động của một tổ chức. Vì vậy
các Doanh nghiệp nên tìm cách khai thác và phát huy tối đa hiệu quả hoạt động
của nguồn nhân lực.
Chủng loại và chất lượng sản phẩm: Nhu cầu của khách hàng rất đa dạng
và phong phú nên việc đa dạng hoá chủng loại sản phẩm sẽ tạo điều kiện thuận
lợi cho việc phát triển thị trường của Doanh nghiệp. Tuy nhiên cũng chính vì
việc phải đối diện với muôn vàn nhãn hiệu sản phẩm nên người tiêu dùng ngày
Hà Duy Khanh TM13-01
18
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Trần Thanh Toàn
nay quan tâm nhiều hơn đến chất lượng sản phẩm. Sản phẩm có chất lượng tốt
và phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng sẽ tạo điều kiện cho việc tiêu thụ dễ

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Trần Thanh Toàn
triển được thị phần Doanh nghiệp phải tìm cho mình đoạn thị trường mà họ có
khả năng đáp ứng nhu cầu và ước muốn khách hàng tốt nhất, xây dựng chương
trình marketing phù hợp với từng khúc thị trường đã chọn.
Đối thủ cạnh tranh:
Trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay cũng thường lớn hơn cầu khếin
các công ty không có cách nào khác là phải cạnh tranh. Họ quan tâm đến đối thủ
cạnh tranh của mình cũng nhiều như khách hàng mục tiêu. Hiểu được đối thủ
cạnh tranh của mình là một điều cực kỳ quan trọng giúp lập kế hoạch marketing
hiệu quả. Công ty thường xuyên phải so sánh sản phẩm, giá cả và các hoạt động
khác của mình với đối thủ cạnh tranh. Nhở đó mà họ có thể phát hiện được
những ưu thế hay bất lợi của mình trong cạnh tranh nhằm đưa ra đòn bẩy tiến
công chính xác hơn vào đối thủ cạnh tranh cũng như biện pháp phòng thủ vững
chắc trước các cuộc tiến công.
1.4.3 Nhân tố thuộc môi trường vĩ mô
Môi trường văn hoá, xã hội, nhân khẩu học: các nhân tố này do Doanh
nghiệp nhận biết được tập khách hàng tại mỗi khu vực thị trường lớn hay nhỏ,
hành vi ứng xử, hành vi tiêu dùng và quyết định mua hàng của họ. Nó là yếu tố
hình thành nên thị trường và đặc điểm thị trường của Doanh nghiệp.
Môi trường chính trị, pháp luật: ảnh hưởng tới sự hình thành và cơ hội kinh
doanh của Doanh nghiệp. Sự ổn định về chính trị và một hệ thống pháp lý hoàn
thiện, thông thoáng, minh bạch, công bằng sẽ giúp Doanh nghiệp yên tâm đầu tư
kinh doanh từ đó khuyến khích và thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển.
Môi trường kinh tế: một sản phẩm tiêu thụ được tức là thị trường có nhu
cầu về nó, song khối lượng sản phẩm tiêu thụ được ít hay nhầu phụ thuộc lớn
vào sức mua. Bản thân sức mua lại phụ thuộc và các yếu tố như mức thu nhập,
tiết kiệm, lãi suất, tỷ lệ thất nghiệp, suy thoái kinh tế… Do đó, người làm
marketing cần theo dõi chặt chẽ những xu hướng chủ yếu trong chiều hướng
biến động của nền kinh tế như tình hình tài chính, thu nhập và các chỉ tiêu người
tiêu dùng.


- Địa điểm: Km7 – Đường Nguyễn Văn Cừ - Phường Cẩm Thịnh – Thị xã
Cẩm Phả - Tỉnh Quảng Ninh.
Công ty là công ty con của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt
Nam.
Công ty có logo và biểu tượng riêng đã được đăng ký và được cục Sở hữu trí
tuệ cấp chứng nhận
Công ty CP Công nghiệp Ô tô – VINACOMIN đi vào sản xuất kinh doanh
với số vốn điều lệ là 27 tỷ đồng Việt Nam, số cổ phần đã góp 2.700.000 cổ
Hà Duy Khanh TM13-01
22
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS Trần Thanh Toàn
phần. Số cổ phần Nhà nước do Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt
Nam nắm giữ là 972.227 cổ phần, chiếm 36,01% vốn điều lệ.
Tổng số vốn kinh doanh tại ngày 31/12/2010 là: 27.000.000.000 đồng
Trong đó: +Vốn nhà nước: 9.722.270.000
+Vốn cổ đông: 17.277.730.000
2.1.2. Thời điểm và điều kiện thành lập Công ty Cổ phần Công nghiệp
Ô tô- Vinacomin
Cẩm Phả là một cùng công nghiệp, nơi tập trung nhiều mỏ than nhất của
cả nước để phục vụ cho công nghiệp khai thác than đi kèm với nó là các ngành
phụ trợ, đặc biệt là ngành cơ khí phục vụ cho quá trình khai thác mỏ. Đứng
trước vấn đề đặt ra là cần phải có 1 nhà máy với quy mô lớn, đủ khả năng đáp
ứng nhu cầu sửa chữa cho các thiết bị vận tải mỏ. Trước đòi hỏi bức xúc đó và
dựa vào những luận chứng khả thi
- Ngày 4/2/1977 nhà nước Việt Nam phê duyệt thiết kế xây dựng nhà máy
theo QĐ59/ TTG
- Ngày 23/6/1979 bắt đầu khởi công xây dựng nhà máy, san mặt bằng
- Ngày 12/6/1983 thành lập ban chuẩn bị sản xuất
- Ngày 15/10/1984 thành lập nhà máy Đại tu Ô tô Cẩm Phả theo QĐ 154-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status