!"#$%&'())*+, /0123)4$-56789:
;<
(=>0(+$)?@)(ABCDE"
FB1G).@G>.
1,)H@BIJKLMIJKNO
"P
PHÚ VANG , 2014
PQ"
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu của riêng tôi, các số liệu kết quả nghiên cứu là
trung thực, được các tác giả đồng cho phép sử dụng
và chưa được công bố trong bất cứ công trình nào
CDE"
P(@3,R:
Trên đây là kinh nghiệm giảng dạy các văn bản nhật dụng
trong chương trình Ngữ văn cụ thể cho học sinh khối lớp 7 và 9.
Thời gian thực nghiệm chưa nhiều nên chưa thể đánh giá hết được
những ưu điểm và tồn tại mà đề tài này mang lại. .
Tôi cũng xin chân thành cảm BGH nhà trường; tổ Văn –
Nhạc – Họa đã tạo điều kiện để tôi thực hiện đề tài này .
"P
OS"TSO
OS"TS
OPU->@)HVW$X(O
“Văn học là nhân học”.Văn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống cũng như
trong sự phát triển tư duy của con người nói chung, thế hệ học sinh nói riêng.
quả tốt nhất, gây hứng thú cho học sinh yêu thích học giờ văn.
Hiện nay, không ít học sinh có xu hướng không thích học hoặc xem nhẹ các môn học
xã hội nói chung, môn ngữ văn nói riêng. cũng chính vì thế chất lượng kiến thức mà học
sinh tiếp thu ngày càng có chiều hướng giảm sút. Phần đông các học sinh không say mê,
yêu thích học môn văn mà chỉ say mê học những môn tự nhiên (toán, lí, hoá, ) nhằm
chạy theo nhu cầu thực tế của thời đại. Chính điều đó lại càng đòi hỏi người giáo viên dạy
ngữ văn phải sáng tạo, tìm ra những biện pháp truyền thụ nội dung bài học đến với học
sinh một cách dễ hiểu nhất hay phải tạo được giờ học thu hút, làm học sinh thêm yêu
thích học môn văn và luôn mong chờ đến giờ học văn. Để làm được việc này thì người
5
giáo viên phải có tâm huyết, nhiệt tình với nghề, phải tìm ra được điểm mạnh, điểm yếu
trong tiết học để kịp thời khắc phục những thiếu xót, rút kinh nghiệm cho bản thân vào
những tiết giảng dạy sau.
Trong chương trình SGK THCS có đưa vào một số văn bản mới, đó chính là văn bản
nhật dụng. Văn bản nhật dụng chiếm số lượng không nhiều (chỉ chiếm 10% trong chương
SGK THCS (tổng số gồm 13 bài, riêng ở khối 7, 9 chiếm 6/10 bài).Với số lượng ít ỏi như
thế, nhưng trước kia lí luận dạy học chưa từng đặt vấn đề phương pháp dạy học văn bản
nhật dụng. Vì thế trong giờ giảng dạy và học tập văn bản nhật dụng gặp không ít khó
khăn, dẫn đến hiệu quả tiết dạy chưa đạt được kết quả cao.
Bản thân tôi đã trực tiếp giảng dạy chương trình Ngữ văn lớp 7, 9 trong quá trình
giảng dạy của mình cũng như khi dự giờ quý đồng nghiệp, tôi nhận thấy còn rất nhiều hạn
chế cả về phương pháp dạy học và kiến thức truyền đạt nội dung bài giảng đến đối tượng
học sinh.
Cũng từ những lí do trên, tôi đã cố gắng nghiên cứu đề tài “Một số kinh nghiệm dạy
văn bản nhật dụng ở khối 7, 9 ” nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy văn bản nhật
dụng và cũng để học sinh thêm yêu thích học giờ văn ngày càng nhiều hơn.
O"5@VU@)0X8)R8)=8)(+@YZO
KO"5@VU@))(+@YZO
Nhằm đưa ra hướng giải quyết một số thắc mắc về kiến thức và phương pháp dạy học,
để từ đó bản thân có thêm kinh nghiệm dạy tốt phần văn bản nhật dụng, đồng thời cũng
mẽ phương pháp giáo dục đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều rèn luyện nền nếp
tư duy sang tạo cảu người học “ . Luật giáo dục của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam cũng nêu rõ :” phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực tự giác chủ động
sang tạo của người học ; bồi dưỡng năng lực tự học lòng say mê học tập và ý thức vươn
lên . Những năm gần đây định hướng đổi mới phương pháp đã được thống nhất theo tư
tương tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo
viên . Như thế một giáo án giờ văn bản kiểu mới không phải là bản đề cương nội dung chi
tiết về cái hay ; đẹp của áng văn thấy tâm đắc mà còn là bản thiết kế việc làm của học
sinh . Đổi mới về phương pháp dạy học trước phải nói đến cấu trúc nội dung văn bản của
sách giáo khoa . Qua các văn bản các em không chỉ cảm thụ nội dung nghệ thuật của
những hình ảnh cao đẹp của con người của cuộc sống mà còn gúp các em đến với những
vấn đề hiển nhiên vừa bức thiết trong thực tiển trong đời sống . Kiểu văn bản nhật dụng
lần đầu tiên đưa vào chương trình ngữ văn 6;7;8;9 đã thực hiện được sứ mệnh của nó
trong con đường tiếp nhận tri thức của học sinh .
OR%`$)?@$(b :
Trong chuẩn học môn Tiếng Anh của bang Niu Ốc ( Mỹ ) công bố tháng 3 năm 1996
người ta có nêu một hồi kí viết về vụ thảm sát Mỹ Lai ở Việt Nam. Ở Anh trong :’quy
định mới của chương trình “ của chương trình quốc gia công bố năm 1995 có ghi rõ : “
yêu cầu cho học sinh tiếp xúc với với các kiểu văn bản gần gũi với thực tế cuộc sống “
Ở Pháp chương trình ngữ văn chủ yếu dạy các văn bản thuộc thể loại báo chí các loại
văn bản trên thông tin đại chúng … Nêu những dẫn chứng trên để thấy việc đưa văn bản
Nhật dụng vào chương trình ngữ văn là một vấn đề cấp thiết hợp lí không chỉ riêng đới
với nền giáo dục nước ta mà còn đối với nền giáo dục các nước trên thế giới.
Trở lại thực tế giảng dạy môn ngữ văn nhiều giáo viên chỉ khai thác các văn bản ở giá trị
nội dung nghệ thuật còn giá trị liên hệ về thực tế cuộc sống thì hạn chế
* W8)U\)H@%() : vẫn còn có thói quen thụ động ghi chép những gì giáo viên nói chưa
có thói quen chủ động tìm hiểu khám phá . Đa số học sinh chưa chủ đọng vận dụng kiến
thức văn học vào cuộc sống . Từ đó dẫn đến ít nắm bắt hoặc thờ ở với những vấn đề bức
thiết của cuộc sống trong nước cũng như ngoài nước . Từ thực tiển đó việc tìm ra phương
pháp tốt nhất để dạy văn bản nhật dụng là một việc làm cần thiết trong nền giáo dục Việt
yêu đã lưu giữ bao kỉ niệm thân thương của đời mẹ, niềm hi vọng vào con, mái trường
thân yêu sẽ mở ra ánh sáng và tương lai cho mỗi con người. Đó là ý nghĩa cập nhật của
văn bản nhật dụng này.
- “Mẹ tôi” được trình bày dưới dạng một bức thư. Từ việc phạm lỗi của đứa con đối
với mẹ mà người cha bộc lộ cảm xúc và suy tư về tình sâu nghĩa nặng của người mẹ. Xét
về thể loại thì đây là bài tuỳ bút, còn xét về phương thức biểu đạt thì đây là văn bản biểu
cảm.
Từ những lời tâm tình, khuyên nhủ của người cha đã hiện lên hình ảnh một người
mẹ cao cả và lớn lao. Người mẹ ấy đã thức suốt đêm khi con bị ốm và đau đớn quằn quại
vì lo sợ mất con. Người mẹ ấy có thể làm tất cả, có thể chịu mọi đau khổ bất hạnh để cho
con đỡ đau đớn, để cho con sống hạnh phúc Vì thế “ngày buồn thảm nhất tất sẽ là ngày
mà con mất mẹ, và tình cảm thiêng liêng cao quý hơn cả là tình cảm yêu thương kính
trọng đối với cha mẹ”. Đó cũng là nội dung cập nhật của văn bản này.
- “Cuộc chia tay của những con búp bê” là truyện ngắn. Thành công của văn bản
này là sự kết hợp nhuần nhuyễn của phương thức biểu đạt tự sự với miêu tả và biểu cảm.
Truyện viết về nỗi đau tinh thần tuổi thơ sống thiếu tình cảm của cha mẹ. Nhưng chính từ
bi kịch ấy, những đứa trẻ vẫn giữ được tâm hồn trong sáng, vị tha, tình cảm anh em càng
thêm gắn bó. Đằng sau câu chuyện về tình anh em gắn bó trong sự tan vỡ của gia đình.
Truyện “Cuộc chia tay của những con búp bê” toát lên vấn đề quyền sống của trẻ em
đang bị đe doạ trong một xã hội hiện đại đang cần đến sự quan tâm của mọi người.
8
- “Ca Huế trên sông Hương” là văn bản thuyết minh giới thiệu một nét đẹp trong
văn hoá cổ truyền xứ Huế, đó là dân ca Huế. Đặc sắc của dân ca Huế không chỉ là sự
phong phú của các điệu hò, điệu lí , không chỉ là sự hoà nhập của hai dòng nhạc dân gian
và nhạc cung đình mà còn là cách sinh hoạt độc đáo của nó: thời gian ban đêm, không
gian trên sông Hương, người đàn, người hát và người nghe cùng ngồi trên thuyền.
Đọc văn bản này, học sinh hiểu thêm rằng cố đô Huế không chỉ có các danh lam
thắng cảnh và di tích lịch sử nổi tiếng mà còn nổi tiếng bởi các làn điệu dân ca và âm
nhạc cung đình. Ca Huế là một sản phẩm tinh thần đáng trân trọng cần được bảo tồn và
phát triển. Từ đó học sinh có nhu cầu mở rộng hiểu biết dân ca các vùng miền đất nước
nội dung này đã được luận giải một cách hợp lý, hợp tình theo yêu cầu nghị luận xã hội
nhằm làm rõ quan điểm vì trẻ em của cộng đồng thế giới. Nhưng để dễ hiểu, dễ truyền bá
đến đại chúng, bản tuyên bố đã trình bày các quan điểm dưới dạng mục và số.
9
Các nội dung được thảo trong bản tuyên bố đã toát lên điểm tích cực và nhân đạo
của cộng đồng quốc tế (trong đó có Việt Nam) về sự sống còn, quyền được bảo vệ và
phát triển của trẻ em. Đó là ý nghĩa cập nhật cũng như ý nghĩa lâu dài của văn bản này.
O)?@$.0X,hZ$)Zi@[\0jVWO
KO)?@$.@[\0jVWO
Qua thực tế được phân công trực tiếp dạy lớp, góp ý và trao đổi cùng quý đồng nghiệp
qua những tiết dự giờ. Bản thân tôi nhận thấy khi giáo viên khai thác, giảng dạy văn bản
nhật dụng thường mắc phải một số hạn chế sau:
- Giáo viên coi các văn bản này là một thể loại cụ thể giống như truyện, kí nên chỉ
chú ý dựa vào các điểm của thể loại như: cốt truyện, nhân vật, tình huống, sự việc ghi
chép để phân tích nội dung.
M Giáo viên thường chú ý khai thác và bình giảng trên nhiều phương diện của sáng tạo
nghệ thuật như: cốt truyện, nhân vật, cách kể mà chưa chú trọng đến vấn đề xã hội đặt ra
trong văn bản gần gũi với học sinh.
Ví dụ trong văn bản “ Thông tin về trái đất năm 2000” giáo viên chỉ giúp học sinh nắm
được đặc tính không phân hủy và tác hại của bao bì ni- lông gây ra mà chưa cho học sinh
liên hệ với bản thân mình, vấn đề môi trường trong xã hội.
- Quá nhấn mạnh yêu cầu gắn kết tri thức trong văn bản với đời sống mà giáo viên
chú ý nhiều tới liên hệ thực tế, dẫn đến việc khai thác kiến thức chưa đầy đủ.
- Vốn kiến thức của giáo viên còn hạn chế, thiếu sự mở rộng.
- Giaó viên chưa vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học cũng như các biện pháp
tổ chức dạy học nhằm gây hứng thú cho học sinh. Trong tiết học thường khô khan, thiếu
sinh động, chưa kích thích hứng thú và sự yêu thích của học sinh khi học văn.
- Về phương tiện dạy học mới chỉ dừng lại ở việc dùng bảng phụ, phiếu học tập, trong
khi đó có một số văn bản nếu học sinh được xem những tranh ảnh minh họa, đoạn băng
ghi hình, sơ đồ tư duy, sẽ giúp tiết học thêm sinh động hơn rất nhiều.
20-> 13.1% 107-> 70.3% 25-> 16.4%
IO"hZ$)Zi@[\0jVWO
Trường THCS Phú An là một trường thuộc vùng có điều kiên khó khăn của huyện phú
Vang .Tuy trường có đội ngũ giáo viên khá đông, đều yêu nghề, có tâm huyết với nghề,
có năng lực chuyên môn và dày dạn kinh nghiệm giảng dạy.
Do ở vùng sâu, các phương tiện truyền thông chưa đa dạng, khiến khả năng tiếp thu
thông tin của các em chậm và không nhiều, đồng thời giáo viên cũng chưa thể sử dụng
các phương tiện dạy học hiệu quả.
Việc học của các em được gia đình quan tâm chu đáo, đa số học sinh tích cực và có ý
thöùc cao trong học tập.
Song bên cạnh đó, vẫn còn rất nhiều học sinh chưa có ý thức tự giác trong học tập, mãi
chơi, bị lôi cuốn vào các trò chơi điện tử làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập của các
em yếu, kém.
Trước những thực trạng và mâu thuẫn trên tôi xin đề xuất một số biện pháp nhằm nâng
cao chất lượng giờ dạy sau.
O=@2(A8)=8(3(kZ/]$0jVWO
Giáo viên cần có sự chuẩn bị về mặt kiến thức và kỉ năng của bài dạy.
KOW'(]$)Y@B
Giáo viên không chỉ xác định đúng mục tiêu kiến thức của văn bản mà còn phải trang
bị thêm cho mình những kiến thức mở rộng, hỗ trợ cho bài giảng như thu thập các tư liệu
có liên quan đến bài giảng trên các nguồn thông tin đại chúng (phát thanh, truyền hình,
mạng internet, báo chí, sách vở, tranh ảnh, âm nhạc ).
VD: Khi dạy bài “Ôn dịch, thuốc lá”, giáo viên cần chuẩn bị thêm tranh ảnh về những
người xanh xao, gầy ốm, bệnh tật do hút thuốc lá mà ra. Vì thế, mọi người không nên hút
thuốc lá.
11
IOW8)R$(A /)H@B
Các phương tiện dạy học truyền thống như: SGK, bảng đen, phấn trắng, phiếu học tập
chưa thể đáp ứng được hết yêu cầu dạy học văn bản nhật dụng. Giaó viên có thể chuẩn bị
thêm các tư liệu như: đĩa nhạc CD, phim ảnh, mẫu chuyện, đoạn thơ, sơ đồ tư duy, sẽ
VD: Văn bản “ Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” có kết hợp phương thức lập luận
với biểu cảm thì người dạy sẽ chú ý phân tích lí lẽ và chứng cứ, từ đó tìm hiểu thái độ của
tác giả. Ví dụ khi phân tích phần cuối của văn bản. Phần cuối của văn bản có hai đoạn.
Đoạn nào nói về “chúng ta” chống vũ khí hạt nhân? Đoạn nào là thái độ của tác giả về
việc này? Em hiểu thế nào về “bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không
có vũ khí và một cuộc sống hòa bình, công bằng”? Ý tưởng của tác giả về việc mở “một
nhà băng lưu trữ trí nhớ có thể tồn tại được sau thảm họa hạt nhân” bao gồm những thông
điệp gì? Em hiểu gì về thông điệp đó của tác giả? Như thế với việc căn cứ vào phương
thức biểu đạt của mỗi văn bản, giáo viên và học sinh sẽ dễ dàng tiếp cận nội dung, từ đó
hiểu được mục đích giao tiếp trong các văn bản ấy.
nO4-56())>.$@=@8)R8)=8Vf@$ @[\0123B
Trong dạy học văn bản nhật dụng có nhiều phương pháp: phương pháp đàm thoại, đọc
diễn cảm, giảng bình, Trong đó chú trọng nhất là phương pháp đàm thoại bằng cách đặt
hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh theo mức độ từ dễ đến khó, rồi liên hệ với thực tế đời
sống.
VD: Khi dạy bài: “Phong cách Hồ Chí Minh”, giáo viên có thể đặt câu hỏi sau:
- Văn bản cho ta thấy những vẻ đẹp nào của Bác ?
-Vì sao có thể nói phong cách của Bác là sự nhào nặn của 2 nguồn văn hóa ?
-Trong tình hình hội nhập và giao thoa nền văn hóa ngày nay, em học tập được điều gì
từ Bác?
Khi dạy văn bản nhật dụng, giáo viên không nên quá coi trọng phương pháp giảng
bình. Bởi bình văn là bày tỏ lời hay ý đẹp trong văn chương, đối tượng bình phải là
những tác phẩm mang vẻ đẹp văn chương. Theo tôi, một số văn bản giàu chất văn chương
như “ Phong cách Hồ Chí Minh giáo viên có thể sử dụng lời bình giảng nhưng không nên
đi qúa sâu. Còn đối với những văn bản nhật dụng không nhằm mục đích cảm thụ văn
chương thẩm mĩ như “ Bài toán dân số; Thông tin về trái đất năm 2000; Ôn dịch, thuốc
lá” thì giáo viên không thể bình phẩm được những vẻ đẹp hình thức nào cũng như những
nội dung sâu kín nào trong đó. Do vậy, khi dạy giáo viên cần chú ý điều này để tránh sa
vào tình trạng khai thác kĩ lưỡng văn bản mà giảm đi tính chất thực tiễn, gần gũi và cập
nhật của văn bản nhật dụng. Giaó viên cần hướng học sinh biết liên hệ những kiến thức
dạy tốt hơn và học sinh học tốt hơn.
O^X()H@'())(A,O
Qua thực hiện đề tài trên tôi đã rút ra những bài học kinh nghiệm sau:
- Giáo viên cần tăng cường sưu tầm thêm tranh ảnh, đọan phim, bài ca dao, dân ca,
khúc nhạc, sơ đồ tư duy, tư liệu có liên quan đến văn bản nhật dụng.
- Giáo viên cần chọn giải pháp dạy học thích hợp áp dụng riêng cho từng văn bản,
chứ không dạy cho tất cả các văn bản.
- Giáo viên không nên gò ép học sinh trong giờ học mà trái lại cần động viên, khuyến
khích học sinh tham gia tiết học với tâm lí vui vẻ, thoải mái, nhẹ nhàng.
- Khi dạy giáo viên cần làm rõ trọng tâm nội dung bài học, tránh để học sinh hiểu sai
vấn đề mà văn bản muốn đề cập đến.
- Khích lệ học sinh nên sưu tầm nhiều tranh ảnh, tư liệu có liên quan đến bài học của
mình.
O)31=8-5O
Hiện nay không ít giáo viên đã và đang ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác
giảng dạy của mình. Điều đó cho thấy khả năng áp dụng những phương pháp giảng dạy
trong đề tài này rất khả thi. Vì vậy chúng ta nên mạnh dạn đổi mới phương pháp giảng
dạy nhằm mang lại hiệu quả cao trong tiết dạy của mình cũng như chất lượng học tập của
học sinh ngày càng được nâng cao.
O)eVWrZj$0X'(])*O
* - Thư viện nhà trường cần đầu tư thêm tranh ảnh, tư liệu, băng hình dành giảng dạy
cho văn bản nhật dụng.
- Cần tạo ra nhiều sân chơi hơn nữa để học sinh vận dụng kiến thức và kĩ năng đã học
áp dụng vào cuộc sống thực tế.
- Trang bị thêm máy chiếu để khi giáo viên giảng dạy không bị trùng tiết với giaó
viên khác.
Trước những thực trạng và nguyên nhân trên tôi xin đề xuất một số biện pháp nhằm nâng
cao chất lượng giờ dạy như sau:
c)Y)j$Bl=@V*),5@$(+Z2X()H@O
Mục tiêu đặc thù của bài học văn bản nhật dụng nhấn mạnh vào hai khía cạnh
- Khi thiết kế bài “Ca Huế trên sông Hương”, giáo viên cần chuẩn bị đĩa nhạc CD về
tiếng hát của các làn điệu dân ca Huế và các làn điệu dân ca đặc sắc trên các miền đất
nước (như chèo, dân ca Nam Bộ, dân ca quan họ).
- Khi thiết kế bài học “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình”, giáo viên cần cài đặt
thêm các hình ảnh hoặc các đoạn phim ghi hình những cuộc chiến tranh xảy ra trên thế
giới, bạo loạn hoặc xung đột vũ trang mà chương trình thời sự ở đài truyền hình điểm
tin…thì sẽ thu hút sự chú ý của học sinh.
Như vậy, có thể nói khi dạy học văn bản nhật dụng, giáo viên có nhiều cơ hội hơn cho
đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, nhờ đó mà các bài học văn bản nhật
dụng sẽ khắc phục được tính thông tin tẻ nhạt, đơn điệu. Từ đó, hiệu quả dạy học văn bản
nhật dụng sẽ tăng lên.
c)Y2\BW8)R8)=8 /)H@O
* Dạy học phù hợp với phương thức biểu đạt của mỗi văn bản
16
Trong dạy học văn bản, không thể hiểu nội dung tư tưởng văn bản nếu không đọc
từ các dấu hiệu hình thức của chúng. Nên dạy học văn bản nhật dụng cũng phải theo
nguyên tắc đi từ dấu hiệu hình thức tới khám phá mục đích giao tiếp trong hình thức ấy.
Mặc dù các phương thức biểu đạt chủ yếu của văn bản nhật dụng là thuyết minh và
nghị luận nhưng các văn bản này thường đan xen các yếu tố của phương thức khác như:
tự sự, biểu cảm. Khi đó giáo viên cũng cần chú ý đến yếu tố này.
Ví dụ:
- Văn bản “Cuộc chia tay của những con búp bê” được tạo theo phương thức biểu
đạt tự sự thì hoạt động dạy học sẽ được tiến hành theo các yếu tố tự sự đặc trưng như: sự
việc, nhân vật, lời văn, ngôi kể; từ đó hiểu chủ đề nhật dụng đặt ra trong văn bản này là
vấn đề quyền trẻ em trong cuộc sống của gia đình thời hiện đại.
- Văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hoà bình” có kết hợp phương thức lập luận
với biểu cảm thì người dạy sẽ chú ý phân tích lí lẽ và chứng cớ, từ đó tìm hiểu thái độ của
tác giả, ví dụ khi phân tích phần cuối của văn bản:
+ Phần cuối của văn bản có hai đoạn. Đoạn nào nói về “chúng ta” chống vũ khí
hạt nhân? Đoạn nào là thái độ của tác giả về việc này?
đi quá sâu. Còn đối với những văn bản nhật dụng không nhằm cảm thụ văn chương thẩm
mĩ (như Tuyên bố Thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em)
thì giáo viên không thể bình phẩm được những vẻ đẹp hình thức nào cũng như những nội
dung sâu kín nào trong đó. Do vậy, khi dạy giáo viên cần chú ý điều này để tránh sa vào
tình trạng khai thác kĩ lưỡng văn bản mà giảm đi tính chất thực tiễn, gần gũi và cập nhật
của văn bản nhật dụng.
Mục đích của việc dạy văn bản nhật dụng là giúp học sinh hoà nhập hơn nữa với
đời sống xã hội nên giáo viên phải tạo ra không khí giờ học dân chủ, sôi nổi, kích thích sự
hào hứng của học sinh.
Ví dụ:
Khi dạy bài Ca Huế trên sông Hương giáo viên có thể cho học sinh nghe một làn điệu
dân ca Huế, cuối giờ có thể tổ chức cho học sinh thi hát các làn điệu dân ca ba miền hoặc
thi sưu tầm vẻ đẹp của văn hoá Huế
tuvO
O(WZ$\'n$:
)?@)(A`678$)?@)(A,07()A$)&@hZ)w()%\ZB
1. Em có thích những giờ học văn bản nhật dụng hay không?
a. Có b. Không
2. Việc sử dụng các phương tiện dạy học như tranh ảnh, đĩa nhạc, đĩa hình có làm cho
em hứng thú hơn và dễ tiếp thu tri thức khi học các văn bản nhật dụng không?
a. Có b. Không
3. Học các văn bản nhật dụng em thấy có khó hơn khi học các văn bản nghệ thuật
không?
a. Có b. Không
4. Em có góp ý gì cho các thầy cô giáo khi hướng dẫn dạy học các văn bản nhật dụng?18
]$kZ3$)ZVx@B
Lớp Số
thưởng thức là một nét đẹp của văn hoá cố đô Huế, cần được giữ gìn và phát triển.
- Từ đó mở rộng vốn hiểu biết về văn hoá Huế và âm nhạc dân gian các vùng miền, bồi
đắp tình yêu đối với xứ Huế và các giá trị văn hoá dân tộc.
- Văn bản nhật dụng có thể được viết ở dạng thuyết minh kết hợp với nghị luận, miêu tả,
bộc lộ cảm xúc.
OH$h,'(]$)Y@B
1. Kiến thứcB
- Khái niệm thể loại bút ký.
- Giá trị văn hóa nghệ thuật của ca Huế.
- Vẻ đẹp con người xứ Huế
2. Kỹ năng
- Đọc- Hiểu văn bản nhật dụng viết về di sản văn hóa dân tộc.
- Phân tích văn bản nhật dụng ( kiểu loại thuyết minh).
- Tích hợp kiến thức TLV để viết bài văn thuyết minh.
3. Thái độ
- Thêm yêu mến Huế nói riêng và các làn điêu dân ca, non sông đất nước Việt Nam
nói chung.
- Có ý thức gìn giữ di sản văn hóa DT
O)Zs2*
+ GV: Tham khảo SGV, Tranh ảnh.
+ HS: Đọc, tìm hiểu bài theo hệ thống câu hỏi SGK
O(]$g)6+678
1. Kiểm tra bài cũ:
Tóm tắt trò lố trong truyện ngắn những trò lố hay là Va- Ren và Phan Bộ Châu
vừa học.
Qua những trò lố hay là Va-Ren và Phan Bộ Châu em có khái quát như thế nào
về 2 nhân vật đối lập – tương phản : Toàn quyền Va-Ren và Phan Bộ Châu?
2. Giới thiệu bài: HĐ1Huế là cố đô ghi dấu ấn sự kiện lịch sự: Triều Tây Sơn, Triều
Nguyễn, vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của chế độ phong kiến trao ấn kiếm chính phủ
cách mạng… Huế còn là nơi có nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng: Đại nội, Lăng Tẩm
nhà Nguyễn, đền đài, chùa chiền, trong đó
có chùa Thiên Mụ nổi tiếng.
- Về sản phẩm vật chất và sản phẩm văn
hoá – tinh thần: Nhiều món ăn, nhiều thứ
bánh kẹo mang màu sắc Huế như mè xửng,
kẹo cau… có nón bài thơ, có nhiều điệu hò,
làn điệu dân ca nổi tiếng.
Nhắc đến Huế người ta thường nhắc đến
sông Hương núi Ngự, đến chùa Thiên Mụ,
đến Phú Văn Lâu và các điệu hò, ca Huế
thể hiện rõ nét tâm hồn của con người xứ
Huế)
? Dựa vào chú thích (*) nêu những hiểu
biết về “ca Huế”
Là một hình thức sinh hoạt văn hóa truyền
thống của cố đô Huế: người nghe và người
hát cùng ngồi thuyền đi trên sông Hương
một trong những di sản văn hoá đáng tự
hào của người dân xứ Huế
? Em hãy nêu thể loại của tác phẩm?
? Em hiểu bút kí là gì?
? Nội dung của văn bản nhật dụng là những
vấn đề thời sự gần gũi đang diễn ra trong
cuộc sống hôm nay. Vậy đâu là nội dung
của văn bản nhật dụng này?
Og,)(dZ@)ZB
1.Tác giả:
Hà Ánh Minh – Báo Người Hà Nội
2.Tác phẩm:
+ Ca Huế là một trong những di sản
diễn và thưởng thức.
? Hãy quan sát mỗi đoạn để xác định
phương thức biểu đạt chính của mỗi đọan?
+ : Đây là văn bản nhật dụng kết hợp
nhiều phương thức như nghị luận, miêu tả,
biểu cảm:
- Phần 1 dùng phương thức nghị luận
chứng minh.
- Phần 2 kết hợp miêu tả với biểu cảm.
c>.$V#LBH@G)(dZ0123
+ Theo dõi đoạn Đêm thành phố … hồn
người
* )3>6Z4)},2X
? Khung cảnh và sân khấu của buổi ca Huế
hiện lên độc đáo như thế nào về thời gian,
không gian,
- Thời gian: - Đêm. Khi thành phố lên đèn
như sao sa. Trăng lên. đến khi tiếng gà
gáy bên làng Thọ Cương, cùng tiếng
chuông chùa Thiên Mụ gọi năm canh.
- Không gian: Trăng lên. Gió mơn man dìu
dịu…màn sương dày dần lên, cảnh vật mờ
đi một màu trắng đục trên thuyền rồng,
trên dòng sông Hương thơ mộng.
0BCho HS xem ảnh cảnh sân khấu buổi
ca Huế.
tư tưởng nào đó.
+ Bố cục : 2 phần
OH@M)(dZ0123B
1.Cách thưởng thức ca Huế:
cách thưởng thức ca Huế như vậy
đúng là một nét sinh hoạt văn hoá dân gian
đặc sắc khác hẳn nghe trong rạp hay
trong băng đĩa trong gia đình. Cách
thưởng thức vừa dân dã, vừa sang trọng,
ca Huế đã đạt đến mức hoàn thiện trong
cách thưởng thức.
* )Z/da -f@%~@@[\@\Z]
+ H(VH@8)z$)Y)j$
? Xứ Huế nổi tiếng về nhiều thứ, nhưng ở
đây tác giả lại chú ý đến sự nổi tiếng nào
của Huế ?
Xứ Huế nổi tiếng với làn điệu dân ca.
? Tại sao tác giả lại quan tâm đến dân ca?
Dân ca mang đậm bản sắc tâm hồn và tài
hoa ở mỗi vùng đất. Huế là một trong
những cái nôi dân ca nổi tiếng của đất
nước ta
? Em hãy kể tên các làn điệu dân ca Huế ?
+ Các điệu hò: Đánh cá, cấy trồng, đưa
linh, chèo cạn, bài thai, giã gạo, bài chòi,
bài tiệm, nàng vung, hò lơ, hò ô, hò xay
lúa, hò nện …
+ Các điệu lí: Con sáo, hoài xuân, hoài
nam.
2. Đặc sắc của ca Huế:
a. Đặc điểm của ca Huế
- Ca Huế phong phú về làn điệu, sâu
sắc thấm thía về nội dung tình cảm,
mang những nét đặc trưng của miền
bài dân ca mà em thích?
(Dân ca quan họ Bắc Ninh, dân ca đồng
bằng Bắc Bộ, dân ca các dân tộc miền núi
phía Bắc và Tây nguyên …)
: Các làn điệu dân ca Huế náo nức,
nồng hậu tình người. Mỗi làn điệu mang
âm sắc tiết tấu khác nhau nhưng đều giống
nhau là thể hiện lòng khát khao, mong chờ,
hoài vọng tha thiết của tâm hồn Huế,
+ H( VH@$)z,V>. Ca Huế …
quyến rũ
? Tác giả nhận xét gì về về sự hình thành
của dân ca Huế từ dòng ca nhạc dân gian
và ca nhạc cung đình?
? Em hiểu là nhạc dân gian và nhạc cung
đình? Qua đó, em nhận xét gì về ca Huế?
).@-h(\ ).@@ZVg)b.Nguồn gốc làn điệu ca Huế
Ca Huế có nguồn gốc từ nhạc dân
gian, nhạc cung đình.
25