DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CÁC KÝ HIỆU:
Q : Trữ lượng, TNDB (tấn)
S : Diện tích khối tính trữ lượng, TNDB (m
2
)
m : Chiều dày trung bình của khối (m)
Hs : Hàm suất quặng (kg/m
3
)
L : Chiều dài thân quặng (m)
h : Chiều sâu thân quặng (m)
d : Tỷ trọng quặng ( tấn/m
3
)
CÁC CHỮ VIẾT TẮT:
TNDB : Tài nguyên dự báo
VPH : Vỏ phong hóa
Hình 1.1. Địa hình quặng sắt limonit 5
Hình 1.2. Bề mặt địa hình quặng 5
Hình 1.3. Sơ đồ giao thông khu vực nghiên cứu 6
Hình 1.4. Đường giao thông vào mỏ 7
Hình 1.5. Sơ đồ địa chất khu vực nghiên cứu 17
Hình 1.6. Công tác thực địa. 21
Hình 2.1. Mặt cắt vỏ phong hóa trên đá Granit. 26
Hình 2.2. Mặt cắt vỏ phong hóa trên các đá trầm tích lục nguyên. 27
Hình 2.3. Mặt cắt vỏ phong hóa trên các đá biến chất. 29
Hình 3.1. Mẫu VL.649/1 34
Hình 3.2. Mẫu h.439 36
Hình 3.3. Mẫu h.885 38
Hình 3.4. Mẫu h.575/1 41
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tài nguyên khoáng sản là một trong những nguồn lực có vị trí rất quan trọng
trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội. Những hiểu biết đầy đủ,
toàn diện và chính xác về từng loại tài nguyên khoáng sản của vùng cho phép lựa
chọn, quyết định đúng đắn về việc đầu tư các dự án thăm dò, khai thác và chế biến
+ Xác lập cơ sở khoa học để định hưng đúng thăm dò khai thác.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
+ Các kết quả thu thập và nghiên cứu được sẽ góp phần xây dựng cơ sở dữ
liệu khoa học về nghiên cứu đặc điểm vỏ phong hóa liên quan đến quặng sắt limonit
khu vực Tây Nghệ An.
+ Xác lập các cơ sở khoa học để định hưng đúng thăm dò khai thác, sử
dụng hợp l nguồn tài nguyên thiên nhiên phát triển kinh tế xã hội.
6. Các phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các nhiệm vụ, mục tiêu đề tài, chúng tôi sẽ sử dụng các hệ
phương pháp sau đây:
- Hệ phương pháp địa chất truyền thống, gồm các phương pháp sau:
+ Phương pháp thu thập, tổng hợp các số liệu.
+ Các phương pháp nghiên cứu địa chất ngoài trời như khảo sát thực tế, thực địa.
+ Phương pháp lấy mẫu địa chất
- Kiểm nghiệm thực tế các công trình địa chất như khoan, khai đào.
- Các phương pháp nghiên cứu trong phòng
- Các phương pháp thống kê, so sánh.
7. Cấu trúc của luận văn
Sau thời gian nghiên cứu, phân tích và tổng hợp tài liệu cùng vi sự nỗ lực
của bản thân và dưi sự ch dẫn nhiệt tình của thầy hưng dẫn khoa học, tôi đã hoàn
thành luận văn cao học của mình. Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao
gồm các chương chính sau:
3
Chương 1: Tổng quan về khu vực nghiên cứu
Chương 2: Đặc điểm vỏ phong hóa và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình
thành vỏ phong hóa
Chương 3: Định hưng thăm dò khai thác
Trong suốt quá trình thực hiện luận văn này, tôi luôn nhận được sự quan tâm,
giúp đỡ, hưng dẫn tận tình của thầy hưng dẫn khoa học PGS.TS. Nguyễn Văn
Canh, cùng sự đóng góp kiến của các thầy cô giáo khác. Qua đây, tôi xin bày tỏ
Sắt limonit Bản Khứm
Thôn Bản Khúm, xã Châu
Hội, huyện Quỳ Châu
X:21.60.725
Y: 05.19.325
3
Sắt limonit Bản Can
Thôn Bản Can, xã Châu Hội,
huyện Quỳ Châu
X: 21.59.055
Y:05.18.550
4
Sắt limonit Tống Phái
Thôn Tống Phái, xã Yên
Hợp, huyện Quỳ Hợp
X: 21.52.875
Y: 05.26.503
5
Sắt limonit Bản Xạt
Thôn Bản Xạt, xã Yên Hợp,
huyện Quỳ Hợp
X: 21.50.000
Y: 05.28.078
6
Sắt limonit Thạch Ngàn
Thôn Thạch Tiến, xã Thạch
Ngàn, huyện Con Cuông
X: 21.09.900
Y: 05.00.103
7
11
Sắt limonit Bản Quèn
Thôn Bản Quèn, xã Liên
Hợp, huyện Quỳ Hợp
X: 21.46.160
Y: 05.17.348
12
Sắt limonit Đồng
Xưng
Xã Đồng Hợp, huyện Quỳ
Hợp
X: 21.44.200
Y: 05.27.525
13
Sắt limonit Bản Khôi
Xã Tam Thái, huyện Tương
Dương
X: 21.25.400
Y: 04.46.155
1.1.2. Đặc điểm địa hình
Các điểm quặng sắt chủ yếu phân bố ở địa hình dạng đồi núi thấp, độ cao
thường từ 25 – 150m. Những vùng này đồi núi có độ dốc từ 15 – 30
0
, thảm thực vật
phát triển yếu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu địa chất. Cá biệt ở Bản
Chiềng, huyện Quế Phong, có địa hình núi cao 600 – 900m, độ dốc từ 20 – 45
0
,
thảm thực vật phát triển tốt, gây khó khăn cho việc nghiên cứu địa chất.
* Thủy văn:
Trên các diện tích điều tra, đánh giá quặng sắt không có các sông ln, chủ
yếu là các suối nhánh thuộc lưu vực Sông Hiếu và Sông Cả. Dọc các suối đá gốc lộ
khá tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác khảo sát địa chất.
Tuy nhiên vào mùa mưa lũ, nưc suối thường dâng cao đột ngột đến 2,0m
hoặc 3,0m; dòng chảy mạnh, gây khó khăn cho công tác điều tra địa chất.
1.2. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI
1.2.1. Đặc điểm giao thông
Hình 1.3. Sơ đồ giao thông khu vực nghiên cứu
7
Giao thông tiếp cận các điểm quặng tương đối thuận lợi, các điểm quặng
cách đường ôtô (quốc lộ, tnh lộ, đường liên huyện, liên xã ) từ 0.5 – 7km, có nơi
đường ôtô vào đến tận điểm quặng. Tuy nhiên việc đi lại trên các điểm quặng có nơi
rất khó khăn như các điểm quặng vùng Bản Chiềng, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ
Hợp đây ch có đường mòn hoặc không có đường (hình 1.3).
Hình 1.4. Đường giao thông vào mỏ
1.2.2. Đặc điểm dân cư, kinh tế nhân văn
Khu vực nghiên cứu có dân tộc Kinh chiếm chủ yếu và các dân tộc Thái,
Thanh, H’ Mông, v.v. Người Kinh sống ở đồng bằng, thị trấn, thị tứ; người dân tộc
thiểu số thường sống tập trung thành các bản từ vài chục đến hàng trăm hộ ở dọc
các thung lũng, ven đường. Nghề nghiệp chủ yếu làm nghề nông nghiệp, khoanh
nuôi rừng, chăn nuôi tự cung, tự cấp, kinh tế kém phát triển; trật tự trị an tốt. Trong
vùng phần ln đã có điện thắp sáng, điện thoại, có trường học cấp tiểu học, trung
học cơ sở, có trạm Y tế xã và có đường ô tô đến Uỷ ban Nhân dân các xã trong
vùng công tác.
8
1.3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC
1.3.1. Địa tầng
đt), hệ tầng Quy Lăng (T
2
lql),
hệ tầng Đồng Đỏ (T
3n-r
đđ), hệ tầng Mường Hinh (T
3
mh), Hệ tầng Khe Bố (E
3
–N
1
1-
2
kb) và hệ Đệ Tứ (Q). Dưi đây là phần mô tả chi tiết từng phân vị:
GIỚI NEOPROTEROZOI – GIỚI PALEOZOI
Hệ Venda – Hệ Cambri, thống dưới
Hệ tầng Bù Khạng (NP
3
- ɛ
1
bk)
Hệ tầng này do Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao và nnk 1988 xác lập theo
mặt cắt chuẩn ở sườn Tây Nam núi Bù Khạng, huyện Quỳ Châu, tnh Nghệ An.
Hệ tầng Bù Khạng phân bố thành dải kéo dài gần 80km theo phương Đông
Bắc – Tây Nam từ biên gii Việt – Lào đến Bù Khạng vi chiều rộng thay đổi từ 12
– 20km. Tại Bù Khạng các đá biến chất tạo thành nếp lồi dạng vòm hơi kéo dài theo
hưng Tây Bắc, bị các khối xâm nhập tuổi Paleozoi và trẻ hơn xuyên cắt. Hệ tầng
gồm các đá tương đối đơn điệu bị biến chất không đồng nhất từ trầm tích lục
nguyên. Hệ tầng được chia làm 2 phụ hệ tầng:
- Phụ hệ tầng trên: thành phần chủ yếu là đá phiến thạch anh biotit, plagiocla,
Pristiograptus kweichihensis, vi bào tử đều cho tuổi Silur và Silur sm.
Hệ tầng Sông Cả nằm chnh hợp dưi hệ tầng Huổi Nhị (D
1hn
), quan hệ vi
trầm tích cổ hơn thì chưa quan sát được.
Hệ Silur, thống giữa – Hệ Devon, thống dưới
Hệ tầng Huổi Nhị (S
2
– D
1
hn)
Hệ tầng Huổi Nhị được Nguyễn Văn Hoành xác lập năm 1978, được coi là
đồng ngha của hệ tầng Tây Trang, phia Tây Điện Biên, sát biên gii Viêt – Lào.
Đặc trưng thạch học của hệ tầng này là sự xen kẽ dạng flish của cát kết và đá phiến
sét, đôi chỗ xen ít lp đá vôi sét, đá phiến silic có bề dày khá ln.
Tổng bề dày của hệ tầng Huổi Nhị khoang 750m.
10
Trong quá trình thành lập bản đồ địa chất tỷ lệ 1 : 200.000 và nghiên cứu
chuyên đề về địa tầng vùng Sông cả đã phát hiên có các hóa thạch Bút đá, Vỏ nón,
thực vật thuộc các mức địa tầng khác nhau ở mặt cắt Huổi Nhị.
Hệ tầng Huổi Nhị nằm chnh hợp trên hệ tầng Sông Cả và chnh hợp dưi hệ
tâng Huổi lôi (D
1-2hl
).
Hệ Devon, thống dưới – giữa
Hệ tầng Huổi Lôi (D
1-2
hl)
Hệ tầng Huổi Lôi do nguyễn Văn Hoành và nnk (1978) xác lập trong quá
trình đo vẽ bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000 vùng Sông Cả và mô tả dưi tên gọi
phân bố của hệ tầng thót dần và biến mất hoàn toàn về phía Mường Thù.
Thành phần chủ yếu gồm đá vôi phân lp 1 – 10cm, chuyển lên đá vôi phân
lp dày, đá vôi chứa silic, thấu kính silic hoặc các lp mỏng silic.
Tổng bề dày của hệ tầng khoảng 500 – 600m.
Các công trình nghiên cứu về sau đã phát hiện nhiều hóa thạch Lỗ tầng,
Răng nón tuổi Frasni trong hệ tầng Nậm Cắn.
Hệ tầng Nậm Cắn nằm chnh hợp trên hệ tầng Huổi Lôi, quan hệ này quan
sát được ở mặt cắt đèo Bactelemi. Ranh gii trên thường là ranh gii kiến tạo, tuy
vậy cũng quan sát được quan hệ chnh hợp vi trầm tích cacbon hạ ở mặt cắt Nọong
Dịa – Huổi Căng.
Hệ Devon, thống trên
Hệ tầng Cát Đằng (D
3
cđ)
Hệ tầng Cát Đằng được Nguyễn Văn Hoành, Phạm Huy Thông xác lập năm 1984
vi mặt cắt chuẩn là mặt cắt tại thôn Cát Đằng, vùng Quy Đạt, Minh Hóa, Quảng Bình.
Trong khu vực nghiên cứu hệ tầng Cát Đằng có thành phần chủ yếu là đá vôi
sét, đá vôi phân dải, đá vôi vân đỏ phân dải, loang lổ, bột kết vôi màu xám nâu xen
các lp magma.
Bề dày của hệ tầng khoảng 100 – 300m.
Hóa thạch đặc trưng trong hệ tầng Cát Đằng khá phong phú như Palmatolepit
glabra glabra, P.minuta minuta, Hindeodella cf.urca, Hindeodella germana
Hệ tầng Cát Đằng nằm chnh hợp trên hệ tầng Nậm Cắn và hệ tầng Đông
Thọ, dường như chnh hợp dưi hệ tầng La Khê.
Hệ Cacbon, thống dưới
Hệ tầng La Khê (C
1
lk)
Hệ tầng La Khê được A.M. Mareichev và Trần Đức Lương xác lập năm
1965 vi mặt cắt chuẩn là mặt cắt ga La Khê, huyện Hương Khê, tnh Hà tnh.
13
GIỚI MESOZOI
Hệ Trias, thống giữa
Hệ tầng Đồng Trầu (T
2
a
đt)
Hệ tầng Đồng Trầu được Jamoiđa A.I., Mareichev A.M. xác lập vào năm
1965, vi mặt cắt chuẩn là mặt cắt Mường Sai – Bản Mọt ở vùng Mường Sai, huyện
Quan Hóa, tnh Thanh Hóa.
Khi mi được thành lập, hệ tầng Đồng Trầu được coi là ch phân bố ở vùng
Nam Thanh Hóa và Bắc Nghệ An, kéo dài từ thượng nguồn Sông Luồng – Sông Lò
ở phía Tây Bắc, qua Như Xuân, Quỳnh Lưu xuống các vùng Yên Thành, Diễn
Châu, Cửa Lò ở ven biển. Khi đó mặt cắt chuẩn của hệ tầng không được ch ra cụ
thể mà ch được nêu “Các mặt cắt tốt nhất có thể quan sát thấy ở đoạn đường sắt
phía Bắc Quỳnh Lưu 10km và trên đường từ Quỳnh Lưu đi Phủ Quỳ”.
Thành phần gồm chủ yếu cuội kết, sạn kết, tuf axit, cát kết tuf xen các lp
kẹp silic dạng dải, bột kết, đá phiến sét, đá vôi, ryolit
Hệ tầng Đồng Trầu trong khu vực nghiên cứu được phân làm 2 phụ hệ tầng
như sau:
- Phụ hệ tầng trên: bao gồm các đá bột kết, cát kết, đá phiến sét, sét vôi, bề
dày 1100 – 1200m.
- Phụ hệ tầng dưi: bao gồm các đá cuội kết, cát kết, bột kết, đá phun trào
axit. Bề dày 1000 – 1100m.
Tổng bề dày của hệ tầng khoảng 2100 – 2300m.
Trong hệ tầng Đồng Trầu phát hiện các hóa thạch Cúc đá tuổi Anisi.
Ranh gii dưi của hệ tầng Đồng Trầu đã được quan sát ở một số nơi, như
vùng Nậm Chơn (Tri Lễ, Nghệ An) và ở chợ Gay (Nghệ An) hệ tầng nằm bất chnh
hợp trên hệ tầng Sông Cả tuổi Orodovic – Silur, và ở vùng Mường Sai thì nằm bất
kết đa khoáng xen bột kết, sét kết, cuội, sạn kết màu xám, chuyển sang đỏ, tím nâu
và mận chín ở phần trên của mặt cắt, chứa một số va than cùng vi các hóa thạch
thực vật, phân bố rải rác từ vùng Tnh Gia ở Nam Thanh Hóa đến vùng núi Xưc ở
Bắc Nghệ An và các vùng Hương Khê, Đức Thọ Hà Tnh.
Khi xác lập hệ tầng Đồng Đỏ, Mareichev A.M định tuổi hệ tầng này là Jura
sm, trẻ hơn các hệ tầng chứa than khác ở Bắc Bộ do phần trên của hệ tầng gồm các
lp trầm tích lục địa màu đỏ làm cho hệ tầng có nét giống vi hệ tầng Hà Cối tuổi
15
Jura ở Đông Bắc Bộ. Hiện nay các lp màu đỏ này đã được xếp vào hệ tầng Nậm
Pô và hệ tầng Đồng Đỏ ch còn gồm trầm tích chứa than Trias thượng, giống như ở
Bắc Bộ ch có 1 giai đoạn thành tạo than trong Mesozoi. Dù có sự thay đổi về khối
lượng này tên gọi của hệ tầng Đồng Đỏ vẫn nên giữ lại, vì dưi tên này vẫn quen
được hiểu là hệ tầng chứa than.
Trong khu vực nghiên cứu, hệ tầng Đồng Đỏ được phân làm 2 phụ hệ tầng:
- Phụ hệ tầng trên: gồm chủ yếu cát kết, cuội kết, sạn kết màu đỏ, bề dày từ
500 – 900m.
- Phụ hệ tầng dưi: gồm cát kết, sạn kết màu đỏ chứa thấu kính than, bề dày
800 – 1500m.
Tổng bề dày của hệ tầng khoảng 1300 – 2400m.
Hóa thạch của hệ tầng Đồng Đỏ chủ yếu là di tích thực vật, tuy không phong
phú lắm nhưng vẫn thể hiện rõ tính chất của hệ thực vật Hòn Gai vi các loại như
Clathropteris meniscioides, Cladophlebis (Todites) Shensiensis Hóa thạch động vật
không nhiều gồm Chân rìu biển, Chân rìu nưc lợ và hóa thạch Chân lá nưc ngọt,
nưc lợ. Những tài liệu cổ sinh này cho phép xác định tuổi Nori – Res cho hệ tầng
Đồng Đỏ giống như các hệ tầng chứa than Trias thượng khác ở Miền Bắc Việt Nam.
Hệ tầng Đồng Đỏ nằm không chnh hợp trên đá phiến sericit của hệ tầng
Sông Cả tuổi Ordovic – Silur, quan sát được ở vùng Pu Sảng. Hệ tầng nằm chnh
hợp dưi hệ tầng màu đỏ Nậm Pô tuổi Jura sm, quan sát được ở gần Hải Lễ thuộc
vùng Núi Xưc và vùng Pu Sảng.
Hệ Jura, thống trên
3. Bột kết xám sẫm phân lp không đều, xen ít sét kết, cát kết chứa vật chất
than và ít va than đen, óng ánh, dày 45m.
4. Hệ xen kẽ của cát kết hạt thô, hạt vừa màu xám sẫm, xám nâu và bột kết xám
nâu, phân lp không đều cùng ít lp sạn kết hạt nhỏ màu vàng; dày 25 – 35m.
5. Chủ yếu là cuội kết, sạn kết xen cát kết hạt thô, cuội kết màu xám nâu; dày 250m.
Bề dày chung của hệ tầng khoảng 500 – 550m.
Cho đến nay trong hệ tầng không thu hoạch được hóa thạch gì khác ngoài
các di tích thực vật.
Hệ tầng Khe Bố nằm không chnh hợp trên hệ tầng Sông Cả tuổi Ordovic –
Silur, hoặc trên hệ tầng Quy Lăng tuổi Trias giữa, Ladin.
Hệ Đệ Tứ
Trầm tích bở rời hệ Đệ Tứ chiếm diện tích không ln trong khu vực nghiên
cứu, vi thành phần bao gồm Bazan olivin, màu xám sẫm, cấu tạo đặc sít; và hỗn
hợp cuội, sạn, sỏi, cát sét.
Bề dày của hệ khoảng 30 – 40m.
17 Hình 1.5. Sơ đồ địa chất khu vực nghiên cứu
Học viên thực hiện: Nguyễn Thị Lệ Huyền
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Canh
18
1.3.2. Hoạt động magma xâm nhập
Trong khu vực nghiên cứu phân bố các thành tạo magma xâm nhập sau:
Phức hệ Đại Lộc (G
2
/D
1
đl):
- Pha 2: chứa granit fespat kiềm dạng porphyr.
- Pha 3: chứa đá mạch aplit pegmatit.
Xâm nhập tuổi không xác định (G
b
): có thành phần bao gồm
gabropyroxen, gbrodiabas.
19
1.4. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT KHOÁNG SẢN
Diện tích tnh Nghệ An đã được đo vẽ bản đồ địa chất tỷ lệ 1:500.000,
1:200.000. Các công trình này chủ yếu giải quyết các vấn đề địa chất khu vực và
phát hiện các loại khoáng sản kim loại như thiếc Quỳ Hợp, sắt Bản Chiềng, khoáng
sản nhiên liệu .v.v.; còn các điểm sắt nhỏ chưa được điều tra đầy đủ.
Nghiên cứu địa chất liên quan đến quặng sắt và điều tra, đánh giá, thăm dò
chúng như là khoáng sản độc lập trên địa bàn tnh Nghệ An còn rất hạn chế, tiêu
biểu có các công trình:
- Năm 1961, Nguyễn Tây Hồ và chuyên gia Trung Quốc (Chu Viễn Thọ) đã điêu
tra sơ bộ 1 số điểm quặng sắt triển vọng ở Nghệ An như sắt Vân Trình, sắt Võ Nguyên.
- Từ năm 1971 đến nay, các vùng triển vọng khoáng sản của Nghệ An đã
được đo vẽ bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản tỷ lệ 1:50.000, gồm: vùng Bắc
Quỳ Hợp (Đinh Minh Mộng, năm 1971); vùng Bản Chiềng (Nguyễn Văn Đễ, năm
1975); nhóm tờ Tương Dương (Trần Toàn và nnk, năm 1998); nhóm tờ Diễn Châu -
Nam Đàn - Vinh (Hoàng Ưu, Nguyễn Đức Chính, năm 1980); vùng Nam Vinh; kết
quả công tác tìm kiếm thiếc - vofram và các khoáng sản khác vùng Bản Chiềng
(Lưu Kim Thiệu, năm 1993); kết quả tìm kiếm đánh giá vàng - antimon Tà Sỏi
(Trần Đình Sâm, năm 1994).
Các công trình trên tập trung làm rõ cấu trúc điạ chất và điều tra phát hiện
thiếc, chì – kẽm, vàng, antimon Một số điểm quặng sắt như Bản Chọt, Bản Nà
Niếng, Tà Sỏi, Hoa Sen - Đập Bể, Võ Nguyên… cũng được điều tra sơ bộ, lấy và
phân tích một số mẫu không đáng kể.
Các điểm quặng sắt Vân Trình, Nghi Văn, sắt – mangan Hoa sen – Đập Bể,
- Thu thập tài liệu về các loại hình vỏ phong hóa Việt Nam.
Mỗi tài liệu, thu thập các thông tin: vị trí điểm lộ quặng sắt, các công trình
hào, hố gặp quặng, điều kiện giao thông, mức độ nghiên cứu, khối lượng tiến hành,
đặc điểm địa chất và đặc điểm thân quặng; thành phần khoáng vật quặng, nguồn
gốc, quy mô (dài, rộng, dày), chất lượng quặng (hàm lượng TFe, Fe
2
O
3
, SiO
2
,
Al
2
O
3
, S, P, v.v), và triển vọng quặng.
21
1.5.1.2. Lộ trình địa chất
Đối vi phương pháp này, vì điều kiện đi lại rất khó khăn nên chúng tôi ch
khảo sát một số điểm quặng đặc trưng như điểm quặng limonit Tống Phái, điểm
quặng limonit Bản Ban, Đồng Xưng, Bản Quèn, Bản Xạt.
Lộ trình khảo sát địa chất chủ yếu bố trí theo các tuyến có phương vuông góc
thân quặng gốc hay thân quặng Eluvi - Deluvi; các tuyến khảo sát cách nhau 400m,
các điểm mô tả chi tiết trên tuyến cách nhau 100m. tuyến lộ trình tập trung đan dày
ở những khu có triển vọng khoáng sản.
Việc sử dụng phương pháp lộ trình địa chất để điều tra nghiên cứu quặng là
rất hiệu quả, qua đó giúp chúng ta kiểm tra, quan sát, mô tả các loại hình vỏ phong
hóa liên quan, cũng như nắm lại tổng thể các điểm quặng sắt limonit trong khu vực
nghiên cứu về vị trí, diện phân bố, quy mô, đặc điểm của chúng, định hưng tốt cho
công tác nghiên cứu tiếp theo.
khoang hào dài 5.0m; rộng 1.0m; sâu 3 – 5.0m (trung bình 3.7m).
Ngoài ra hào còn được sử dụng để phát hiện và đánh giá thân quặng sắt Eluvi
- Deluvi có chiều dày > 3m mà bằng hố không khống chế được. Vị trí thi công hào
đã được xem xét rất kỹ trong lộ trình địa chất nhằm đảm bảo hiệu quả các công
trình gặp quặng cao.
Tuy khối lượng công trình khai đào (hào, hố, vết lộ) rất hạn chế, diện phân
bố đối tượng nghiên cứu ở nhiều nơi, nhiều điểm quặng, song hiệu quả sử dụng
chúng lại rất cao và tiết kiệm. Kết quả thi công các công trình đã làm rõ đặc điểm