Vận dụng phương pháp dạy học theo nhóm để tổ chức dạy các chủ đề về phương trình và bất phương trình ở trường THPT phù ninh - Pdf 23

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài khóa luận
Sự phát triển của xã hội và đổi mới của đất nước đang đòi hỏi cấp bách
phải nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Cùng với những thay đổi về nội
dung cần có những thay đổi căn bản về PPDH. Ngày nay trên thế giới cũng
như đất nước ta, quan điểm về đổi mới PPDH và học đã thay đổi, chuyển từ
“lấy thầy làm trung tâm” sang “lấy trò làm trung tâm”, trong đó xác định vị trí
chủ thể của người học, thầy là tác nhân của quá trình dạy học. Hay nói cách
khác PPDH cần hướng vào việc tổ chức cho người học học tập trong hoạt
động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo.
Định hướng đổi mới PPDH đã được thể chế trong luật giáo dục:
“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động, tư duy
sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng
say mê học tập và ý chí vươn lên” (Luật giáo dục 2005, chương I, điều 5). Và
“ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, tư
duy sáng tạo của HS, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo
nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập của HS” (Luật giáo dục 2005,
chương II, mục 2, điều 28).
Như vậy đổi mới PPDH không phải là đưa ra PPDH hoàn toàn mới, mà
chủ yếu là kết hợp hài hòa, vận dụng linh hoạt những ưu điểm của PPDH
truyền thống và không truyền thống, sao cho phù hợp với đối tượng HS và
đặc thù bộ môn nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là HS tự giác, tích cực,
chủ động học tập, khơi dậy trí thông minh sáng tạo, lòng ham hiểu biết, khám
phá, tác phong học tập nghiêm túc, khoa học.
Những năm gần đây, đổi mới PPDH đã được các cấp quản lí giáo dục
quan tâm nhiều, coi đó là nội lực của ngành, cần được khai thác triệt để, nhằm
1
tạo ra “bước nhảy” về chất lượng giáo dục. Ở các trường THPT cũng bước
đầu thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập theo chủ chương đổi
mới nhưng chưa được các thầy cô giáo đón nhận nồng nhiệt. Tình trạng chung

đề về PT và BPT ở trường THPT Phù Ninh.
Phương pháp thử nghiệm sư phạm: Tổ chức thử nghiệm ở trường
THPT Phù Ninh để kiểm tra tính khả thi của phương án đã đề xuất.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: DHTN để tổ chức dạy các chủ đề về PT và BPT.
- Phạm vi nghiên cứu: Dạy học chủ đề về PT và BPT ở trường THPT
Phù Ninh.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
a) Ý nghĩa khoa học.
Kết quả nghiên cứu khóa luận góp phần làm phong phú về mặt lý luận,
khẳng định vai trò của hoạt động nhóm đối với phát huy tính tích cực của HS. Từ
đó, đề xuất quy trình DHTN trong dạy học chủ đề PT và BPT ở trường THPT.
b) Ý nghĩa thực tiễn.
Biện pháp tổ chức hoạt động nhóm cho HS trong dạy học Toán 10 ở
trường THPT Phù Ninh đưa ra trong khóa luận sẽ giúp chúng tôi và đồng nghiệp
vận dụng vào quá trình dạy học Toán nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của khóa luận
được trình bày trong 3 chương:
Chương I: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương II: Vận dụng phương pháp dạy học theo nhóm để tổ chức dạy
các chủ đề về phương trình và bất phương trình
Chương III: Thử nghiệm sư phạm
3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu dạy học theo nhóm
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về dạy học nhóm trên Thế Giới
Từ thuở xưa khi mới xuất hiện nhà trường đầu tiên thì PPDH cũng ra
đời từ đó. Đó là PPDH theo kiểu thuyết trình, GV giảng giải cho HS chân lí,
HS chỉ nghe, ghi chép và học thuộc.

hành để học”, “học phải kết hợp với lao động sản xuất và hoạt động xã hội”,
“trong nhà trường là giáo dục cho học trò phương pháp học tập, phương pháp
giải quyết vấn đề”. Năm 1980, khẩu hiệu “biến quá trình giáo dục thành tự
giáo dục, biến quá trình học thành tự học” đã được triển khai ở một số trường
THPT như: Lê Văn Tám (Hà Nội), Trần Quốc Toản (Huế) và một số trường ở
Quảng Trị.
Từ những năm (1945 – 1995) phát triển sự nghiệp giáo dục Việt Nam
có thể xem đã ba lần cải cách giáo dục đều tập trung vào thay đổi mục tiêu và
nội dung học mà chưa đề cập nhiều đến cải cách phương pháp giáo dục. Vì
thế trong nhà trường Việt Nam lĩnh vực phương pháp giáo dục trở nên lạc hậu
cản trở việc thực hiện mục tiêu giáo dục tiên tiến: Dù thầy có tích cực truyền
đạt, giảng giải thì trò vẫn tiếp thu thụ động trong quá trình giáo dục.
Những năm gần đây, tiếp tục sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo
một số nơi đã tiến hành nghiên cứu thí điểm, thử nghiệm phương pháp tích
cực với nhiều hình thức cụ thể, phong phú và đã đạt được những kết quả bước
đầu. Một trong những kết quả của quá trình nghiên cứu ứng dụng, thí điểm
thử nghiệm phương pháp tích cực nói trên đồng trí Nguyễn Kỳ Nguyên Thứ
trưởng Bộ Giáo Dục – Đào Tạo, cố vấn khoa học của những thí điểm có hiệu
quả như ở trường tiểu học Lê Văn Tám (Hà Nội), và một số trường tiểu học ở
Quảng Trị (Thừa Thiên Huế). Cuốn sách (Thiết kế bài học theo phương pháp
tích cực) là sản phẩm đầu tiên của công trình nghiên cứu, ứng dụng các
phương pháp giáo dục tích cực, những tài liệu đổi mới phương pháp biện
5
pháp, hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực của HS như các
tác giả: Trần Bá Hoành, Đinh Quang Báo…Những tư tưởng quan điểm về
một mô hình dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm đã xuất hiện từ
lâu, tuy nhiên cho đến nay phương pháp này vẫn chưa thâm nhập vào thực
tiễn nhà trường phương pháp này vẫn chưa được áp dụng rộng rãi.
1.2. Khái niệm PPDH và phương pháp DHTN
1.2.1. Khái niệm PPDH

Tóm lại DHTN là một hình thức tổ chức dạy học, trong đó dưới sự tổ
chức và điều khiển của GV, HS được chia thành từng nhóm nhỏ, kết lại với
nhau trong một hoạt động chung, với phương thức tác động qua lại của các
thành viên, bằng trí tuệ tập thể mà hoàn thành các nhiệm vụ học tập.
1.3. Cơ sở lí thuyết của phương pháp dạy học theo nhóm
1.3.1. Cơ sở triết học
Triết học duy vật biện chứng khẳng định mọi sự vật, hiện tượng trong
thế giới khách quan đều vận động và phát triển không ngừng. Nguyên nhân
của sự vận động, phát triển này là sự nảy sinh và giải quyết liên tục các mâu
thuẫn bên trong và bên ngoài. Trong đó các mâu thuẫn bên trong và bên ngoài
cộng hưởng với nhau tạo thành một hợp lực.
Học là quá trình không ngừng nảy sinh và giải quyết các mâu thuẫn bên
trong và bên ngoài. Điều đó tạo ra nội lực và ngoại lực thúc đẩy sự phát triển
của bản thân người học. Theo quy luật phát triển chung, ngoại lực dù có mạnh
đến đâu vẫn chỉ là sự hỗ trợ thúc đẩy nội lực mới là nhân tố quyết định. Vì
vậy, trong dạy học HS phải là chủ thể tích cực tự giác của hoạt động học tập,
tự mình chiếm lĩnh tri thức bằng chính hành động của mình, tự phát triển từ
bên trong. Nói cách khác, HS phải tự học và biết cách tự học. Tuy nhiên, năng
lực tự học sẽ khó có thể phát triển nếu thiếu sự hướng dẫn, tổ chức của GV và
sự hợp tác của các bạn cùng học. Do đó, cần phải kết hợp nội lực và ngoại
7
lực, cá nhân hóa với xã hội hóa (việc học) nhằm tiến tới trình độ cao nhất của
sự phát triển và cộng hưởng ngoại lực – dạy, hợp tác với nội lực – tự học. Quá
trình tự học, tự nghiên cứu, cá nhân hóa việc học phải kết hợp với việc hợp
tác với các bạn trong cùng một nhóm, lớp và quá trình dạy của GV, tức là quá
trình xã hội việc học.
1.3.2. Cơ sở xã hội học
Giáo dục, về bản chất, là quá trình xã hội hóa cá nhân. Không có xã hội
hóa thì không có cá nhân hóa. Mối quan hệ giữa xã hội hóa và cá nhân hóa là
mối quan hệ biện chứng. Nhóm nhỏ là nơi giao nhau giữa các tác động từ xã

Giờ học hiện đại không chỉ truyền đạt những kiến thức quy định cho
HS mà còn hướng đến sự phát triển tư duy, trí tuệ và nhân cách HS, hình
thành các kỹ năng thực hành, chuẩn bị cho HS thích ứng, hòa nhập với đời
sống xã hội.
+ Về nội dung:
Nội dung của giờ học hiện đại không chỉ là những kiến thức khái quát
mà còn là những bài tập nhận thức dưới dạng các tình huống để phát triển tư
duy sáng tạo, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thực tiễn cho HS.
+ Về phương pháp:
Giờ học hiện đại coi trọng rèn luyện cho HS phương pháp tự học, phát
huy sự tìm tòi độc lập hoặc theo nhóm qua thảo luận. GV quan tâm tới việc
vận dụng vốn hiểu biết kinh nghiệm của HS và tập thể HS để xây dựng nội
dung bài học, giáo án được thiết kế theo kiểu phân nhánh để GV linh hoạt
điều chỉnh theo diễn biến của tiết học với sự tham gia tích cực của HS, tạo
điều kiện cho HS bộc lộ phát triển tiềm năng của mình.
9
+ Về hình thức tổ chức dạy học:
Giờ học hiện đại sử dụng phối hợp và linh hoạt cả ba hình thức: Toàn
lớp, nhóm, cá nhân. Trong đó, hình thức nhóm tỏ ra rất có ưu thế trong việc
tích cực hóa hoạt động nhận thức và hợp tác của HS. Các thiết bị dạy học,
bàn, ghế và không gian giờ học được bố trí cơ động và linh hoạt cho phù hợp
với yêu cầu của tiết học.
+ Về đánh giá:
HS chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, được tham gia vào
quá trình đánh giá lẫn nhau.
Với các ý nghĩa trên đây ta thấy giờ học hiện đại phát huy được tính
tích cực, chủ động của HS và cũng từ đó ta thấy việc đổi mới PPDH là cần
thiết và hình thức dạy học hợp tác theo nhóm là một hình thức dạy học mới
đáp ứng được các yêu cầu của giờ học hiện đại.
1.4. Bản chất của quá trình tổ chức DHTN

HS nắm được kiến thức mới, kỹ năng mới, nắm phương pháp tạo ra kiến thức
đó, kỹ năng đó.
+ Chú trọng rèn luyện cho HS phương pháp tự học
Thông qua việc thảo luận, tìm cách giải quyết các vấn đề, báo cáo trình
bày các vấn đề, GV rèn luyện cho HS phương pháp, kỹ năng, thói quen có ý
chí tự học, tự nghiên cứu.
+ Kết hợp giữa đánh giá của GV với tự đánh giá của HS
Ngay trong cuộc thảo luận hay cuối tiết học, GV có thể đánh giá được
ngay khả năng học tập của từng HS về mức độ tiếp thu kiến thức, tính năng
động, sáng tạo, trong học tập. GV kịp thời thu được những thông tin từ phía
HS của mình. Cũng qua buổi học HS có điều kiện tự đánh giá mình và tham
gia đánh giá lẫn nhau giữa các bạn cùng nhóm.
11
1.6. Cấu trúc, chức năng của quá trình tổ chức DHTN
Trong quá trình DHTN, hoạt động dạy và hoạt động học được thực hiện
theo nhiều chu trình kế tiếp nhau. Sự kết thúc của một chu trình này sẽ là điểm
xuất phát cho một chu trình khác cao hơn tương ứng và lôgic vận động của bài
học. Mỗi chu trình gồm nhiều giai đoạn và mỗi giai đoạn lại có một chức năng
của quá trình tổ chức DHTN. Về cơ bản, trong một chu trình tổ chức DHTN,
hoạt động dạy và hoạt động học được tiến hành theo bốn giai đoạn:
+ Hoạt động của GV
Lấy hoạt động của HS làm trung tâm, GV chủ động khởi xướng các
mối quan hệ tương tác: Thầy – nhóm – trò, làm cho chúng vận động và phát
triển vì hiệu quả thực tế của HS theo trình tự sau:
(1) Hướng dẫn HS tự nghiên cứu → (2) Tổ chức thảo luận nhóm →
(3) Tổ chức thảo luận lớp → (4) Kết luận kiểm tra, đánh giá.
+ Hoạt động của HS
Theo sự hướng dẫn của GV, HS tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động
học tập, tích cực và chủ động chiếm lĩnh tri thức qua các giai đoạn sau:
(1) Tự nghiên cứu cá nhân → (2) Thảo luận nhóm → (3) Thảo luận lớp

về thể thức, phương pháp và sản phẩm của hoạt động. Đặc trưng của dạng này
là cả lớp chịu trách nhiệm về mặt mục tiêu chung được thực hiện thông qua
nhiệm vụ riêng biệt của từng nhóm. Ưu điểm nổi bật của dạng này là giúp cho
GV có thể thực hiện dạy học phân hóa theo trình độ và năng lực của từng
nhóm HS, chứa đựng nhiều khả năng áp dụng cho các bài học có nội dung
được cấu tạo phân nhánh. Tuy nhiên, cũng như dạng 1, dạng này chưa tạo ra
được sự phụ thuộc tích cực và tính chịu trách nhiệm cá nhân cao ở HS.
13
Dạng 3: Thống nhất ở cấp độ lớp nhưng phân hóa ở cấp độ nhóm
Đây là dạng mà các nhóm trong lớp có nhiệm vụ giống nhau, nhưng
các thành viên trong nhóm có nhiệm vụ khác nhau. Cụ thể là các nhóm chịu
trách nhiệm về một mục tiêu duy nhất được thực hiện thông qua nhiệm vụ của
từng thành viên. Ở đây các hoạt động cá nhân được tổ chức lại và liên kết hữu
cơ với nhau nhằm thực hiện nhiệm vụ chung. Ưu điểm của dạng này là tạo ra
được một sự phụ thuộc tích cực giữa các thành viên trong nhóm. Mỗi HS phải
chịu trách nhiệm cá nhân về nhiệm vụ của mình, thành tích của họ có ảnh
hưởng trực tiếp tới thành tích chung của cả nhóm. Vì vậy, buộc họ phải tích
cực nỗ lực, không thể trông chờ ỷ lại vào người khác. Hơn nữa, dạng này có
thể giúp cho GV giao những nhiệm vụ phù hợp với trình độ và năng lực của
từng HS, qua đó thực hiện dạy học cá biệt hóa. Tuy nhiên, dạng này chỉ thích
hợp với bài học có cấu trúc nội dung phân nhánh, còn đối với những bài học
có cấu trúc nội dung đường thẳng rất khó thực hiện.
Dạng 4: Phân hóa ở cấp độ lớp và phân hóa ở cấp độ nhóm
Đây là dạng được tạo nên bởi sự kết hợp giữa dạng 2 và dạng 3. Khi tổ
chức dạng này cần tiến hành qua 2 bước:
Bước 1: Thành lập các nhóm phân hóa, giữa các nhóm trong lớp có
nhiệm vụ khác nhau, nhưng các thành viên trong nhóm có nhiệm vụ giống
nhau. Giao nhiệm vụ và tổ chức cho các nhóm giải quyết nhiệm vụ của mình,
khi nhiệm vụ chung được giải quyết xong, nhóm giải tán.
Bước 2: Thành lập các nhóm mới, các thành viên của nhóm mới được

I A
1
B
1
C
1
D
1
E
1
G
1
II A
2
B
2
C
2
D
2
E
2
G
2
III A
3
B
3
C
3

VI A
6
B
6
C
6
D
6
E
6
G
6
Sơ đồ 1.1: Kỹ thuật tổ chức nhóm
15
Ở sơ đồ trên
+ Cột dọc: Các nhóm đồng nhất. Gồm các nhóm A, B, C, D, E, G.
+ Hàng ngang: Các nhóm hỗn hợp. Gồm các nhóm: I, II, III, IV, V, VI.
Như vậy, mỗi HS đồng thời là thành viên của hai nhóm, nhóm đồng
nhất và nhóm hỗn hợp. Sau một vài lần tập, khi thành lập kiểu nào, GV chỉ
cần ra hiệu lệnh là HS có thể tìm ra nhóm của mình.
Để thành lập sơ đồ trên, GV cần tiến hành theo ba bước:
+ Phân loại HS theo sáu mức độ: Giỏi, khá, trung bình khá, trung bình,
yếu và kém.
+ Xắp xếp: Các HS có cùng một mức độ vào một nhóm theo cột dọc,
trong trường hợp thừa, GV có thể để hai em vào cùng một vị trí trong sơ đồ.
+ Đối chiếu theo hàng ngang để thành lập các nhóm hỗn hợp.
Lựa chọn theo kiểu nào, theo chúng tôi, phụ thuộc vào tính chất phân
hóa về nhiệm vụ nhận thức được thực hiện ở cấp độ nào. Nếu nhiệm vụ nhận
thức được phân hóa ở cấp độ lớp thì chọn kiểu nhóm đồng nhất. Còn ở cấp độ
nhóm thì chọn kiểu nhóm hỗn hợp. Và ở trong một giờ học, chúng ta có thể

chương trình, kế hoạch dạy học.
- Tìm hiểu đặc điểm và trình độ của HS.
- Xác định những kiến thức cơ bản, những kỹ năng và thái độ cần thiết
hình thành cho HS.
+ Bước 2: Thiết kế nội dung của bài học
- Phân tích nội dung của bài học.
- Xây dựng cấu trúc nội dung bài học.
- Thiết kế các tình huống dạy học.
17
- Xác định thời gian cho từng tình huống và phân hóa chúng cho phù
hợp với từng HS và từng nhóm HS.
+ Bước 3: Ra quyết định lựa chọn
- Các phương pháp và phương tiện dạy học.
- Các dạng tổ chức DHTN.
- Các biện pháp tổ chức và điều khiển hoạt động của nhóm.
* Hoạt động của HS
Dưới sự hướng dẫn của GV, HS cần tiến hành:
+ Bước 1: Tự xác định mục tiêu của bài học
- Tự tìm hiểu mục tiêu của môn học.
- Tự xác định vị trí của bài học trong chương trình.
- Tự xác định những tri thức cơ bản, những kỹ năng và thái độ cần phải
chiếm lĩnh.
+ Bước 2: Nghiên cứu nội dung bài học
- Tự xác định những tri thức chính và phụ.
- Xác định mối quan hệ giữa các phần của bài học.
- Tự đặt ra câu hỏi và tình huống.
+ Bước 3: Tự lựa chọn
- Các phương pháp học tập chủ yếu.
- Các phương tiện và đồ dùng học tập cá nhân.
- Cách tổ chức hoạt động của cá nhân trong giờ học nhóm.

+ Bước 1: Gia nhập nhóm
- Nhập các nhóm.
- Tiếp nhận nhiệm vụ chung từ GV.
- Tiếp nhận vai trò của nhóm.
- Tiếp nhận nhiệm vụ cá nhân trong từng nhóm.
19
+ Bước 2: Tự nghiên cứu cá nhân
- Tìm hiểu chủ đề, đề xuất nhiệm vụ.
- Xây dựng giả thuyết cho tình huống.
- Chứng minh giả thuyết.
- Đánh giá, thử nghiệm các giải pháp đã tìm được.
+ Bước 3: Hợp tác với các bạn trong nhóm.
- Trình bày kết quả nghiên cứu trước nhóm.
- Tỏ thái độ trước ý kiến của bạn.
- Góp ý bổ sung vào các kết quả nghiên cứu của bạn.
- Ghi lại các ý kiến theo cách hiểu của mình.
- Khai thác ý kiến của bạn, bổ sung và điều chỉnh các kết quả nghiên
cứu của mình.
+ Bước 4: Hợp tác với các bạn trong lớp.
- Đại diện cho nhóm trình bày các kết quả nghiên cứu của nhóm.
- Tỏ thái độ trước các ý kiến của nhóm khác.
- Ghi lại các kết quả nghiên cứu của nhóm khác theo cách hiểu của mình.
- Khai thác bổ sung và điều chỉnh các kết quả nghiên cứu của mình.
+ Bước 5: Hợp tác với thầy, tự đánh giá, tự điều chỉnh
- So sánh, đối chiếu với kết luận của thầy.
- Chốt lại từng vấn đề.
- Bổ sung, hoàn thiện kết quả.
- Rút kinh nghiệm về cách học.
1.8.3. Giai đoạn tổng kết bài học của GV và HS
* Hoạt động của GV

- Tự đánh giá về mức độ trưởng thành về tri thức, kỹ năng thái độ.
- Xác định những nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại.
21
- Đề xuất các giải pháp khắc phục các tồn tại.
+ Bước 3: Tiếp nhận nhiệm vụ mới
- Tiếp nhận nhiệm vụ của bài học mới.
- Tiếp nhận sự hướng dẫn cách lựa chọn phương pháp, phương tiện học tập.
- Tiếp nhận sự hướng dẫn về cách lựa chọn, sử dụng tài liệu học tập.
Kết thúc 3 giai đoạn quy trình hoàn thành, quay trở lại từ đầu để thực
hiện một quy trình khác.
1.9. Ý nghĩa của việc tổ chức DHTN
* DHTN và việc lĩnh hội kiến thức, phát triển tư duy trí tuệ của HS
Học tập theo nhóm, HS được khuyến khích tranh luận và ứng dụng
những gì đã học được vào thực tiễn, nhờ đó mà họ thẩm thấu và chuyển hóa
những kiến thức đã lĩnh hội thành khối kinh nghiệm vững chắc của bản thân.
Hơn nữa, khi tham gia vào nhóm học tập HS được tiếp xúc với nhiều cách
giải thích, chiến lược giải quyết khác nhau cho cùng một vấn đề. Vì vậy,
những hiểu biết của HS không chỉ bó hẹp trong phạm vi cá nhân mà được mở
rộng ra rất nhiều là được xã hội hóa ở mức độ cao. Trong hoạt động học tập
theo nhóm bản thân mỗi HS thường đóng vai trò là GV, họ có trách nhiệm
giải thích, làm sáng tỏ một vấn đề nào đó mà thành viên khác chưa hiểu. Quá
trình đó giúp HS tự học nhiều hơn.
Như vậy học theo nhóm, người mạnh đã giúp người yếu, làm mình
phong phú thêm không phải bằng sự bắt trước mà chính là sự đối chiếu với
các quan điểm khác của mình. Đó chính là nguồn gốc của mọi sự tiến bộ.
* DHTN và sự phát triển nhân cách của HS
Nhân cách của con người được hình thành và phát triển bằng hoạt động
và giao lưu của mỗi cá nhân trong môi trường xã hội. Các mối quan hệ mà cá
nhân tham gia càng phong phú, đa dạng càng góp phần nhanh chóng vào việc
hoàn thành nhân cách của họ. Sự liên kết và phối hợp hoạt động giữa các HS

hoạt động của GV và HS. Vì vậy không gian lớp học cần thông thoáng, sáng
sủa và không có tiếng ồn ngoại lai.
+ SGK và tài liệu tham khảo: Học theo nhóm là HS tự học, HS phải tự
nghiên cứu, nội dung của bài học qua SGK và tài liệu tham khảo. Nguồn tài
liệu này cần phong phú và đa dạng về chất lượng và số lượng. Trong điều
kiện nhất định, có thể bố trí các tài liệu tham khảo ở các giá sách treo trên
tường của lớp học để HS tự tra cứu.
+ Các thiết bị, bàn ghế: Trong DHTN, không gian của lớp học được bố
trí một cách đa dạng và sinh động. Vì vậy, các kiểu bàn ghế cần phải gọn nhẹ
có thể bố trí và thay đổi một cách cơ động.
+ Phương tiện kỹ thuật như: Máy tính, các phương tiện trình chiếu, sơ
đồ, biểu bảng,…
* Cơ chế tổ chức điều hành trong nhà trường
+ Thời gian biểu: Bài học, trong DHTN, được thiết kế theo chủ đề. Do
đó, khi xếp thời khóa biểu, các trường THPT một mặt, cần tôn trọng tổng quỹ
thời gian quy định cho chương trình, mặt khác, cần năng động và mềm dẻo
chia thời gian bài học không cố định theo tiết học mà theo chủ đề.
+ Số HS trong một lớp: Mục đích của việc DHTN là hướng tới thực hiện
dạy học phân hóa, cá biệt hóa, nếu sĩ số lớp quá đông, nhiệm vụ này sẽ không
thực hiện được. Thuận lợi nhất cho việc DHTN là lớp học từ 25 - 40 HS.
+ Thể thức kiểm tra, đánh giá: DHTN chủ yếu hướng vào việc phát
triển tư duy HS, dạy cho HS cách học, cách vận dụng tri thức. Vì vậy, nếu
việc kiểm tra, đánh giá chủ yếu dựa vào ghi nhớ máy móc và học thuộc lòng
sẽ làm giảm hiệu quả và hiệu lực của hình thức dạy học này. Các câu hỏi
kiểm tra cần đòi hỏi tính sáng tạo và khả năng vận dụng của HS.
24
b) Các điều kiện chủ quan.
• Điều kiện đối với GV
Để thực hiện tốt vai trò của người hướng dẫn và tổ chức hoạt động,
đồng thời là chỗ dựa tin cậy của HS, GV phải hội tụ đầy đủ các điều kiện sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status