Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––– NGUYỄN VĂN TUẤN NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ
CÔNG CHỨC NGÀNH THUẾ TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN NGỌC SƠN
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu sử
dụng trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình.
Thái Nguyên, năm 2014
TÁC GIẢ Nguyễn Văn Tuấn
Nguyễn Văn Tuấn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Các công trình nghiên cứu có liên quan 3
3. Mục tiêu nghiên cứu 4
3.1. Mục tiêu chung 4
3.2. Mục tiêu cụ thể 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
5. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 5
6. Những đóng góp mới của đề tài 5
7. Bố cục của luận văn 6
Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC 7
1.1. Công chức nhà nước và vai trò của công chức nhà nước 7
1.1.1. Một số khái niệm 7
1.1.2. Vai trò của đội ngũ công chức nhà nước 10
1.2. Công chức ngành Thuế 12
1.2.1. Khái niệm công chức ngành Thuế 12
3.2.1. Chất lượng công chức ngành Thuế tỉnh Vĩnh Phúc theo trình độ
chuyên môn 47
3.2.2. Chất lượng công chức ngành Thuế theo kỹ năng công việc 49
3.2.3. Chất lượng công chức ngành Thuế theo kinh nghiệm và thâm niên
công tác 51
3.2.4. Chất lượng công chức ngành Thuế theo bố trí và sử dụng công chức 52
3.2.5. Chất lượng công chức ngành Thuế theo mức độ hoàn thành công việc 53
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
v
3.3. Đánh giá các nhân tố tác động đến chất lượng đội ngũ cán bộ công chức
ngành Thuế tỉnh Vĩnh Phúc 55
3.3.1. Các nhân tố khách quan 55
3.3.2. Các nhân tố chủ quan 56
3.4. Đánh giá chung chất lượng đội ngũ công chức ở ngành Thuế tỉnh Vĩnh Phúc 61
3.4.1. Những mặt mạnh về chất lượng đội ngũ công chức ngành Thuế tỉnh
Vĩnh Phúc 61
3.4.2. Những hạn chế về chất lượng đội ngũ công chức ngành thuế Vĩnh Phúc 62
3.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế về chất lượng đội ngũ công chức ngành
Thuế tỉnh Vĩnh Phúc 63
Chƣơng 4: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC NGÀNH THUẾ TỈNH VĨNH PHÚC 70
4.1. Các căn cứ để đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ
công chức ở ngành Thuế tỉnh Vĩnh Phúc 70
4.1.1. Những cơ hội thách thức trong việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội
ngũ công chức ở ngành Thuế tỉnh Vĩnh Phúc 70
4.1.2. Định hướng và mục tiêu phát triển ngành Thuế tỉnh Vĩnh Phúc đến
năm 2020 72
4.2. Quan điểm và định hướng nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ở ngành
vii
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBCC : Cán bộ công chức
CC-HĐH : Cải cách hiện đại hóa
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CS&TĐ : Cán sự và tương đương
CVC&TĐ : Chuyên viên chính và tương đương
CVCC&TĐ : Chuyên viên cao cấp và tương đương
ĐCSVN : Đảng cộng sản Việt Nam
ĐTBD : Đào tạo bồi dưỡng
HĐND : Hội đồng nhân dân
NSNN : Ngân sách nhà nước
QLNN : Quản lý nhà nước
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
UBND : Ủy ban nhân dân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Kết quả thu NSNN của ngành Thuế Vĩnh Phúc (1997 - 2012) 43
Bảng 3.2: Tiêu chí giới tính, nhóm tuổi, ngạch công chức ngành Thuế tỉnh
Vĩnh Phúc 47
Bảng 3.3: Trình độ chuyên môn đào tạo công chức ngành Thuế Vĩnh Phúc
(2008 - 2012) 47
xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà nước ở nước ta đã đạt được một số kết quả
nhất định. Song thực tế cho thấy, đội ngũ công chức hành chính nhà nước hiện nay
chưa thực sự ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới.
Đối với ngành Thuế tỉnh Vĩnh Phúc, mặc dù chất lượng đội ngũ công chức
thuế đã từng bước được nâng cao nhưng vẫn còn tồn tại rất nhiều bất cập như:
tình trạng hẫng hụt về cơ cấu, biên chế, chưa hợp lý ngành nghề, chất lượng CBCC
ngành Thuế tỉnh Vĩnh Phúc chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của công việc trong
giai đoạn cải cách và đổi mới, chưa tạo ra tính chuyên nghiệp trong thực thi công
vụ, kỹ năng thực hiện nhiệm vụ vẫn còn lũng túng và hạn chế; bộ phận không nhỏ
CBCC chưa thực sự biết việc, chưa chủ động triển khai công việc, mức độ mẫn cán
và trách nhiệm với công việc được giao chưa cao; cơ sở vật chất phục vụ cho đội
ngũ CBCC thuế còn hạn chế, đào tạo bồi dưỡng công chức thuế chưa gắn với việc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2
sử dụng, chưa có chính sách thỏa đáng để khuyến khích và động viên CBCC học
tập, nghiên cứu…
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, cho thấy:
Thứ nhất: Tiếp tục hoàn thiện, kiện toàn và sắp xếp tổ chức theo hướng gọn
nhẹ, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa, cải cách hành chính, chuẩn hóa
các chức danh cán bộ quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ở ngành
Thuế tỉnh Vĩnh Phúc trong thực thi công vụ nhằm thực hiện có kết qủa các mục
tiêu, nhiệm vụ quan trọng của ngành Thuế tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn mới.
Thứ hai: Trước yêu cầu ngày càng cao của công cuộc cải cách và hiện đại
hóa ngành Thuế nói chung và của ngành Thuế tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng, đòi hỏi
ngành Thuế tỉnh Vĩnh Phúc càng phải quan tâm đến chất lượng đội ngũ công chức,
công chức là nhân tố then chốt, nó có vai trò hết sức quan trọng; được xác định là
nhân tố có tính quyết định đến việc hoàn thành các nhiệm vụ chuyên môn chính trị
của toàn ngành Thuế.
tác giả đã phân tích, lý giải, hệ thống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ.
Các công trình nghiên cứu của tác giả Tô Tử Hạ như: Sổ tay nghiệp vụ cán
bộ làm công tác tổ chức nhà nước; Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ
công chức; Cẩm nang cán bộ làm công tác tổ chức nhà nước…, đã được sử dụng để
giảng dạy cho đội ngũ công chức hành chính nhà nước hiện nay.
Cùng nghiên cứu về công chức, Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính
phủ có báo cáo tổng hợp đề tài: “Năng lực, hiệu quả, hiệu lực quản lý hành chính
nhà nước; thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”. Đề tài này đã tập trung nghiên
cứu về hiệu lực quản lý hành chính nhà nước, trong đó đặt công chức hành chính
nhà nước trong mối quan hệ với việc nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý hành
chính nhà nước. Đề tài: “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức quản lý nhà nước
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của tác giả Nguyễn Bắc
Son đã phân tích đánh giá đội ngũ CBCC Việt Nam, phân tích nguyên nhân dẫn tới
những hạn chế về chất lượng đội ngũ công chức quản lý nhà nước và đưa ra một số
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
4
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, đáp ứng thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn hiện nay và trong những năm tới.
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác
nhau và có những đóng góp nhất định trong việc hoạch định chủ trương, chính sách,
tìm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà
nước ở nước ta.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu chung
Xuất phát từ tình hình thực tiễn về công tác cán bộ, sử dụng, quản lý và chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức ngành Thuế, nghiên cứu đề tài “Nâng cao chất
lƣợng đội ngũ công chức ngành Thuế tỉnh Vĩnh Phúc” đề ra một số giải pháp
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng và Nhà nước về công chức,
công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ công chức; có thể cung cấp thêm các luận cứ
khoa học giúp các cấp lãnh đạo của ngành Thuế tỉnh Vĩnh Phúc trong công tác xây
dựng đội ngũ công chức ngành Thuế.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc đào tạo, bồi dưỡng và
nghiên cứu ở ngành Thuế tỉnh Vĩnh Phúc.
- Ý nghĩa thực tiễn: Các vấn đề nghiên cứu của luận văn nhằm chỉ ra những
mặt còn hạn chế trong công tác quản lý nhân sự tại ngành Thuế tỉnh Vĩnh Phúc, trên
cơ sở đó đưa ra các giải pháp quản lý mang tính cải cách phù hợp.
Luận văn vận những cơ sở lý luận để phân tích, đánh giá thực trạng, tìm ra nguyên
nhân khách quan và chủ quan gây ra những tồn tại, hạn chế trong công tác cán bộ ở ngành
Thuế tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay. Từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm
hoàn thiện và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở ngành Thuế tỉnh
Vĩnh Phúc.
6. Những đóng góp mới của đề tài
Luận văn có những đóng góp sau đây:
- Góp phần vào hệ thống hóa lý luận về đội ngũ công chức thuế, chất lượng
đội ngũ công chức thuế, hệ thống hóa và xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng
công chức thuế.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
6
- Đưa ra những yêu cầu của chiến lược cải cách, hiện đại hóa ngành
Thuế và hội nhập quốc tế đối với việc nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ,
công chức thuế.
- Phân tích và đánh giá đúng thực trạng về chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức tại ngành Thuế tỉnh Vĩnh Phúc, chỉ ra được những kết quả đạt được, hạn chế
và nguyên nhân; đồng thời đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ngành Thuế tỉnh Vĩnh Phúc. Chƣơng 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC
1.1. Công chức nhà nƣớc và vai trò của công chức nhà nƣớc
1.1.1. Một số khái niệm
● Khái niệm công chức
Công chức là một khái niệm chung được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia
trên thế giới để chỉ công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ
quan nhà nước, do ngân sách nhà nước trả lương. Do tính chất đặc thù của mỗi quốc
gia, khái niệm công chức của các nước cũng không hoàn toàn đồng nhất. Có nước
chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những người tham gia các hoạt động quản lý
nhà nước. Một số nước khác có quan niệm rộng hơn, công chức không chỉ bao gồm
những người thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý nhà nước mà còn bao gồm cả
những người làm việc trong các cơ quan có tính chất công cộng.
Theo luật công chức của Cộng hòa Pháp, công chức nhà nước được định
nghĩa như sau:
Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong
các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
8
cộng do nhà nước tổ chức, bao gồm cả trung ương và địa phương nhưng không kể
đến các công chức địa phương thuộc hội đồng thuộc địa phương quản lý.
Theo luật công chức của Nhật Bản, công chức nhà nước được phân thành hai
loại chính gồm công chức nhà nước và công chức địa phương như sau:
Theo luật của Vương quốc Thái Lan: “Công chức là những người được phân
công và được bổ nhiệm một công việc của Chính phủ và nhận lương phù hợp ở một
Bộ, cơ quan Nhà nước hay cơ quan thuộc Chính phủ” (20, tr.83).
Từ những cách quan niệm về công chức của một số quốc gia nêu trên, chúng
ta có thể thấy rằng công chức thường được hiểu một cách chung là những công dân,
được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của
nhà nước ở trung ương hay địa phương, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước
và chịu sự điều chỉnh của luật công chức.
Ở Việt Nam, khái niệm công chức được quy định lần đầu tiên tại Điều 1 của
Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa:
“Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ
thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước đều là công
chức, trừ những trường hợp riêng biệt, do Chính phủ quy định”. Theo khái niệm
này, phạm vi công chức còn rất hẹp, chỉ là những người được tuyển dụng giữ một
chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, không bao gồm những người
làm việc trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các cơ quan của Nhà nước như Tòa
án, Viện Kiểm sát…
Sau đó suốt một thời gian dài, khái niệm công chức ít được sử dụng, thay vào
đó là khái niệm cán bộ, công nhân viên Nhà nước, không phân biệt công chức, viên
chức với công nhân.
Thực hiện công cuộc đổi mới, trước yêu cầu khách quan của tiến trình cải
cách nền hành chính nhà nước đòi hỏi chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà
nước, thuật ngữ công chức được sử dụng trở lại. Tại Nghị định số 169/HĐBT ngày
25/ 5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng, tiếp đó là Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày
17/11/1998 của Chính phủ, Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của
Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan
nhà nước, khái niệm công chức được đề cập một cách rõ ràng, cụ thể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
11
nắm bắt những yêu cầu thực tiễn của cuộc sống để phản ảnh kịp thời với cấp trên,
giúp Đảng và Nhà nước đề ra những chủ trương chính sách sát với thực tiễn.
- Đội ngũ công chức nhà nước là nguồn nhân lực quan trọng có vai trò quyết
định trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, là
một trong những nguồn lực quan trọng trong việc thực hiện công nghiệp hóa hiện
đại hóa đất nước.
- Đội ngũ công chức nhà nước là đội ngũ chủ yếu trực tiếp tham gia xây
dựng đường lối đổi mới kinh tế của đất nước, hoạch định các chính sách, chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức quản lý nhà nước và kiểm tra. Đội ngũ công chức
nhà nước là những nười trực tiếp tạo môi trường, điều kiện về xử dụng công cụ kinh
tế, thực lực kinh tế để tác động, quản lý, điều tiến nền kinh tế thị trường.
Thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế, trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế, vai trò của đội ngũ công chức nhà nước càng trở nên quan trọng, bởi các lý
do sau đây:
- Kinh tế xã hội phát triển toàn diện khiến cạnh tranh trên thị trường thêm
quyết liệt, đòi hỏi càng nhiều phương án, quyết định quản lý và sự lựa chọn phương
án tối ưu càng khó khăn, phức tạp hơn.
- Sự tác động của quá trình quản lý đối với thực tiễn trong điều kiện mới
càng trở nên quan trọng. Các quyết định quản lý sâu sắc, lâu dài, có thể đem lại hiệu
quả lớn những cũng có thể dẫn tới hậu quả nghiêm trọng. Do đó, đối với công chức
nhà nước cần phải có trách nhiệm cao về chất lượng, về tính khoa học trong các
quyết định quản lý.
- Sự tăng nhanh khối lượng tri thức và độ phức tạp của cơ cấu tri thức, trong
đó có tri thức kinh tế và quản lý kinh tế hiện đại, đặc biệt sự xuất hiện của hệ thống
thông tin mới, gồm thông tin quản lý đã và đang và được mở rộng, đòi hỏi đội ngũ
công chức nhà nước phải có khả năng, trình độ để xử lý thông tin.
công chức thuế là nhân tố hợp thành công sở thuế, là người đại diện cho nhà nước,
cho cơ quan thuế để xử lý các mối quan hệ với người nộp thuế theo quy định của
pháp luật. Cán bộ, công chức thuế được coi là dây chuyền, cầu nối giữa Đảng,
Chính phủ với nhân dân, là người đem chính sách, pháp luật thuế của Nhà nước
tuyên truyền giải thích cho nhân dân hiểu và thi hành để nhằm thu đủ, thu đúng, thu
kịp thời tiền thuế của người nộp thuế vào ngân sách nhà nước đồng thời biết lắng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
13
nghe ý kiến phản ánh của nhân dân về chính sách thuế để góp ý với Đảng, Nhà
nước đặt chính sách, pháp luật thuế cho đúng, phù hợp với thực tiễn.
Vì vậy nếu đội ngũ CBCC thuế yếu kém thì chính sách thuế không thể thực
hiện tốt được, mặt khác việc hoạch định, xây dựng chính sách thuế mới sẽ dễ sai
lầm và không phù hợp.
- Cán bộ, công chức thuế là công bộc của nhân dân (người nộp thuế) nghĩa là
người phục vụ các nhu cầu của nhân dân, của xã hội trong khuôn khổ pháp luật. Để
phục vụ nhân dân Nhà nước trao quyền cho cán bộ để làm phương tiện pháp lý để
họ hoàn thành bổn phận công vụ của công chức do mình đảm nhiệm. Chủ tịch Hồ
Chí Minh viết: “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành.
Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu
mọt của dân”
(11)
. Để trở thành công bộc của nhân dân CBCC thuế phải quán triệt
quan điểm khi phục vụ phải tôn trọng pháp luật, tân tụy phục vụ nhân dân (những
người nộp thuế). Thực hiện nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, cán bộ công chức
thuế cần phải có lương tâm trong sáng, chí công vô tư, có trình độ chuyên môn. Kỹ
năng quản lý hành chính và phương pháp công tác để thực thi công vụ, tạo được sự
tín nhiệm với nhân dân. Điều đó đòi hỏi người cán bộ thuế phải thường xuyên rèn
luyện phẩm chất đạo đức, học tập nâng cao trình độ chuyên môn mới trở thành công
- Kiểm tra viên cao cấp thuế (mã ngạch 06.036)
- Kiểm tra viên chính thuế (mã ngạch 06.037)
- Kiểm tra viên thuế (mã ngạch 06.038)
- Kiểm tra viên cao đẳng thuế (mã ngạch 06a. 038)
- Kiểm tra viên trung cấp thuế (mã ngạch 06.039)
- Nhân viên thuế (mã ngạch 06.040)
1.3. Chất lƣợng công chức ngành Thuế
1.3.1. Khái niệm chất lượng công chức ngành Thuế
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang nhanh chóng hội nhập vào nền
kinh tế khu vực và thế giới, ngành Thuế cả nước đã và đang tiếp cận với các hệ
thống quản lý tiên tiến, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả trong lĩnh vực
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
15
quản lý của ngành. Yêu cầu đặt ra đối với công cuộc cải cách hành chính, nhất là
việc không ngừng nâng cao chất lượng đối với đội ngũ cán bộ, công chức.
Thuật ngữ chất lượng được hiểu theo nhiều cách khác nhau:
- Theo từ điển tiếng Việt phổ thông: Chất lượng là tổng thể những tính chất,
thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với
sự vật (sự việc) khác.
- Chất lượng là khả năng thỏa mãn nhu cầu của thị trường với chi phí thấp
nhất (GS. KaoruIshikawa - Nhật Bản).
- Chất lượng còn được hiểu là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc
trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ liệu, các thông số cơ bản (Từ điển của
Oxford Poket Dictionary).
- Theo TCVN ISO 8402: Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể
(đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã
được nêu ra hoặc tiềm ẩn.
- Theo TCVN ISO 9000:2000: Chất lượng là tập hợp các đặc tính vốn có