giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng tmcp xnk việt nam (eximbank) - chi nhánh long biên hà nội - Pdf 23

MỤC LỤC
SV: Lưu Diệu Thuý Lớp: NHA – CĐ26
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTW : Ngân hàng Trung Ương
TCKT : Tổ chức kinh tế
TCTD : Tổ chức tín dụng
TMCP : Thương mại cổ phần
XNK : Xuất nhập khẩu
PGD : Phòng giao dịch
NVHĐ : Nguồn vốn huy động
TGKKH : Tiền gửi khụng kỡ hạn
CLTCL : Chênh lệch thu chi lãi
SV: Lưu Diệu Thuý Lớp: NHA – CĐ26
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
BẢNG
BIỂU
Biểu đồ 2.1: Tăng giảm nguồn vốn qua các năm Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.2: Tăng giảm dư nợ cho vay Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.3: Tình hình hoàn thành kế hoạch huy động vốn Error: Reference
source not found
Biểu đồ 2.4: Tăng giảm nội tệ, ngoại tệ qua các năm Error: Reference source not
found
Biểu đồ 2.5: Cơ cấu NVHĐ theo đối tượng khách hàng gửi tiền Error: Reference
source not found
Biểu đồ 2.6: Cơ cấu nguồn tiền gửi của TCKT theo thời gian Error: Reference
source not found
Biểu đồ 2.7: Tăng giảm chi phí trả lãi qua các năm Error: Reference source not
found

Chính vì vậy, việc nghiên cứu để đưa ra các giải pháp hoàn thiện và
phát triển hoạt động huy động vốn tại các NHTM sẽ có ý nghĩa rất to lớn cả
về lý luận lẫn thực tiễn.
Xuất phát từ những nhận thức trên kết hợp với cơ sở lý luận học tập
tại trường Học viện Ngân hàng và trong thời gian thực tập tại Ngân hàng
Eximbank chi nhánh Long Biên Hà Nội, em đã mạnh dạn nghiên cứu cho đề
SV: Lưu Diệu Thuý Lớp: NHA – CĐ26
1
tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP XNK
Việt Nam (Eximbank) - chi nhánh Long Biên Hà Nội.’’
Trong quá trình nghiên cứu chuyên đề em có sử dụng một số phương
pháp nghiên cứu cơ bản như: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp
lý thuyết hệ thống, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và một số
phương pháp khác.
Chuyên đề tốt nghiệp được trình bày theo 3 chương với nội dung cơ
bản như sau:
Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về huy động vốn và hiệu quả huy
động vốn của NHTM.
Chương II: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Eximbank chi
nhánh Long Biên Hà Nội.
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng
Eximbank chi nhánh Long Biên Hà Nội.
SV: Lưu Diệu Thuý Lớp: NHA – CĐ26
2
Chương I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN
VÀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM
1.1. Tổng quan về huy động vốn của NHTM.
1.1.1. Khái niệm về nguồn vốn và huy động vốn của NHTM.
1.1.1.1. Khái niệm về nguồn vốn.

Theo cách nói truyền thống, một Ngân hàng có hai lĩnh vực kinh doanh
nòng cốt: Huy động vốn và lựa chọn các tài sản sinh lời để đầu tư các nguồn
vốn huy động được. Các Ngân hàng luôn nỗ lực để tạo ra lợi nhuận từ hai lĩnh
vực kinh doanh này.
Huy động vốn là hoạt động thu hút nguồn tiền nhàn rỗi từ nền kinh tế
thông qua các hình thức tiết kiệm định kì, phát hành giấy tờ có giá và các
hình thức khác để tạo nguồn vốn cho vay của NHTM.
Hoạt động huy động vốn là một hoạt động cơ bản nhằm tạo ra tiền đề
cho các hoạt động còn lại của Ngân hàng. Nó quyết định quy mô, phạm vi
hoạt động và quy mô mở rộng tín dụng của Ngân hàng; nó quyết định đến khả
năng thanh toán, chi trả và đảm bảo hoạt động cho Ngân hàng trên thị trường
và đặc biệt nó quyết định đến năng lực cạnh tranh của NHTM trong nền kinh
tế mở cửa như hiện nay.
Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và
quan trọng nhất của NHTM. Hoạt động này mang lại nguồn vốn để Ngân
hàng có thể thực hiện các hoạt động khác như cấp tín dụng và cung cấp các
dịch vụ Ngân hàng cho khách hàng. Nhìn vào bảng cân đối tài sản của
NHTM, chúng ta thấy rằng nghiệp vụ huy động vốn được phản ánh trên phần
tài sản nợ. Do đó, huy động vốn còn được gọi là nghiệp vụ tài sản nợ.
* Đặc điểm của nguồn vốn huy động bao gồm những đặc điểm sau:
 Quy mô của nguồn vốn huy động rất lớn so với nguồn vốn khác.
SV: Lưu Diệu Thuý Lớp: NHA – CĐ26
4
Thông thường vốn huy động chiếm từ 70-80% tổng nguồn vốn là mục tiêu
tăng trưởng hàng năm của NHTM.
 Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các sở hữu khác nhau,
Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu, và phải có trách
nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút
vốn để chi trả trước hạn. Vì vậy Ngân hàng không được phép sử dụng hết số
vốn đó vào hoạt động kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lí để đảm

triển sản xuất kinh doanh từ chính nguồn vốn huy động của ngân hàng.
Việc huy động vốn của ngân hàng giúp cho nền kinh tế có được sự cân
đối về vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Các cơ hội đầu tư luôn có cơ hội
để thực hiện. Quá trình tái sản xuất mở rộng sẽ được thực hiện dễ dàng hơn
với việc huy động vốn của các NHTM. Tuy việc huy động vốn có thể thực
hiện bằng nhiều kênh: thị trường chứng khoán, ngân sách nhà nước…nhưng
trong điều kiện nước ta hiện nay thì huy động vốn qua các NHTM vẫn là hình
thức chủ yếu và quan trọng nhất.
1.1.2.2. Đối với hoạt động kinh doanh của NHTM.
a. Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh.
Để bước vào hoạt động kinh doanh thì đầu tiên ngân hàng cần phải có
vốn. Ngoài lượng vốn bắt buộc phải có, ngân hàng phải huy động từ các
nguồn khác. Ngân hàng đi vay để cho vay. Vậy để có hoạt động cho vay, phải
có thứ để mà cho vay. Nguồn vốn phản ánh tiềm năng và sức mạnh của ngân
hàng. Đối với những ngân hàng lớn, việc tham gia tài trợ cho các dự án lớn
luôn dễ dàng hơn các ngân hàng nhỏ. Vốn không chỉ là phương tiện kinh
doanh mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của các NHTM. Nói cách
khác, không có vốn thì ngân hàng không thể thực hiện các nghiệp vụ kinh
doanh của mình.
b. Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngân
hàng.
SV: Lưu Diệu Thuý Lớp: NHA – CĐ26
6
Hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào vốn của ngân hàng.
Ngân hàng có nhiều vốn sẽ có ưu thế cạnh tranh hơn so với ngân hàng ít vốn.
Có được nhiều vốn ngân hàng sẽ có điều kiện để đưa ra các hình thức tín
dụng linh hoạt, có điều kiện để hạ lãi suất từ đó sẽ làm tăng quy mô tín dụng.
Các ngân hàng lớn, nhiều vốn thường có rất nhiều các dịch vụ ngân hàng.
Phạm vi hoạt động kinh doanh của họ sẽ rộng hơn nhiều các ngân hàng nhỏ.
Chính vì vậy càng khẳng định rõ tầm quan trọng của vốn trong hoạt động

NHTM được huy động vốn dưới các hình thức dưới đây:
• Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới các
hình thức tiền gửi khụng kỡ hạn, tiền gửi cú kỡ hạn và các loại tiền gửi khác.
• Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy
động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được thống đốc
NHNN chấp thuận…
• Vay vốn của các TCTD khác hoạt động tại Việt Nam và của các
TCTD nước ngoài.
• Vay vốn ngắn hạn của NHNN theo quy định của luật NHNN Việt Nam.
1.1.3.1. Huy động vốn thông qua nghiệp vụ tiền gửi
Vốn tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số nguồn
vốn của NHTM, là nguồn vốn chủ yếu để Ngân hàng kinh doanh. Chính vì
vậy người ta gọi NHTM là Ngân hàng kớ thỏc hay Ngân hàng tiền gửi.
 Tiền gửi khụng kỡ hạn
Tiền gửi khụng kỡ hạn là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất
kì lúc nào. Khách hàng có thể yêu cầu Ngân hàng trích tiền từ tài khoàn này
để chi trả cho người được hưởng về tiền hàng hóa, cung ứng lao vụ. Đồng
thời khách hàng cũng có thể yêu cầu Ngân hàng chuyển số tiền được hưởng
vào tài khoản này. Đối với khoản tiền này, mục đích chính của người gửi tiền
là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện các khoản thanh toán qua
SV: Lưu Diệu Thuý Lớp: NHA – CĐ26
8
Ngân hàng, do vậy nó thường được gọi là tài khoản tiền gửi thanh toán. Ở
nhiều nước phần lớn các giao dịch thông qua tài khoản tiền gửi thanh toán
được thực hiện bằng séc và do vậy người ta cũng có thể gọi đây là tài khoản
tiền gửi có thể phát hành séc.
Tiền gửi có thể phát hành séc là một nguồn vốn quan trọng và rẻ nhất
của NHTM.
Với tính chất như vậy, giải pháp chủ yếu tăng cường nguồn vốn này
không phải là yếu tố lãi suất mà là sự an toàn, thuận tiện của nguồn vốn gửi

Ở Việt Nam, các hình thức tiền gửi tiết kiệm bao gồm:
 Tiền gửi tiết kiệm khụng kỡ hạn:
Sản phẩm tiền gửi tiết kiệm khụng kỡ hạn được thiết kế dành riêng cho
đối tượng khách hàng cá nhân hoặc tổ chức, có tiền tạm thời nhàn rỗi muốn
gửi Ngân hàng vì mục tiêu sinh lời và an toàn nhưng không thiết lập được kế
hoạch sử dụng tiền gửi trong tương lai. Đối với khách hàng khi chọn lựa hình
thức tiền gửi này thì mục tiêu an toàn và tiện lợi quan trọng hơn là mục tiêu
sinh lời. Đối với Ngân hàng, vì loại tiền gửi này khách hàng muốn rút bất cứ
lúc nào cũng được nên Ngân hàng phải đảm bảo tồn quỹ để chi trả và khó lên
kế hoạch sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng. Do vậy, Ngân hàng thường trả lãi
suất thấp cho loại tiền gửi này.
Mặc dù, số dư trên tài khoản tiền gửi tiết kiệm khụng kỡ hạn của khách
hàng thường không lớn (do chỉ được hưởng lãi suất ở mức thấp) nhưng nếu
Ngân hàng thu hút được số lượng khách hàng khá lớn thì tổng khối lượng vốn
huy động qua hình thức tiền gửi này có thể trở nên lớn đáng kể.
 Tiền gửi tiết kiệm cú kỡ hạn:
Khác với tiền gửi tiết kiệm khụng kỡ hạn, tiền gửi tiết kiệm định kì được
thiết kế dành cho khách hàng cá nhân và tổ chức có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu
an toàn, sinh lời và thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai.
Đối tượng chủ yếu của loại tiền gửi này là các khách hàng cá nhân
SV: Lưu Diệu Thuý Lớp: NHA – CĐ26
10
muốn có thu nhập ổn định và thường xuyên, đáp ứng cho việc chi tiêu hàng
tháng hoặc hàng quý. Đa số khách hàng thích lựa chọn hình thức gửi tiền này
là công nhân, viên chức, hưu trí. Mục tiêu quan trọng của họ khi lựa chọn
hình thức này là lợi tức có được theo định kì. Do vậy, lãi suất đóng vai trò
quan trọng để thu hút được đối tượng khách hàng này.
Là loại tiền gửi được rút ra sau một thời gian nhất định. Tuy vậy khách
hàng có nhu cầu rút tiền trước hạn cũng có thể được đáp ứng với điều kiện
được hưởng lãi suất thấp (thường bằng mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm khụng

• Trái phiếu:
Trái phiếu là một chứng thư xác nhận một khoản nợ của Ngân hàng
phát hành đối với người sở hữu, trong đó cam kết sẽ hoàn trả nợ kốm lói trong
một thời gian nhất định. Nó là một công cụ nợ dài hạn của Ngân hàng và
thông qua việc phát hành trái phiếu, Ngân hàng có thể thu hút được nguồn
vốn trung và dài hạn để phục vụ cho những kế hoạch quy mô lớn và dài hạn.
Trái phiếu được phát hành với quy mô lớn, đồng loạt trên toàn hệ thống Ngân
hàng.
Trên mỗi tờ trái phiếu Ngân hàng có sự xác định về các yếu tố: mệnh
giá, tên Ngân hàng phát hành, thời hạn, lãi suất công bố khi phát hành và thời
hạn trả lãi. Sự hấp dẫn của trái phiếu Ngân hàng là phần lãi cố định với tỷ lệ
chi trả trái tức xác định trên mỗi loại trái phiếu. Trái phiếu cú cỏc loại ghi tên,
không ghi tên, trả lãi trước, trả lãi sau, có thể chuyển nhượng và thừa kế, có
thể được Ngân hàng mua lại theo các thể thức chiết khấu. Hiện nay, các nhà
đầu tư quan tâm đến trái phiếu chuyển đổi có khả năng chuyển đổi thành cổ
phiếu thường và điều này càng làm cho trái phiếu Ngân hàng có tính hấp dẫn
cao hơn.
Trái phiếu cú cỏc loại mệnh giá khác nhau và kì hạn thường là 1 năm, 2
năm, 3 năm, 5 năm.
• Kì phiếu:
SV: Lưu Diệu Thuý Lớp: NHA – CĐ26
12
Kì phiếu Ngân hàng là chứng chỉ huy động vốn có mục đích, có thời
hạn, có lãi suất tương ứng với từng loại kì hạn hoặc phương thức trả lãi trước
hoặc sau. Kì phiếu được Ngân hàng phát hành từng đợt và có thời hạn linh
hoạt, phong phú từ 3 tháng, 6 thỏng… đến 60 tháng. Nhằm mục đích huy
động vốn trong dân cư, đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư sản xuất, cho một số
chương trình, dự án kinh tế hoặc kinh doanh của Ngân hàng.
Kì phiếu có đặc điểm là tính ổn định, tính tập trung và lãi suất cao hơn
so với tiền gửi cú kỡ hạn, và được phép mua bán, chuyển nhượng, chiết khấu,

vay các TCTD trên thị trường liên Ngân hàng hay thị trường tiền tệ - đõy
chớnh là hình thức cho vay nhưng thực chất nó là hình thức tương trợ giữa
các Ngân hàng để có được sự hợp tác đôi bên cùng có lợi. Các Ngân hàng
đang có dự trữ vượt yêu cầu sẽ có thể sẵn lòng cho các Ngân hàng khác vay
để tìm kiếm lãi suất cao và ngược lại.
Ngoài các TCTD, NHNN cũng có thể là nơi cung cấp vốn cho NHTM
dưới hình thức cho vay. Hình thức thường gặp là vay tái chiết khấu. Với vai
trò là người cho vay cuối cùng, NHTW luôn cho các NHTM vay với một mức
giá nhất định, đó là: lãi suất tái chiết khấu. Tuy nhiên, ở hầu hết các nước
NHTW thường không cho phép NHTM lạm dụng khả năng đó bằng các công
cụ như hạn mức tái chiết khấu hay lãi suất tái chiết khấu.
Các khoản vay ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động của các
NHTM không chỉ về mặt quy mô đơn thuần mà chủ yếu ý nghĩa như là một
biện pháp quản lý các mục tài sản nợ.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của NHTM.
Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng là hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ
- là hoạt động nhạy cảm và sự thay đổi của nó có ảnh hưởng rất lớn đến nền
kinh tế. Hoạt động này chịu sự tác động của môi trường xung quanh rất lớn.
Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng cũng không nằm ngoài quy luật đó
và chịu sự tác động của hai nhóm nhân tố: nhân tố khách quan và nhân tố chủ
SV: Lưu Diệu Thuý Lớp: NHA – CĐ26
14
quan.
1.2.1. Nhân tố khách quan.
Đây là các yếu tố mà khi tác động đến ngân hàng sẽ không thể chống
được, đó là các rủi ro không thể tránh. Ngân hàng chỉ có thể nhận thức, dự
báo và tìm cách giảm thiểu các rủi ro khi nó xảy ra.
1.2.1.1. Pháp luật, chính sách của Nhà nước.
Pháp luật được đặt ra là để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội. Do vậy tất
cả mọi hoạt động của ngân hàng đều chịu sự điều chỉnh của luật pháp. Cụ thể

làm cho các NHTM huy động vốn được dễ dàng. Như Achentina năm 2002,
sau khi có những vấn đề về chính trị, người dân ồ ạt kéo đến ngân hàng rút
tiền làm cho cả hệ thống ngân hàng chao đảo. Và cuộc chiến Irac gần đây
cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới, trong đó có sự khó khăn về huy
động vốn của các NHTM.
Nền kinh tế ở trạng thái tăng trưởng hay suy thoái cũng tác động tới
việc huy động vốn của ngân hàng. Ở tình trạng tăng trưởng, người dân cần
nhiều vốn để đầu tư mở rộng quy mô, trang thiết bị. Các ngân hàng phải huy
động nhiều vốn và càng có điều kiện để huy động do tích lũy được nhiều hơn.
Ngược lại ở tình trạng suy thoái, sản xuất bị đình trệ, đầu tư thu hẹp, ngân
hàng huy động vốn khó khăn.
1.2.1.3. Tâm lý, thói quen tiêu dùng của người gửi tiền.
Tập quán tiêu dùng của người dân có tầm ảnh hưởng rất quan trọng đối
với việc huy động vốn của ngân hàng. Rõ ràng ở những vùng, người dân
thường có thói quen gửi tiền vào ngân hàng thì ngân hàng sẽ huy động được
dễ dàng hơn nhiều ở những vùng người dân thường có thói quen cất giữ tiền
trong nhà bằng vàng, bất động sản… Đồng thời ngay thói quen thanh toán khi
mua hàng hóa cũng góp phần làm tăng hay giảm nguồn vốn huy động của
ngân hàng. Ở nhiều nước phát triển, việc thanh toán không dùng tiền mặt là
SV: Lưu Diệu Thuý Lớp: NHA – CĐ26
16
phổ biến, hầu như người dân nào cũng có tài khoản ngân hàng và ngân hàng
trở thành một cái gì đó không thể thiếu trong cuộc sống. Ngược lại, ở một số
nước, thói quen thanh toán bằng tiền mặt vẫn còn ăn sâu, thì nguồn vốn huy
động của ngân hàng sẽ gặp khó khăn. Các tập quán tiêu dùng này khó có thể
thay đổi được ngay trong một sớm một chiều. Do đó, để mở rộng nguồn vốn
huy động các ngân hàng phải nỗ lực hết mình: cải cách quy trình, thủ tục, phát
triển chính sách khách hàng…
Một trong những đặc tính của cộng đồng dân cư đó là tính lan truyền
nhanh chúng. Cuộc đổi tiền năm 1985 – 1986 với tốc độ lạm phát chóng mặt

Không chỉ riêng ngân hàng mà trong bất kỳ hoạt động nào, ngành nghề
nào, yếu tố con người cũng phải đặt lên hàng đầu. Các cán bộ nhân viên ngân
hàng có năng lực sẽ phán đoán, xử lý chính xác các tình huống sẽ làm cho các
hoạt động huy động vốn được thực hiện một cách tốt đẹp. Trình độ của cán bộ
ngân hàng cao sẽ làm cho các thao tác nghiệp vụ được thực hiện nhanh chóng
và hiệu quả. Thái độ trong tiếp xúc của nhân viên với khách hàng cũng rất
quan trọng. Nó có thể lôi kéo khách hàng làm tăng nguồn vốn huy động đồng
thời cũng có thể làm khách hàng rời bỏ gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm
trọng trong hoạt động của ngân hàng, trước hết là trong khâu huy động vốn.
Các nhân viên ngân hàng là những người mang hình ảnh cho cả ngân hàng.
Do đó, để tăng cường huy động vốn thì một điều cực kỳ quan trọng là các
nhân viên ngân hàng phải có đủ những tiêu chí của một nhân viên ngân hàng
chuyờn nghiệp: hiểu biết khách hàng, hiểu biết nghiệp vụ, hiểu biết quy trình,
hoàn thiện phong cách phục vụ.
1.2.2.3. Uy tín của ngân hàng.
Đó là hình ảnh của ngân hàng trong lòng khách hàng, là niềm tin của
khách hàng đối với ngân hàng. Uy tín của mỗi ngân hàng được xây dựng,
hình thành trong cả một quá trình lâu dài. Người gửi tiền khi gửi thường lựa
chọn những ngân hàng lâu đời chứ không phải là những ngân hàng mới thành
SV: Lưu Diệu Thuý Lớp: NHA – CĐ26
18
lập. Ngân hàng lớn thường được ưu tiên lựa chọn so với các ngân hàng nhỏ.
Hình thức bảo hiểm tiền gửi làm tăng độ an toàn, tăng uy tín của ngân hàng.
Một điều quan trọng ở nước ta là hình thức sở hữu cũng có ảnh hưởng quan
trọng đến huy động vốn. Các ngân hàng quốc doanh bao giờ cũng có độ an
toàn cao hơn cho người gửi tiền, uy tín của các ngân hàng thương mại quốc
doanh cao hơn so với các ngân hàng khác. Những ngân hàng có uy tín luôn
chiếm được lòng tin của khách hàng là tiền đề cho việc họ huy động được
những nguồn vốn lớn hơn với chi phỉ rẻ hơn và tiết kiệm được thời gian.
1.2.2.4. Trình độ công nghệ ngân hàng.

đến với Ngân hàng ngày càng đông hơn, từ đó Ngân hàng có thể giới thiệu
các hình thức huy động đa dạng cho khách hàng, làm cho khách hàng biết đến
sản phẩm của Ngân hàng nhiều hơn, sẽ tạo đà cho hoạt động huy động vốn
phát triển.
1.2.2.6. Hoạt động marketing của ngân hàng.
Mục tiêu cuối cùng của Ngân hàng là vừa thỏa mãn tối đa nhu cầu của
khách hàng vừa đảm bảo khả năng sinh lời, khả năng cạnh tranh an toàn trong
kinh doanh. Và để đạt được mục tiêu đú thỡ marketing Ngân hàng đã trở
thành công cụ không thể thiếu được trong NHTM hiện nay.
Hoạt động Ngân hàng có tính xã hội hóa cao, phụ thuộc chặt chẽ vào
môi trường kinh doanh như môi trường dân cư, môi trường kinh tế, môi
trường chính trị… Nên sự thay đổi của bất kì yếu tố nào cũng có ảnh hưởng
quan trọng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nói chung và hoạt động
huy động vốn nói riêng.
Chính sách Marketing có hai nhiệm vụ chính:
 Một là, nắm bắt kịp thời sự thay đổi của môi trường, thị trường cũng
như nhu cầu của khách hàng đối với dịch vụ, sản phẩm mà Ngân hàng cung
cấp.
 Hai là, xây dựng chính sách, giải pháp thích hợp để thắng đối thủ
SV: Lưu Diệu Thuý Lớp: NHA – CĐ26
20
cạnh tranh đạt được mục tiêu lợi nhuận.
Việc nắm bắt kịp thời sự thay đổi của môi trường, nhu cầu sẽ giúp
Ngân hàng đưa ra những sản phẩm phù hợp, linh hoạt, góp phần đáp ứng
được nhu cầu của khách hàng đồng thời thu hút được lượng vốn lớn. Cũng từ
việc nghiên cứu thị trường, Ngân hàng sẽ đưa ra những sản phẩm mới.
Mặt khác, chính sách khuếch chương sẽ giúp người dân hiểu rõ ràng,
đầy đủ về Ngân hàng thông qua phương tiện thông tin đại chúng, xây dựng
một hình ảnh nhân viên Ngân hàng tận tình, chu đáo, có trình độ chuyờn mụn,
… sẽ tạo lòng tin với khách hàng.

Export Import Commercial Joint - Stock Bank), gọi tắt là Vietnam Eximbank.
Đến nay vốn điều lệ của Eximbank đạt 8.800 tỷ đồng. Vốn chủ sở hữu đạt
13.627 tỷ đồng. Eximbank hiện là một trong những Ngân hàng có vốn chủ sở
hữu lớn nhất trong khối Ngân hàng TMCP tại Việt Nam. Ngân hàng TMCP
Xuất Nhập Khẩu Việt Nam có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước với Trụ
Sở Chính đặt tại thành phố Hồ Chí Minh và 124 Chi nhánh, phòng giao dịch
được đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Quảng Ngãi, Vinh, Hải
Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, An Giang, Bà Rịa-
Vũng Tàu, Đắc Lắc, Lâm Đồng và TP.HCM. Đã thiết lập quan hệ đại lý với
hơn 750 Ngân hàng ở tại 72 quốc gia trên thế giới và hoạt động.
2.1.2. Sự ra đời và phát triển ngân hàng Eximbank - chi nhánh Long Biên.
Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam – chi nhánh Long Biên
SV: Lưu Diệu Thuý Lớp: NHA – CĐ26
22

Trích đoạn Nâng cao chất lượng sử dụng vốn huy động Tăng cường và nâng cao các chiến lược cạnh tranh mới. Nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại. Nâng cao trình độ cán bộ làm công tác huy động vốn. Đối với chính phủ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status