Trường ĐH Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội GVHD: PGS, TS Thái Bỏ Cẩn
MỤC LỤC
KẾT LUẬN 37
Sinh viên: Lê Thị Nhung – Lớp: TC 13.33 MSV: 08D00681N
Trường ĐH Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội GVHD: PGS, TS Thái Bỏ Cẩn
PHÂN MỞ ĐẦU
Ngày nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, dù là nước công nghiệp phát
triển hay đang phát triển, Doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò rất quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân của mỗi nước. Bởi loại hình doanh nghiệp này đã góp phần tạo nên
sự tăng trưởng cho nền kinh tế, đồng thời nó cũng tạo nên sự phát triển đa dạng cho
các ngành kinh tế góp phần cải thiện cán cân thanh toán, tăng xuất nhập khẩu hàng
hóa thành phẩm và tạo ra việc làm chủ yếu cho hơn 80% lực lượng lao động ở cả nông
thôn và thành thị.
Nhận thức được tầm quan trọng của các DNNVV và thực hiện theo đúng tinh
thần chỉ đạo của Đảng và Chính phủ, Ngành ngân hàng, NHTMCP Á Châu về đầu tư,
hỗ trợ phát triển cho các DNNVV. Trong những năm qua, NHTMCP chi nhánh Hà
Nội đã có nhiều cố gắng tích cực trong việc mở rộng tín dụng, cung ứng vốn hỗ trợ
cho các DNNVV nhằm mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư đổi mới
trang thiết bị, công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, trình độ cán bộ,…từ đó, tạo
ra thế cạnh tranh mạnh mẽ hơn trên thị trường trong nước và quốc tế.
Qua thời gian thực tập tại chi nhánh Hà Nội, em nhận thấy chi nhánh đã đáp
ứng vấn đề củng cố và nâng cao hiệu quả cho vay. Tuy nhiên, do nhiều nhân tố khách
quan và chủ quan mà hiệu quả cho vay vẫn chưa hoàn toàn được đảm bảo, còn có
những vấn đề tồn tại, vướng mắc cần tiếp tục được nghiên cứu tìm ra giải pháp giải
quyết hữu hiệu để đem lại chất lượng và hiệu quả tốt nhất cho việc đầu tư cho vay.
Xuất phát từ nhận định đó em đã chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay
đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu - chi
nhánh Hà Nội” cho luận văn tốt nghiệp của mình.
• Kết cấu của đề tài
Tên đề tài : “Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu - chi nhánh Hà Nội.”
• Chất lượng lao động thấp.
Mặc dù là nơi tạo việc làm chủ yếu trong mọi lĩnh vực. Mỗi năm thu hút hàng
triệu lao động nhưng hầu hết chất lượng lao động trong các DNNVV rất thấp vì các
doanh nghiệp này thường tận dụng nguồn lao động rẻ tại địa phương, họ ít được đào
tạo về chuyên môn, nghiệp vụ do đó hiệu quả lao động chưa cao. Hơn nữa doanh
nghiệp này có quy mô vốn nhỏ nên rất ít có các chương trình đào tạo giúp nâng cao
tay nghề cho lao động của doanh nghiệp.
• Các DNNVV ở Việt Nam thường có công nghệ lạc hậu, thủ công.
Hầu hết các DNNVV ở Việt Nam đều sử dụng công nghệ lạc hậu nên sản
phẩm thường làm ra thường có giá trị công nghệ thấp, hàm lượng chất xám ít, giá trị
thương mại và sức cạnh tranh kém so với sản phẩm cùng loại của các quốc gia trong
khu vực và trên thế giới. Tình trạng máy móc thiết bị, công nghệ lạc hậu đã và đang là
nguyên nhân chính của tình trạng lãng phí trong sử dụng nguyên nhiên vật liệu và ô
nhiễm môi trường…
• Trình độ quản lý của chủ DNNVV bị hạn chế, thiếu thông tin và khó có khả
năng thu hút các nhà quản lý và lao động giỏi.
Nguồn tài chính của các DNNVV thấp nên họ thường gặp khó khăn trong việc
tiếp cận thông tin thị trường, công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý tiên tiến cũng như
ít có khả năng mua sắm những thiết bị hiện đại do nguồn tài chính bị hạn chế. Các nhà
quản lý doanh nghiệp chưa được đào tạo, thiếu sự hiểu biết như hiện nay. Hơn nữa do
quy mô sản xuất nhỏ, sản phẩm tiêu thụ không nhiều, các DNNVV khó có thể trả lương
cao cho người lao động nên khó có khả năng thu hút được người có trình độ cao trong sản
xuất kinh doanh và quản lý điều hành doanh nghiệp.
• Các DNNVV có năng lực tài chính thấp.
Sinh viên: Lê Thị Nhung – Lớp: TC 13.33 MSV: 08D00681N
3
Trường ĐH Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội GVHD: PGS, TS Thái Bỏ Cẩn
Vốn luôn là khó khăn lớn nhất với sự tăng trưởng của DNNVV. Khi mới thành
lập, phần lớn các DNNVV thường gặp phải vấn đề về vốn. Các nhà đầu tư, các tổ chức
tài chính thường e ngại khi tài trợ cho các doanh nghiệp này bởi các DNNVV chưa có uy
thì đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội bức xúc. Ở hầu hết các nước cũng như
ở Việt Nam, khối DNNVV lại thu hút nhiều lao động hoặc có tốc độ thu hút lao động
mới cao hơn khối doanh nghiệp lớn.
Sinh viên: Lê Thị Nhung – Lớp: TC 13.33 MSV: 08D00681N
4
Trường ĐH Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội GVHD: PGS, TS Thái Bỏ Cẩn
Thứ tư, các DNNVV góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường.
Do lợi thế của quy mô nhỏ là năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh có sự
kết hợp chuyên môn hóa và đa dạng hóa mềm dẻo, hòa nhịp với nền kinh tế thị trường.
Thứ năm, khối DNNVV thu hút được khá nhiều vốn trong dân. Hầu hết các
DNNVV dựa vào vốn tự có, vốn huy động ngoài rất ít. Do tính chất nhỏ lẻ, dễ phân
tán, đi sâu vào các ngõ ngách, yêu cầu vốn ban đầu không nhiều cho nên các DNNVV
có vai trò, tác dụng rất lớn trong việc thu hút các nguồn vốn nhỏ lẻ nhàn rỗi trong các
tầng lớp dân cư đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Thứ sáu, góp phần đẩy nhanh qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt với
khu vực nông thôn. Sự phát triển DNNVV ở nông thôn sẽ thu hút người lao động ở
nông thôn thiếu hoặc chưa có việc làm vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, rút dần lực
lượng lao động ở nông thôn chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ.
Thứ bảy, các DNNVV là nơi ươm mầm các tài năng kinh doanh, là nơi đào tạo,
rèn luyện các nhà doanh nghiệp, giúp họ làm quen với môi trường kinh doanh. Cùng
với việc phát triển các DNNVV là sự xuất hiện của các nhà kinh doanh trên nhiều lĩnh
vực, đây là lực lượng rất cần thiết góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh ở nước ta
phát triển. Đội ngũ các nhà kinh doanh ở Việt Nam hiện nay còn rất khiêm tốn cả về
số lượng và chất lượng do chịu ảnh hưởng của chế độ cũ.
1.1.4. Thực trạng hoạt động của các DNNVV hiện nay ở Việt Nam.
Bên cạnh những đóng góp và những phát triển đáng kể thì các DNNVV vẫn
còn gặp rất nhiều khó khăn, thách thức trong hoạt động, đặc biệt trong nền kinh tế
khủng hoảng như hiện nay thì các khó khăn càng trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết.
• Khó khăn về tiếp cận vốn:
Vấn đề tiếp cận vốn là vấn đề đầu tiên có ý nghĩa quyết định, tình trạng thiếu
• Điều kiện hạ tầng cho cơ sở sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp
còn nhiều bất cập, chi phí đầu vào cho sản xuất lớn.
Do quy mô nhỏ kéo theo hiệu quả kinh doanh không cao. Cũng do nguồn
năng lực tài chính còn yếu nên để thực hiện việc giao dịch trực tiếp với các đối tác
nước ngoài còn nhiều khó khăn và hạn chế, đặc biệt là điều kiện hạ tầng không đủ
khả năng cho các doanh nghiệp dự trữ các nguyên liệu, nên thường phải thu mua từ
các sở đại lý, làm tăng chi phí sản xuất.
1.2. Những vấn đề cơ bản về Ngân hàng thương mại.
1.2.1.Khái niệm Ngân hàng Thương mại.
Theo pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: “ Ngân hàng thương
mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà phục vụ thường xuyên và chủ yếu là
nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để
cho vay, chiết khấu và làm phương tiện để thanh toán.”
1.2.2.Các hình thức cho vay của Ngân hàng Thương mại.
1.2.2.1. Theo phương thức cho vay:
Sinh viên: Lê Thị Nhung – Lớp: TC 13.33 MSV: 08D00681N
6
Trường ĐH Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội GVHD: PGS, TS Thái Bỏ Cẩn
• Thấu chi:
Là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi vượt
trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong một
khoảng thời gian xác định ( gọi là hạn mức thấu chi ).
• Cho vay trực tiếp từng lần và dài lần:
Hình thức này áp dụng đối với doanh nghiệp không có nhu cầu vay thường
xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Doanh nghiệp phải làm
đơn trình phương án sử dụng vốn; ngân hàng thẩm định hồ sơ vay vốn, kí hợp đồng,
xác định quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu có
đảm bảo nếu cần. Lãi suất có thể cố định hay thả nổi theo thời điểm tính lãi. Mỗi
món vay được tách biệt thành các hồ sơ (khế ước nhận nợ) khác nhau. Nghiệp vụ
cho vay từng phần tương đối đơn giản, ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay
binh, Hội phụ nữ… hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang tổ
chức trung gian như thu nợ, phát tiền vay… Tổ chức trung gian cũng có thể đứng ra
tín chấp cho các thành viên trong nhóm vay. Ngân hàng nhường một phần thu nhập
cho các tổ chức trung gian. Hình thức này giảm bớt rủi ro, chi phí cho ngân hàng
song nó bộc lộ các khuyết điểm như nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế của mình để
tăng lãi suất cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của thành viên khác cho riêng mình,
các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán hàng kém chất lượng hoặc với giá đắt cho
người vay vốn.
1.2.2.2. Theo thời hạn vay:
• Cho vay ngắn hạn ( dưới 12 tháng)
Đây là loại hình cho vay phổ biến của NHTM nhằm đáp ứng; nhu cầu thanh
khoản đối với các tổ chức tài chính, quỹ tín dụng; đáp ứng nhu cầu dự trữ thời vụ
hoặc tăng chi phí sản xuất; tài trợ cho vay xuất nhập khẩu và cho vay thanh toán.
• Cho vay trung và dài hạn (có thời hạn từ 12 tháng trở lên):
Hình thức này đáp ứng nhu cầu vay vốn mở mang ngành nghề sản xuất kinh
doanh, mua sắm tài sản cố định, đổi mới thiết bị sản xuất, đầu tư xây dựng cơ bản
…đối với các doanh nghiệp; và nhu cầu mua sắm tiêu dùng lâu bền như nhà cửa,
phương tiện vận chuyển đối với người tiêu dùng.
1.2.2.3. Theo mức độ đảm bảo.
• Cho vay không có thời hạn đảm bảo:
Đây là hình thức cho vay mà doanh nghiệp không có bất kỳ một loại tài sản
bảo đảm nào, việc đảm bảo cho khoản vay chỉ hoàn toàn dựa trên uy tín của chính
doanh nghiệp hoặc bên thứ ba đứng ra bảo lãnh cho doanh nghiệp. Hình thức này
thường áp dụng cho doanh nghiệp truyền thống, có tín nhiệm, tình hình tài chính
vững mạnh.
• Cho vay có tài sản đảm bảo:
Là hình thức cho vay mà doanh nghiệp phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc
được bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba hoặc của ngân hàng chấp thuận.
1.2.2.4. Theo đối tượng mục đích cho vay:
• Cho vay tiêu dùng:
nước,phù hợp với chiến lược phát triển của NHTM và mang lại hiệu quả trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay của NHTM.
1.3.2.1. Chỉ tiêu định tính:
(1) Uy tín đã có của Ngân hàng đối với các khách hàng:
Chỉ tiêu này được đánh giá thông qua thời gian, mật độ giao dịch, giá trị giao
dịch tín dụng của khách hàng tại Ngân hàng. Nếu khách hàng có quan hệ giao dịch
lâu dài với khách hàng, thường xuyên vay vốn dưới nhiều hình thức và giá trị khoản
vay lớn thì rõ ràng hiệu quả cho vay của ngân hàng được đánh giá cao. Còn nếu
khách hàng chỉ giao dịch với ngân hàng một vài lần với giá trị không đáng kể thì
Sinh viên: Lê Thị Nhung – Lớp: TC 13.33 MSV: 08D00681N
9
Trường ĐH Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội GVHD: PGS, TS Thái Bỏ Cẩn
hiệu quả sử dụng vốn, lợi nhuận của ngân hàng thấp, hiệu quả cho vay của ngân
hàng không thể cao được.
(2) Sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ cho vay của NH:
Nếu khách hàng hài lòng và chấp nhận mức lãi suất cho vay, mức phí dịch vụ,
các loại hình cho vay, thời gian xử lý hồ sơ, thái độ nhiệt tình của cán bơ tín dụng thì
hiệu quả cho vay của ngân hàng được đánh giá là cao và ngược lại.
(3) Chính sách cho vay của ngân hàng:
Cụ thể về chính sách cho vay như tiêu chuẩn xét cho vay đối vói khách hàng,
tiêu chuẩn xếp hạng cho vay, hạn mức cho vay đối với một khách hàng, các mức lãi
suất, các biện pháp bảo đảm cho vay, các biện pháp giám sát, thu hồi nợ, xử lý các
khoản vay có vấn đề như chậm trả gốc, lãi, sử dụng vốn không đúng mục đích…
Nếu các chính sách của ngân hàng mang tính cạnh tranh với các ngân hàng khác,
duy trì và thu hút khách hàng mà vẫn đảm bảo được lợi nhuận, rủi ro ở mức chấp
nhận được thì chứng tỏ ngân hàng có hiệu quả cho vay được đảm bảo và ngược lại.
(4) Quy trình thẩm định cho vay:
Cụ thể đây là việc phân tích, tách chức năng nhiệm vụ của từng đối tượng
tham gia công tác cho vay, đề ra từng công việc cụ thể cần phải làm trong từng khâu
nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định.
Doanh số thu nợ: Doanh số thu nợ phản ánh số vốn mà doanh nghiệp đã
hoàn trả cho ngân hàng trong từng thời kỳ. Doanh số này phản ánh hai khả năng trái
ngược nhau. Một là, doanh nghiệp đạt hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh
doanh nên hoàn trả vốn vay ngân hàng đúng hạn. Hai là, ngân hàng nhận thấy
những dấu hiệu không lành mạnh trong việc kinh doanh của doanh nghiệp mà tăng
cường việc thu hồi vốn.
(3)Chỉ tiêu nợ quá hạn:
Nợ quá hạn là khoản nợ đến thời hạn thanh toán không được ngân hàng cho
gia nợ, giãn nợ mà người vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.
Chỉ tiêu nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất
lượng cho vay của ngân hàng, nó phản ánh những rủi ro cho vay mà ngân hàng phải
đối mặt.
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Dư nợ quá hạn
x 100%
Tổng dư nợ
(4)Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời từ hoạt động cho vay đối với
DNNVV.
Mức sinh lời cho
vay DNNVV
=
thu nhập thuần từ hoạt động cho vay DNNVV
x 100%
Tổng dư nợ cho vay DNNVV
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng dư nợ cho vay DNNVV sẽ tạo ra bao
nhiêu đồng thu nhập thuần cho ngân hàng. Chỉ tiêu này phản ánh trực tiếp hiệu quả
cho vay DNNVV, cho biết khả năng sinh lời của hoạt động cho vay DNNVV.
Sinh viên: Lê Thị Nhung – Lớp: TC 13.33 MSV: 08D00681N
11
gặp khó khăn trong việc trả nợ, hiệu quả cho vay của ngân hàng bị giảm sút.
• Các chủ trương chính sách vĩ mô của Nhà nước.
Các chủ trương chính sách của Nhà nước có tác động hết sức to lớn tới hoạt
động cho vay của NHTM. Việc Nhà nước đưa ra những định hướng, chính sách ,
mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đặc biệt là chính sách tiền tệ quốc gia có ảnh
hưởng đặc biệt đến hoạt động cho vay của NHTM chịu tác động trực tiếp từ các
công cụ của chính sách tiền tệ như dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở, chính
sách chiết khấu và tái chiết khấu…Ngoài ra các chính sách kinh tế vĩ mô như chính
sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu v.v. có tác động đến mọi hoạt động của nền
kinh tế vì nó tác động trực tiếp đến các doanh nghiệp là các doanh nghiệp vay vốn
của NHTM.
Sinh viên: Lê Thị Nhung – Lớp: TC 13.33 MSV: 08D00681N
12
Trường ĐH Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội GVHD: PGS, TS Thái Bỏ Cẩn
• Môi trường chính trị - xã hội.
Một quốc gia có môi trường chính trị - xã hội ổn định và phát triển sẽ tạo
điều kiện thuận lợi và yên tâm cho các nhà đầu tư. Xã hội có ổn định thì nền kinh tế
mới được phát triển, bất cứ một sự biến động nào về chính trị hay xã hội cũng đều
gây ra sự xáo động cho toàn bộ nền kinh tế. Do đó mà sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng, làm tác động đến hoạt động của ngân hàng trong
đó có hoạt động cho vay.
• Các yếu tố bất khả kháng.
Các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh có thể phải
đối mặt với những yếu tố bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh…
Những yếu tố này sẽ gây ra những tổn thất cho họ khiến cho việc trả nợ ngân hàng
bị suy giảm thậm chí là mất khả năng trả nợ. Điều này ảnh hưởng lớn đến hiệu quả
cho vay của ngân hàng.
1.3.3.2. Các nhân tố chủ quan:
Nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc về ngân hàng, Đây là nhân tố quan
trọng nhất quyết định đến hiệu quả cho vay của các NHTM.
phải phát triển được hoạt động huy động vốn. Ngân hàng có thực hiện tốt công tác
huy động vốn thì mới có thể nâng cao được hiệu quả cho vay. Nếu một ngân hàng
có được chính sách tín dụng hợp lý, có chiến lược doanh nghiệp tốt, thu hút được
nhiều doanh nghiệp vay vốn có uy tín nhưng số vốn huy động được không đủ để
cấp tín dụng kho doanh nghiệp thì không những hoạt động cho vay không thể tiến
hành được mà còn mang lại rủi ro lớn cho hoạt động chung của ngân hàng.
• Trình độ và phẩm chất của cán bộ ngân hàng:
Con người luôn là trung tâm của mọi hoạt động, con người là yếu tố quyết định
đến sự thành công hay thất bại trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất cứ
doanh nghiệp nào, hoạt động cho vay của NHTM cũng không nằm ngoài sự tác
động đó. Hiệu quả cho vay cao hay thấp phụ thuộc khá nhiều vào công tác tuyển
chọn và đào tạo đội ngũ cán bộ của mỗi NHTM. Một NHTM có được một đội ngũ
cán bộ nhân viên có trình độ chuyên môn cao, phẩm chất đạo đức tốt thì việc thực
hiện các nghiệp vụ ngân hàng nói chung và nghiệp vụ cho vay nói riêng sẽ trở nên
có hệ thống, chuyên nghiệp và đạt hiệu quả cao hơn.
Sinh viên: Lê Thị Nhung – Lớp: TC 13.33 MSV: 08D00681N
14
Trường ĐH Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội GVHD: PGS, TS Thái Bỏ Cẩn
Chương 2
Thực trạng hoạt động cho vay đối DNNVV tại Chi nhánh Hà Nội
2.1. Giới thiệu khái quát về chi nhánh Hà Nội:
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của NHTMCP Á Châu chi nhánh
Hà Nội:
Ngân hàng Thương mại cổ phận Á Châu – Chi nhánh Hà Nội thành lập ngày
14/03/1994, là chi nhánh đầu tiên tại Hà Nội tại 184 – 186 Bà Triệu, Hai Bà
Trưng , Hà Nội. Hiện nay, chi nhánh có khoảng 150 nhân viên, đã và đang là ngôi
sao đi lên trong ngôi nhà chung Ngân hàng Á Châu. Trong thời gian hoạt động 18
năm này, chi nhánh đã đạt được khá nhiều thành tích nổi bật gần đây nhất như:
+ Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2011
+ Ngân hàng nội địa tốt nhất Việt Nam 2011
phòng
Bộ
phận
hỗ trợ
quan
hệ
khách
hàng
Bộ phận
quan hệ
khách
hàng cá
nhân
Bộ
phận
quan
hệ
khách
hàng
DN
Kế
toán
giao
dịch
Phòng
kho
quỹ
Kế
toán
nội
Tỷ
trọng
(%)
CL % CL %
1 2 3 4 5 6 7 8=4-2 9=8/2 *100 10=6-4 11=10/4*100
Tổng dư
nợ cho
vay
3652,4 100 5269,82 100 7288,16 100 1617,42 44,28 2018,34 38,30
I. Dư nợ
theo thời
gian
3652,4 100 5269,82 100 7288,16 100 1617,42 44,28 2018,34 38,30
1. Nợ ngắn
hạn
2527,46 69,2 3230,39 61,3 4766,46 65,4 702,93 27,81 1536,07 47,55
2. Nợ
trung hạn
810,83 22,2 1454,47 27,6 1829,32 25,1 643,64 79,38 374,85 25,77
3. Nợ dài
hạn
314,1 8,6 584,96 11,1 692,38 9,5 270,86 86,23 107,42 18,36
II.Dư nợ
theo đối
tượng
3652,4 100 5269,82 100 7288,16 100 1617,42 44,28 2018,34 38,30
1. TCKT 2819,65 77,2 4057,76 77 6063,75 83,2 1238,11 43,91 2005,99 49,44
2. Cá nhân 832,75 22,8 1212,06 23 1224,41 16,8 379,31 45,55 12,35 1,02
III. Dư nợ
theo loại
Dư nợ theo đối tượng
Ta thấy rằng dư nợ của TCKT năm 2010 tăng gấp 1,4 lần so với năm 2009, mức
tăng trưởng là 43,91% tương ứng với 1238,11 tỷ đồng, đó là do chi nhánh đã thực hiện
chiến lược quảng bá thương hiệu, các chương trình khuyến mãi vẫn được duy trì tốt
nên năm 2011, dư nợ theo TCKT đã tăng lên 2005,99 tỷ đồng, với mức tăng trưởng
49,43%. Tuy nhiên do ảnh hưởng suy thoái kinh tế nhu cầu tiêu dùng của dân giảm sút
do vậy mà nhu cầu vay cũng có phần giảm theo, dư nợ khách hàng cá nhân đã giảm,
được thể hiện rõ nhất ở năm 2011, dư nợ cá nhân chỉ còn chiếm 1,02% tương ứng với
12,35 tỷ đồng, đã giảm 40 lần so với năm 2010(45,54%), đó quả là con số khồng hề
nhỏ.
Dư nợ theo loại tiền:
Qua bảng số liệu trên cho thấy, dư nợ theo loại tiền VND năm 2009 là chiếm 53%
tổng dư nợ. Năm 2010, dư nợ đã tăng lên 1463,26 tỷ đồng so với lại năm 2009. Do giá
vàng tăng, người dân đầu tư vào ngoại tệ nên năm 2011, dư nợ theo loại tiền VND đã
xuống thấp hơn 1032,17 tỷ đồng, giảm 30,36 % so với năm 2010. Tuy nhiên, dư nợ theo
ngoại tệ lại lên cao hơn so với các năm trước . Năm 2011 đạt 2856,96 tỷ đồng, chiếm
39,2% tổng dư nợ, tăng 986,17 tỷ đồng so với năm 2010.
2.1.3.3.Kết quả kinh doanh của Chi nhánh Hà Nội:
Nhìn chung kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Hà Nội trong giai đoạn
2009-2011 tăng trưởng khá tốt. Dưới đây là bảng thể hiện lợi nhuận trước thuế của chi
nhánh.
Sinh viên: Lê Thị Nhung – Lớp: TC 13.33 MSV: 08D00681N
18
Trường ĐH Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội GVHD: PGS, TS Thái Bỏ Cẩn
Bảng 2: Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh Hà Nội:
Đơn vị : Tỷ đồng
Chỉ tiêu Thực hiện So sánh
2009 2010 2011 2010/2009 2011/2010
Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền % Số tiền %
1 2 3 4 5=3-2 6=5/2*100 7=4-3 8=7/4*100
lưu động của doanh nghiệp. Vốn ngân hàng chỉ tham gia vào từng phương án, thương
Sinh viên: Lê Thị Nhung – Lớp: TC 13.33 MSV: 08D00681N
19
Trường ĐH Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội GVHD: PGS, TS Thái Bỏ Cẩn
vụ kinh doanh hay một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp bởi chỉ khi có nhu cầu thời vụ hay mở rộng sản xuất thì các doanh
nghiệp mới vay ngân hàng.
2.2.1.2. Cho vay theo hạn mức tín dụng.
Cho vay theo hạn mức là hình thức cho vay theo đó ngân hàng và cho doanh
nghiệp xác nhận và thỏa thuận một hạn mức tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư
của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định.
2.2.1.3. Cho vay theo hạn mức thấu chi.
Thấu chi doanh nghiệp là dịch vụ mà chi nhánh cung cấp cho doanh nghiệp,
trong đó chi nhánh thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho doanh nghiệp chỉ vượt số
tiền có trên tài khoản tiền gửi bằng VND tại chi nhánh hay hệ thống ngân hàng ACB
tới một giá trị nhất định trong 1 khoảng tời gian nhất định.
2.2.1.4. Cho vay theo dự án đầu tư.
Cho vay theo dự án là việc ACB cho doanh nghiệp vay dưới dạng hạn mức
nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư theo dự án doanh nghiệp.
2.2.1.5. Cho vay hợp vốn ( đồng tài trợ).
Cho vay hợp vốn là hình thức cho vay mà ACB cùng cho vay trong một nhóm
các tổ chức tín dụng đối với một chương trình, dự án của doanh nghiệp đầu tư của
doanh nghiệp, trong đó ngân hàng ACB hoặc một tổ chức tín dụng đứng ra làm đầu
mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức khác.
Để được sử dụng các sản phẩm tín dụng nói trên, ngoài các hồ sơ vay vốn cần
thiết, các doanh nghiệp khi đi vay phải có các tài sản đảm bảo cầm cố hoặc thế chấp
hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Tài sản đảm bảo có thể bao gồm: Máy móc
thiết bị, nguyên vật liệu, hàng hóa, số dư trên tài khoản tiền gửi, kim khí và đá quý,
trái phiếu, cổ phiếu, sổ tiết kiệm, quyền đòi nợ, quyền tác giả,…Tài sản thế chấp bao
gồm: Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất, quyền sử dụng đất,…Việc lựa chọn
Sinh viên: Lê Thị Nhung – Lớp: TC 13.33 MSV: 08D00681N
21
Trường ĐH Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội GVHD: PGS, TS Thái Bỏ Cẩn
2.2.2.2. Chỉ tiêu cơ cấu nợ vay của DNNVV.
Bảng 4. Cơ cấu dư nợ theo thời hạn vay của DNNVV tại chi nhánh.
Đơn vị : Tỷ đồng
Chỉ tiêu Thực hiện So sánh
2009 2010 2011 2010/2009 2011/2010
Số tiền % Số tiền % Số tiền % CL % CL %
1 2 3 4 5 6 7 8=4-2
9=8/2
*100
10=6-4 11=10/4*100
Tổng dư
nợ
DNVVN
2064,34 100 3395,35 100 4416,62 100 1331,01 64,47 1021,27 30,07
1. Nợ
ngắn hạn
1779,67 86,21 2807,95 82,7 3587,18 81,22 1028,29 57,78 779,22 27,75
2. Nợ
trung
hạn
237,81 11,52 435,96 12,84 742,43 15,41 198,15 83,32 306,47 70,30
3. Nợ dài
hạn
46,86 2,27 151,43 4,46 87,01 1,97 104,57 223,16 -64,43 -42,55
Qua số liệu ở bảng 4 cho thấy :
• Dư nợ ngắn hạn của DNNVV :
Khách hàng chủ yếu của chi nhánh là các DNNVV, các nhân có quy mô nhỏ và
bộ nhân viên của chi nhánh.
2.3. Hiệu quả cho vay của chi nhánh đối với DNNVV :
2.3.1. Chỉ tiêu nợ theo nhóm của DNNVV :
Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/3/2005 của NHNN, NH Á
Châu – Chi nhánh Hà Nội đã thực hiện phân loại nợ kể từ năm 2005, theo đó dư nợ
của chi nhánh Hà Nội được chia thành 5 nhóm :
Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn.
Nhóm 2: Nợ cần chú ý.
Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn.
Nhóm 4: Nợ nghi ngờ.
Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn.
Thực trạng cho vay DNNVV phân theo nhóm của chi nhánh được phản ánh ở bảng
5
Sinh viên: Lê Thị Nhung – Lớp: TC 13.33 MSV: 08D00681N
23
Trường ĐH Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội GVHD: PGS, TS Thái Bỏ Cẩn
Bảng 5 : Cơ cấu dư nợ cho vay của DNNVV phân theo nhóm tại chi nhánh Hà Nội
Đơn vị : Tỷ đồng
Chỉ tiêu Thực hiện So sánh
2009 2010 2011 2010/2009 2011/2010
Số tiền
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
Tỷ trọng
(%)
CL % CL %
hàng tăng lên trong năm 2011 cũng tăng lên một phần là do ngân hàng giảm đáng kể
trong việc trích lập các khoản dự phòng rủi ro bù đắp các khoản nợ quá hạn.
Sinh viên: Lê Thị Nhung – Lớp: TC 13.33 MSV: 08D00681N
24