Khảo sát các bệnh về da do kí sinh trùng và nấm gây bệnh trên chó và ghi nhận kết quả điều trị tại bệnh viện thú y trường đại học nông lâm, tp HCM - Pdf 23

CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Từ xa xưa, chó là loài động vật rất gần gũi vá thân thiết đối với con người. Từ
một loài động vật hoang dã, được thuần hóa để giúp ích cho con người như săn bắt thú
hoang dã, giữ nhà. Ngày nay, nhờ vào tính trung thành mà nó đã trở thành bạn thân
thiết đối với con người. Chính vì vậy, chúng đã được thuần hóa, nhân giống tạo ra
nhiều chủng loại giống đa dạng. Càng ngày giống chó được yêu thương và chiều
chuộng hơn. Chính vì lẽ đó mà việc chăm sóc chó trở nên quan trọng. Muốn có một
chú chó cưng xinh đẹp, khỏe mạnh, ngoài việc tuyển chọn giống, còn đòi hỏi người
chủ phải chăm sóc, vệ sinh kĩ lưỡng, không bị ghẻ, chốc lở… làm mất đi vẻ đẹp vốn
có của nó.
Để góp phần chăm sóc vẻ đẹp và sức khỏe cho chó, được sự đồng ý của khoa
Chăn nuôi-Thú y trường đại học nông lâm Tp-HCM và dưới sự hướng dẫn của Th.S
Nguyễn Phước Ninh, Th.S Nguyễn Thị Thu Năm cùng các giáo viên Bệnh viện thú y,
chúng tôi tiến hành đề tài: “Khảo sát các bệnh về da do kí sinh trùng và nấm gây bệnh
trên chó và ghi nhận kết quả điều trị tại Bệnh viện thú y trường Đại học Nông Lâm,
Tp-HCM”
1.2 Mục đích và yêu cầu:
Mục đích
Khảo sát các bệnh trên da chó do các loại kí sinh trùng và nấm gây ra và ghi nhận
kết quả điều trị để làm cơ sở cho việc phòng và trị bệnh về da tốt hơn.
Yêu cầu
- Xác định tỉ lệ nhiễm bệnh về da trên chó.
-Xác định tỉ lệ nhiễm bệnh do các loại kí sinh trùng, nấm trên da chó
-Theo dõi và đánh giá hiệu quả điều trị các bệnh về da trên chó tại bệnh viện thú
y trường Đại học Nông Lâm, Tp.HCM
CHƯƠNG II. TỔNG QUAN
2.1 CẤU TẠO VÀ SINH LÝ DA CHÓ
2.1.1 Cấu tạo da chó
2.1.1.1 Biểu bì
Là lớp ngoài cùng của da, gồm nhiều tế bào biểu mô dẹp. Tầng tế bào biểu bì

2.1.3.1 Lông
Lông là cấu trúc không có sự sống, được tạo bởi phần nang lông. Bên ngoài sợi
lông là lớp keratin đã hoá sừng, trong tuỷ là keratin lỏng lẻo. Nang được bao bọc bởi
nhu mô liên kết thuộc lớp hạ bì
2.1.3.2 Tuyến bã
Vị trí thường nằm giữa chân lông và cơ dựng lông, có vai trò tiết ra chất làm
mềm da và lông, ức chế vi khuẩn phát triển.
2.1.3.3 Tuyến mồ hôi
Vị trí nằm sâu trong lớp chân bì. Tuyến mồ hôi là những tuyến ống. Tùy theo tính
chất của chất tiết mà tuyến mồ hôi được phân thành hai loại:
Loại tiết dịch đậm đặc: có nhiều hạt protid và có mùi riêng biệt đối với từng loài,
có khi với từng cá thể.
Loại tiết dịch loãng: không mùi, thường có ở những vùng lông ít hay không có
lông.
2.1.3.4 Tuyến sữa
Là loại tuyến mồ hôi biến đổi để thích ứng với chức phận tạo sữa, tuyến này chỉ
thấy trên thú cái, tuyến sữa là một khối tròn dẹp nằm trong hạ bì đẩy da phồng lên.
2.1.4 Chức năng sinh lý của da
2.1.4.1 Chức năng bài tiết
Tiết mồ hôi: giữ vai trò quan trọng trong điều hòa thân nhiệt.
Tiết chất béo: có vai trò ức chế sự phát triển của vi khuẩn.
2.1.4.2 Chức năng bảo vệ
-Bảo vệ cơ thể tránh những ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như: những va
chạm cơ học, sự xâm nhập của vi sinh vật gây bệnh, ngăn cản sự xâm nhập của tia tử
ngoại và hóa chất……
-Duy trì tính chất không thay đổi của môi trường bên trong cơ thể.
-Cung cấp cảm giác về áp lực, nhiệt độ, đau, tiếp xúc.
-Tổng hợp 7-dehydrocholesterol để chuyển thành vitamin D
3
bởi tia cực tím.

chảy, gầy.
-Thiếu vitamin B2 sẽ dẫn tới viêm da bã nhờn khô quanh mắt, bụng. Thường
hiếm khi thiếu B2 vì vài miếng thịt nhỏ hay một ít sữa cũng cung cấp đủ nhu cầu.
-Niacine chỉ thiếu trong khẩu phần ít đạm, nhiều lúa mì. Lúa mì chứa ít
tryptophan, tiền chất của niacine. Triệu chứng khi thiếu: tiêu chảy, gầy, viêm da, ngứa
chi sau và bụng.
Thiếu đồng
Chỉ khi khẩu phần chứa quá nhiều kẽm, làm thiếu sắc tố của lông, da sừng hóa,
nang lông cũ và khô.
Thiếu kẽm
-Các thú nhận khẩu phần nhiều Ca, ngũ cốc (chứa nhiều phytase) hay tiêu chảy
mãn tính dẫn đến kém hấp thu kẽm.
-Triệu chứng: da ửng đỏ, rụng lông sưng mủ ở cằm, xung quanh miệng, mắt, tai,
âm hộ, bìu dái, bao qui đầu, hậu môn. Da tiết nhiều bã nhờn, tăng sừng hóa và có thể
nứt sâu ở những điểm chịu áp lực như gan bàn chân.
2.2.3 Rối loạn hormon
Sự rối loạn hormon (estrogen, thyroxin, adrenalin) thường dẫn đến tình trạng
rụng lông, viêm da trên chó, lớp da ngoài dày lên, màu da khác thường, da tróc vảy có
thể rụng lông thành từng đốm sau vài tháng. Những vùng thường bị là ngực, cổ, hông,
đùi.
2.3 Một số nguyên nhân khác gây bệnh về da trên chó
2.3.1 Sự tróc vảy ở da
Da chó xuất hiện nhiều vảy khô như gàu ở trên người. Biểu hiện ở hai dạng:
-Viêm da do tăng tiết bã nhờn. Vùng da rụng lông có vảy nhờn và viêm
-Da sừng hóa. Thường là những thay đổi thứ phát của các bệnh da khác như rụng
lông do rối loạn hocmone, viêm da mãn tính
2.3.2 Bì chí lậu
Là một bệnh do mỡ và mồ hôi thoát ra ngoài da quá nhiều làm tróc da, bệnh xảy
ra chủ yếu ở giống chó nhiều lông, lông xù.
2.3.3 Ngứa da nhiều nguyên nhân

Hình 2.2 Vòng đời, vị trí kí sinh và sự truyền lây của Demodex
2.3.1.4 Cách sinh bệnh
Demodex sống và phát triển trong bao nang lông và tuyến nhờn, ngoài ra còn ở
trong tuyến mồ hôi, tuyến mỡ và các hạch dưới da. Từ nhỏ chó có thể mang Demodex
nhưng chưa phát bệnh. Khi nào sức đề kháng giảm sẽ tạo cơ hội tốt cho Demodex phát
triển và gây bệnh
Demodex vào bao nang lông và tuyến nhờn gây viêm mãn tính làm da ửng đỏ, có
những nốt sừng và rụng lông. Khi vi khuẩn xâm nhập vào gây thành mụn mủ hoặc ổ
mủ, kí chủ có thể nhiễm độc máu, suy kiệt và chết
2.3.1.5 Triệu chứng và bệnh tích
Triệu chứng
Chó nhiễm Demodex thường thấy những đám loang lổ không có lông ở chuang
quanh mắt hay toàn bộ cơ thể. Bệnh thường có hai dạng:
- Dạng cục bộ: có những tổn thương phân bố từng vùng trên mặt, chân trước hoặc
cả hai mắt (mắt đeo kiếng)
- Dạng toàn thân: tiên lượng ít thuận lợi. Có sự rụng lông không đều, hình ovale,
tràn lan.
Thường thì chó bệnh không ngứa, tuy nhiên cũng có thể gặp những trường hợp
ngứa hoặc rất ngứa.
Bệnh tích
Tại vị trí Demodex kí sinh xuất hiện những ban đỏ và vảy, có thể có dịch rỉ viêm.
Nếu không điều trị hoặc điều trị muộn sẽ có mủ, máu.
2.3.1.6 Chẩn đoán
Dựa vào triệu chứng và bệnh tích
Dùng dao cạo da vùng tiếp giáp giữa da lành và da bệnh, cạo cho đến khi rướm
máu. Lấy mẫu da cho vào 1-2 giọt lactophenol và xem sự hiện diện của trứng, hay
Demodex trưởng thành với vật kính 10 (100 lần)
2.3.1.7 Điều trị
Demodex được điều trị theo liệu trình sau:
- Cắt lông những vùng viêm nhiễm và rửa vết thương bằng oxy già kết hợp với

Sarcoptes kí sinh dưới biểu bì da chó, vòng đời gồm các giai đoạn phát triển sau:
Trứng – Larva – Nymph - Trưởng thành
Toàn bộ chu kỳ phát triển mất 17-21 ngày và xảy ra trên cơ thể gia súc.
Hinh2.3, 2.4 Vòng đời của sarcoptes
Nguồn:http//www.exopol.com/…/circulare/141.html
http://www.yeuthucung.com/lofiversion/index.php/t2236.html
2.3.2.4 Triệu chứng và bệnh tích
-Ngứa: ngứa nhất là khi trời nóng và lúc vận động. Chó bị ghẻ hay gãi và cắn chỗ
ngứa.
-Rụng lông: lông chó rụng từng đám, lúc đầu nhỏ càng về sau càng lan rộng
cùngvới sự sinh sản của ghẻ cái, ghẻ cái thích đi xa để thành lập quần thể mới.
-Tạo vảy: chỗ bị ngứa tạo vảy dính chặt vào lông và da, tiếp tục lan rộng sau 5-6
tháng da hòan toàn trơ trụi, đóng vảy dày và nhăn nheo như da voi, bốc mùi hôi thối.
2.3.2.5 Chẩn đoán
Dựa vào triệu chứng và bệnh tích
Cạo da xem dưới kính hiển vi như chẩn đoán Demodex.
2.3.2.6 Điều trị
- Cắt lông, sát trùng những vùng viêm nhiễm
- Ivermectin 1%, 1ml/15kg chích dưới da mỗi tuần 1 lần.
- Trường hợp tổn thương nặng dùng Shotapen, Septotryl… trị nhiễm trùng phụ
nhiễm.
-Chống viêm: Corticosteroid, Ketofen
2.3.3 Ve
Ve thuôc lớp hình nhện (Arachnida), ve kí sinh trên chó thuộc hai họ Argasidae
(họ ve mềm), và Ixodidae (họ ve cứng)
-Ve cứng trên chó thường thuộc các giống Boophilus, Rhipicephalus, Isodes,
Dermacentor, Amplyomma.
-Ve mềm thường kí sinh trên chó là giống Otobius
2.3.3.1 Đặc điểm hình thái và cấu tạo
Cấu hình chung

xác trên một vật chủ. Khi trưởng thành hoặc giai đoạn ấu trùng có thể lây nhiễm và
chuyển sang vật chủ
khác. Ve cái hút máu
no rơi xuống đất đẻ
trứng, có loài đẻ 3000-
5000 như Rhipicephalus
appendicatalus. Thời gian hoàn thành vòng đời tùy theo loài và môi trường, thường từ
một đến vài tháng

Hình 2.5 Vòng đời cuả ve
Nguồn: http://www.napamosquito.org/Ticks/tick.htm
Ve kí sinh và phát triển chia làm 4 loại: nhiều vật chủ, 3 vật chủ, 2 vật chủ, 1 vật
chủ
Hình 2.6 vòng đời ve 3 vật chủ
Nguồn: http://www.entm.purdue.edu/publichealth/insects/tick.html
2.3.4 Rận
2.3.4.1 Đặc điểm hình thái và cấu tạo
Rận hút máu
Rận có kích thước 2-6mm. Đầu kéo dài về phía trước có 2 antenne ở phía đầu,
mỗi Antenne có 5 đốt. Mắt nhỏ hoặc không có. Ngực gồm 3 đốt thường lớn hơn đầu.
Thân hơi tròn. Có 3 đôi chân, đôi thứ nhất nhỏ và đôi thứ 3 lớn nhất. Ký sinh ở mọi
gia súc trừ mèo và chim.
Rận ăn lông
Đầu thường tròn hoặc có hình tam giác, hoặc có hình thang. Antenne gồm có 4-5
đốt
Ngực và mắt kém phát triển, có màu vàng. Chân phát triển mạnh. Rận kí sinh ở
tất cả gia súc, gia cầm
2.3.5.2 Vòng đời
Rận cái đẻ trứng trên lông từ vài chục đến vài trăm trứng… Hoàn thành chu kì
mất khoảng 2-4 tuần

Nấm da gây bệnh cho chó thường thuộc 2 giống: Microsporum và Tricophyton
Nấm da chó thường gồm 4 loài sau: Microporum canis, Microsporum gypseum,
Trichophyton erinacei, Trychophyton mentagrophytes. Trong đó loài T. erinacei phân
bố ở Anh, Pháp và Newzeland
2.3.9.1 Phân loại nấm học
Ngành: Ascomycota
Lớp: Ascomycerstes
Lớp phụ: Pyronomycetes
Bộ: Plectascale
Họ: Gymnoasceae
Giống: Microsporum và Trichophiton
Giống Microporum
Loài nấm này thường kí sinh vùng da mịn và lông tơ, có nhiều loài, thường sinh
bào tử lớn, ít hoặc có bào tử nhỏ, nếu có bào tử nhỏ nằm đơn lẻ về hai phía sợi nấm.
Bào tử lớn có dạng chiếc xuồng, bên trong chia ra 6-8 vách ngăn. Kích thước 8-15×40-
150µm
2.3.9.2 Micosporum canis
Là nấm da thường gặp ở chó mèo, loài nấm này thường kí sinh trên lông ở vùng
đầu, chân, đuôi và một vài nơi khác của cơ thể. Bề mặt bệnh tích không có lông được
bao trùm bởi những vảy xám. Trường hợp nặng vùng da bệnh trở nên đỏ, chảy mủ
Sợi nấm sinh trưởng nhanh. Bề mặt khuẩn lạc trắng tới vàng sẫm. Mặt sau màu
vàng sáng hoặc màu vàng cam. Bào tử đính lớn dạng hình thoi và bào tử trưởng thành
giới hạn trong những chỗ phình riêng. Khoảng 6-15ô, kích thước 8-20µm×40-150µ

Hình 2.8 Bào tử nấm Microsporum canis
Nguồn: http://www.asm.org/Division/c/fungi.html
2.3.9.3Microporum gypseum
Loài này thường gặp ở chó, ngựa, mèo, và thường kí sinh ở vùng đầu, cổ, chân.
Vùng da bệnh hình tròn, không có lông, bề mặt phủ một lớp vảy dày màu xám khó di
chuyển

Nguồnhttp://pathology.ucsf.edu/education/residency/fung_morph/fungal_site/der
matpage.html
2.3.9.6 Triệu chứng và bệnh tích
Nấm da thủy phân keratin, có thể gây tổn thương lớp biểu bì và nang lông.
M. canis thường gây ra những tổn thương ở bất kì khi nào trên cơ thể (từ gan, bàn
chân, gương mũi). Bề mặt bệnh tích không có lông đựoc bao trùm bởi những vảy xám.
Trường hợp bệnh nặng da có thể trở nên đỏ, chảy dịch, lông bị nhiễm M. thường gây
những tổn thương ở vùng mõm, trên mũi. Vùng da bệnh hình tròn, canis sẽ phát hùynh
quang
M. gypseum không có lông với bề mặt phủ lớp vảy có màu xám
T. mentagrophytes thường gây những tổn thương ở vùng mõm, mặt và 4 chân.
Trong giai đoạn đầu, bệnh tích là những nốt sần sùi, mụn nước, mụn mủ, sau đó phát
triển thành vảy cứng màu vàng, trường hợp nặng vết thương đỏ, sưng tấy
T. rubrum thường gây tổn thương mũi, đỉnh đầu, xung quanh mắt, chân tay có
những đốm tròn không đều, khi bệnh kéo dài vùng da bệnh bị nhiễm nấm phủ một lớp
vảy xám.
2.3.9.7 Chẩn đoán
Dựa vào triệu chứng và bệnh tích
Định danh nấm bằng cách dùng nhíp nhổ lông vùng tiếp giáp giữa da lành và da
bệnh cấy vào môi trường Sabouraud. Sau 7-12 ngày nuôi cấy, quan sát hình dạng và
màu sắc cụm nấm, đồng thời lấy mẩu cụm nấm nhỏ 1-2 giọt Lactophenol quan sát
hình dạng và bào tử nấm
2.3.9.8 Cách điều trị
Điều trị bằng thuốc kháng nấm
Griseofulvine ức chế sự phân bào của nấm, tạo sợi nấm đa nhân. Uống
25mg/kg/ngày dùng liên tục trong 3-4 tuần
Điều trị bằng hóa chất
Iod có tác dụng kích thích những phản vệ của cơ thể và diệt nấm. Dung dịch gồm
cồn iod 2% bôi lên da cục bộ, các loại pommat iod 25%
Điều trị vật lý

rụng lông nhiều hay ít, mụn đỏ, lở loét, sưng mọng, đặc quánh… để chẩn đoán hoặc
đưa ra cách chẩn đoán.
-Biểu hiện nghi ngờ do Demodex canis có hai dạng:
• Dạng cục bộ: Rụng lông ở hai mí mắt chó, vùng mặt hoặc bốn chân, có kèm
theo mụn đỏ.
• Dạng toàn thân: Lông rụng thành từng mảng khắp cơ thể và có mùi hôi.
-Biểu hiện nghi ngờ do Sarcoptes scabieir var canis: ngứa, mụn mủ khắp bề mặt
da nhất là ở vùng mặt quanh mí mắt
-Biểu hiện nghi ngờ nấm: vết thương trên da hình tròn và có vảy bao phủ.
3.5.2.2 Chẩn đoán phòng thí nghiệm
Xem tươi Demodex, Sarcoptes
Trước tiên dùng kéo cắt sạch lông vùng da lấy mẫu với bán kính 1-1,5 cm, sát
trùng bằng cồn 70
0
vùng da vừa mới cắt lông. Dùng dao cạo da, cạo đến khi rướm
máu, sau đó lấy mẫu cạo phết lên lame, sát trùng vùng da mới cạo một lần nữa bằng
Povidine để hạn chế nhiễm trùng vết thương sau khi cạo. Mẫu cạo sẽ được nhỏ 1-2
giọt lactophenol, sau đó đậy lamelle lên, xem dưới kính hiển vi 100 và 400 lần để xác
định nhiễm Demodex hay Sarcoptes.
Mẫu nấm
Trực tiếp: Lông, vảy đặt lên lame, nhỏ vài giọt dung dịch KOH 10% hoặc NaOH
10%. Sau đó hơ nhẹ lên lửa đèn cồn để làm trong tổ chức. Quan sát dưới kính hiển vi
để tìm sợi nấm, bào tử nấm, với độ phóng đại 100 lần.
Gián tiếp: Trước tiên dùng nhíp nhổ cả lông và chân lông để vào đĩa petri đã
vô trùng đem nuôi cấy ở môi trường Sabauroud. Để 37
0
C trong vài ngày. Diệt tạp
khuẩn bằng cách cho vào môi trường chất kháng sinh như: Chloramphenicol.
Mẫu ve, rận, bọ chét
Vuốt ngược lông thú để tìm ve, rận, và bọ chét. Bắt và xem tươi bằng kính

Số chó tái phát
Số chó được chữa khỏi
X 100
Số chó tái phát
Số chó lành bệnh
X 100
CHƯƠNG IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình chó bệnh về da
4.1.1 Tỷ lệ bệnh về da
Trong thời gian thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát tỷ lệ chó có triệu
chứng bệnh về da ở tất cả các chó đến khám và điều trị tại bệnh viện thú y, kết quả
được ghi nhận ở bảng 4.1
Bảng 4.1 Tỷ lệ chó bệnh về da
Tổng số chó khảo sát
(con)
Tổng số chó bệnh về da
(con)
Tỷ lệ (%)
853 116 13,6%
Trong 853 chó mắc bệnh được đem đến khám và điều trị tại bệnh viện Thú y có
116 chó bệnh về da chiếm tỉ lệ 13,6%
Cùng khảo sát tại bệnh viện thú y, chúng tôi nhận thấy kết quả của chúng tôi phù
hợp với kết quả khảo sát của Bùi Văn Mười (năm 2005) là 13,44%, cao hơn với kết
quả khảo sát của Nguyễn Thái Hiệp (năm 2007) là 12,91%, Nguyễn Ngọc Đoan (năm
2005) là 12,5% và Nguyễn Thụy Hồng Loan (năm 2000) là 9,6%. So với kết quả ở các
khu vực khác, kết quả khảạm sát của chúng tôi thấp hơn so với Đồng Minh Hiển (năm
2001) tại Tp.HCM là 16, 8%, Phạm Ngọc Thể Mỹ (năm 2000) tại chi cục thú y là
14,01%
Qua ghi nhận điều tra từ các chủ nuôi, chúng tôi nhận thấy bệnh về da xảy ra
trên chó bị chi phối chủ yếu bởi hai yếu tố chăm sóc và nuôi dưỡng. Ngoài hai yếu tố

Số chó bệnh về da
(con)
Tỷ lệ (%)
Đực 377 56 14,85%
Cái 476 60 12,6%
Tổng 853 116 13,6%
Tỷ lệ này cho thấy tỷ lệ chó đực mắc bệnh về da là 14, 85% cao hơn so với chó
cái là 13,6%. Tuy nhiên sự chênh lệch này là không có ý nghĩa về mặt thống kê.
(P>0,05)
Ngày nay, việc quan tâm chăm sóc của chủ nuôi đối với thú nuôi ngày càng được
quan tâm. Đồng thời, chủ nuôi muốn hạn chế nhu cầu sinh sản của chó nên đã dùng
biện pháp triệt sản. Điều này dẫn đến việc hạn chế lây lan lẫn nhau giữa chó đực và
cái. Vì vậy mà yếu tố giới tính đã không ảnh hưởng đến bệnh về da trên chó.
4.1.2.3 Tỷ lệ chó bệnh về da theo tuổi
Bảng 4.4 Tỷ lệ bệnh về da theo tuổi
Chỉ tiêu khảo sát
Lứa tuổi
Số chó khảo
sát (con)
Số chó bệnh về da
(con)
Tỷ lệ (%)
0-2 tháng 137 10 7,29
2-6 tháng 192 37 19,27
6-24 tháng 226 30 13,27
> 24 tháng 298 39 13,08
Tổng 853 116 13,6
Qua khảo sát tại bệnh viện thú y chúng tôi nhận thấy, tỷ lệ chó mắc bệnh về da
cao nhất ở độ tuổi từ 2-6 tháng (19,27%), thấp nhất ở độ tuổi từ 0-2 tháng (7,29%) với
P<0,05.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status