gian lận và sai sót trong kiểm toán - Pdf 23

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
KHOA KINH TẾ - CƠ SỞ THANH HÓA
 BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: KIỂM TOÁN PHẦN 1
ĐỀ TÀI:
GIAN LẬN VÀ SAI SÓT TRONG KIỂM TOÁN GIẢNG VIÊN HD : ĐỖ THỊ HẠNH
SINH VIÊN TH : NHÓM 05
Lớp : DHKT8ATH
THANH HÓA, THÁNG 10 NĂM 2014
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

SAI SÓT 11
V) THỰC TRẠNG GIAN LẬN VÀ GIAN LẬN SAI SÓT TRONG KIỂM
TOÁN HIỆN NAY 14
1. Các Hành Vi Gian Lận Và Sai Sót Trong Kiểm Toán Hoạt Động 16
2. Các Hành Vi Gian Lận Và Sai Sót Trong Kiểm Toán Tuân Thủ 20
3.Các Hành Vi Gian Lận Và Sai Sót Của Công Ty Kiểm Toán 21
VI) NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ CÁC HÀNH VI SAI PHẠM
TRONG KIỂM TOÁN 22
1.Về Phía Công Ty Kiểm Toán Độc Lập 23
2.Về Phía Bộ Tài Chính, Hiệp Hội Nghề Nghiệp: 23
VII) CÁCH SỬA SỔ KẾ TOÁN KHI XẢY RA SAI SÓT 27
1. Kỹ thuật sửa sổ kế toán ghi bằng tay. 27
2. Kỹ thuật sửa sổ kế toán trong trường hợp ghi sổ bằng máy vi tính 29
3. Lưu ý khi sửa chữa sổ kế toán 29
KẾT LUẬN 31
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình kiểm toán luôn tiềm ẩn những gian lận và sai sót không
phát hiện được và làm sai lệch báo cáo tài chính.Để giảm rủi ro không phát
hiện được gian lận gây ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính và đưa ra ý
kiến đúng đắn về báo cáo tài chính, kiểm toán viên cần quan tâm nghiên cứu
vấn đề gian lận và khả năng xảy ra gian lận trong quá trình kiểm toán. Trong
thực tế luôn tồn tại sự khác biệt giữa kỳ vọng của người sử dụng báo cáo tài
chính mong chờ ở kiểm toán viên và những gì kiểm toán viên có thể đáp ứng
được vì người sử dụng cho rằng kiểm toán viên đảm bảo được vì người sử
dụng cho rằng kiểm toán viên đảm bảo được báo cáo tài chính trung thực và
hợp lý một cách tuyệt đối nhưng kiểm toán viên không thể làm được. Để thu
hẹp sự cách biệt này thì kiểm toán viên ngoài việc giải thích cho người sử
dụng báo cáo tài chính hiểu được phạm vi và hạn chế của nghành kiểm toán
thì phải không ngừng nâng cao năng lực cá nhân chuyên môn nhằm phát hiện

lận bao gồm tất cả các cách bất ngờ, giả dối, xảoquyệt và không công bằng
nhằm lừa người khác.
Theo Văn phòng Kiểm toán quốc gia ở Anh, gian lận có liên quan đến
việc sử dụng thủ đoạn lừa gạt để giành được các lợi ích tài chính không công
bằng và bất hợp pháp, cũng như là những sai sót cố ý hoặc cố tình bỏ sót một
khoản tiền hay các khoản phải công khai trong các chứng từ kế toán hoặc báo
cáo tài chính của một chủ thể.Gian lận cũng bao gồm cả sự ăn cắp cho dù có
hay không có các sai sót trên chứng từ kế toán hay báo cáo tài chính.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (VSA 240).Gian lận là
những hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều
người trong đơn vị hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến đối tượng
kiểm toán.Trong lĩnh vực tài chính kế toán, gian lận có thể đơn thuần là hành
vi cố ý xâm phạm tài sản, biển thủ công quỹ, tham ô, tham nhũng.
Như vậy, dù định nghĩa theo cách nào thì về bản chất, gian lận là hành
vi cố ý, lừa dối, giấu diếm, xuyên tạc sự thật với mục đích tư lợi. Theo đó ta
có thể thấy được các yếu tố cơ bản của gian lận như sau:
- Phải có ít nhất hai bên trong gian lận, có nghĩa là phải có bên thực
hiện hành vi gian lận và bên đã hoặc có thể đã phải chịu hậu quả của gian lận
4
- Có sai sót trọng yếu hoặc sự trình bày không đúng sự thật được thực
hiện một cách cố ý bởi người có hành vi gian lận
- Phải có sự chủ định của người thực hiện hành vi gian lận rằng sự trình
bày sai này sẽ ảnh hưởng tới nạn nhân
- Nạn nhân phải có quyền hợp pháp để đáp trả lại sự trình bày đó
- Nhìn chung có sự cố gắng che dấu gian lận
- Gian lận nhất thiết phải có sự vi phạm tính trung thực
2. Sai Sót
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 240 (VSA 240), sai sót là lỗi
không cố ý, có ảnh hưởng tới báo cáo tài chính như
+ Lỗi về tính toán số học hoặc ghi chép sai.

Luôn trọng yếu

Tuỳ thuộc vào quy mô, tính chất,
tần suất.
5
II. CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN
1. Hình thức biểu hiện của gian lận
1.1 Các loại gian lận và biểu hiện của gian lận
Dựa vào tính chất của gian lận, ta có thể chia thành hai loại: một là các
gian lận liên quan đến báo cáo tài chính, hai là các gian lận liên quan đến việc
biển thủ tài sản.
1.1.1. Gian lận liên quan tới báo cáo tài chính
Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin về tình hình tài
chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp để giúp nhà quản lý và
những người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính ra các quyết định.Vì
vậy, yêu cầu của các thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính là phải
trung thực, hợp lý và khách quan.Tuy nhiên, trên thực tế, không phải lúc nào
các thông tin đó cũng đáp ứng được các yêu cầu kể trên, mà nhiều trường hợp
xảy ra gian lận.Gian lận liên quan tới báo cáo tài chính là sai phạm cố tình bỏ
sót hoặc làmsai lệch các thông tin trên báo cáo tài chính để lừa dối những
người sử dụng các báo cáo tài chính. Gian lận liên quan tới báo cáo tài chính
thường biểu hiện dưới các hình thức sau:
- Xuyên tạc, làm giả chứng từ, tài liệu liên quan đến báo cáo tài chính
- Sửa đổi chứng từ, tài liệu kế toán làm sai lệch báo cáo tài chính
- Che dấu hoặc cố ý bỏ sót thông tin, tài liệu hay nghiệp vụ kinh tế làm
sai lệch báo cáo tài chính
- Ghi chép các sự việc không đúng sự thật
- Cố ý áp dụng sai các nguyên tắc, chuẩn mực, chế độ kế toán và chính
sách tài chính
- Cố ý tính toán sai về số học.

7
hàng, khi đó doanh nghiệp cần phải tìm xem ai là người thực hiện việc ăn cắp
dựa trên dấu vết trên các chứng từ. Đối với hành vi biển thủ tiền trước khi
doanh nghiệp biết về sự tồn tại của số tiền đó, thì khó phát hiện hơn vì nó
không để lại dấu vết. Hành vi này có thể được thực hiện thông qua việc không
ghi nhận các khoản thu được (chẳng hạn người thủ quỹ hoặc người thu tiền tại
quầy cất tiền vào túi riêng của họ mà hoàn toàn không mang tới máy tính
tiền), hoặc ghi giảm các khoản doanh thu (ví dụ như: họ nhận đầy đủ tiền
thanh toán của khách hàng, nhưng trong sổ sách lại ghi nhận một khoản chiết
khấu, giảm giá) hoặc nhân viên có thể đánh cắp tiền cùng với các chứng từ
liên quan tới việc thanh toán của khoản tiền đó như phiếu thu tiền, giấy báo
nhận tiền qua đường bưu điện Các doanh nghiệp sử dụng thanh toán bằng tiền
mặt có nguy cơ xảy ra gian lận loại này nhiều hơn các doanh nghiệp có hệ
thống thanh toán bằng séc, thẻ tín dụng, chuyển khoản.Séc cũng có khả năng
bị đánh cắp bằng cách nó được chuyển tới một tài khoản sai, có tên gần giống
tên công ty nhưng thực chất là của người đánh cắp chứ không phải của công
ty. Khi biển thủ tiền không để loại dấu vết xảy ra thì nó thường làm tăng số
dư của các tài khoản khác, chẳng hạn tài khoản phải thu khách hàng hoặc
Hàng tồn kho.
2. Hình Thức Biểu Hiện Của Sai Sót
Sai sót thường biểu hiện dưới nhiều hình thức, cụ thể như:
- Lỗi trong quá trình thu thập và xử lý các dữ liệu trong quá trình lập
báo cáo tài chính. Ví dụ như: lỗi về tính toán số học, nhầm lẫn, bỏ sót hay
hiểu sai sự việc một cách vô tình.
- Lỗi trong các ước tính kế toán không phù hợp do sơ suất quên hoặc do
hiểu sai bản chất
- Trong việc áp dụng các nguyên lý kế toán về đo lường, ghi nhận,
phân loại và trình bày và áp dụng sai chế độ kế toán tài chính do thiếu năng
8
lực.

1.Các vấn đề liên quan đến tính chính trực hoặc năng lực của ban giám
đốc
Công tác quản lí bị một người hay một nhóm người độc quyền nắm
giữthiếu sự giám sát có hiệu lực của ban giám đốc hoặc hội đồng quản trị .
Cơ cấu tổ chức của đơn vị được kiểm toán phức tạp một cách cố ý.
Sự bất lực trong việc sửa chữa những yếu kém của hệ thống kiểm soát
nội bộ trong khi những yếu kém này hoàn toàn có thể khắc phục được.
Thay đổi thường xuyên kế toán trưởng hoặc người có trách nhiệm của
bộ phận kế toán và tài chính.
Thiếu nhiều nhân viên kế toán trong một thời gian dài
Bố trí người làm kế toán không đúng chuyên môn hoặc bị pháp luật
nghiêm cấm
Thay đổi thường xuyên chuyên gia tư vấn pháp luật hoặc kiểm toán
viên
2.Các sức ép bất thƣờng trong đơn vị hoặc từ bên ngoài vào đơn vị
Nghành nghề kinh doanh gặp khó khăn
Thiếu vốn kinh doanh do lỗ hoặc mở rộng qui mô doanh nghiệp
Mức thu nhập giảm sút
Doanh nghiệp cố ý hoạch toán tăng lợi nhuận nhằm khuếch trương hoạt
động
Đầu từ qua nhanh vào nghành nghề mới hoặc loại sản phẩm mới làm
mất cân đối tài chính
Doanh nghiệp bị lệ thuộc vào một số sản phẩm hoặc một số khách
hàng
10
Sức ép về tài chính từ những nhà đầu tư hoặc các cấp quản lí của đơn vị
Sức ép đối với nhân viên phải hoàn tất công việc trong thời gian ngắn
3.Các nghiệp vụ và sự kiện kinh tế không bình thƣờng nhƣ :
Các nghiệp vụ xảy ra vào cuối niên độ kế toán có tác động đến doanh
thu,chi phí và kết quả

thực hiện một cuộc kiểm toán để bảo đảm hợp lý rằng báo cáo tài chính
không sai lệch trọng yếu. Đối với gian lận và sai sót, trách nhiệm của kiểm
toán là xem xét rủi ro có các sai lệch trọng yếu trong báo cáo tài chính do
những gian lận và sai sót gây ra. Trách nhiệm này được cụ thể hóa thông qua
thủ tục kiểm toán sau:
Trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán phải đánh gía rủi ro
có những hành vi gian lận và sai sót có thể gây ra sai lệch trọng yếu trên báo
cáo tài chính và phải phóng vấn người quản lý về bất kỳ gian lận và sai sót
quan trọng nào đã được phát hiên. Để làm đưược điều này, cần phải nghiên
cứu về thiết kế và vận hành của kiểm toán nội bộ, đồng thời xem xét những
điều kiện hay sự kiện làm tăng rủi ro có gian lận và sai sót.Ví dụ, sự thông
đồng giữa doanh nghiệp và người thứ ba có thể dẫn đến xuyên tạc tài liệu có
thể đánh lừa kiểm toán viên. Do đó, thông thường kiểm toán viên không thực
thi các biện pháp đặc biệt đối với những phần đã phát hiện sai sót nhưng chỉ
tập trung suy nghĩ để làm sáng tỏ các nghi ngờ về gian lận.
Dựa trên việc đánh giá rủi ro,kiểm toán viên phải thiết kế và thực hiện
các thủ tục kiểm toán để có thể bảo đảm thủ tục hợp lý rằng sẽ phát hiện được
các sai lệch do gian lận và sai sót gây ra có thể tạo ảnh hưởng trọng yếu đến
toàn bộ báo cáo tài chính. Nói cách khác, dù rằng cuộc kiểm toán có những
hạn chế tàn như đã nêu, nhưng kiểm toán viên luôn phải có thái độ hoài nghi
12
nghề nghiệp.
Khi các thủ tục kiểm toán trên cung cấp bằng chứng cho thấy khả năng
có những gian lận và sai sót, kiểm toán viên phải đánh giá ảnh hưởng trọng
yếu, kiểm toán viên phải thực hiện các thủ kiểm toán bổ sung.
Sau khi đã thực hiện các thủ tục bổ sung, thế nhưng vẫn còn nghi vấn
về khả năng có gian lận và sai sót kiểm toán viên cần phải:
+ Trao đổi với người quản lí về các vấn đề cần phải điều chỉnh hay
công bố tren báo cáo tài chính ,
+ Xem xét ảnh hưởng của sự kiện đến báo cáo tài chính và báo cáo

Các nhà quản lí doanh nghiệp hạn chế phạm vi kiểm toán.
Kiểm toán viên phát hiện ra các vấn đề quan trọng mà trước đó không
được thể hiện qua kiểm toán.
Nếu kiểm toán viên nghi ngờ có hành vi nào đó trong ban lãnh đạo
doanh nghiệp gian lận thì phải thực hiện các biện pháp để xác minh hoặc xóa
bỏ các nghi ngờ về gian lận của lãnh đạo doanh nghiệp thì phải tìm các đại
diện khác để thay thế hoặc tìm các bằng chứng kiểm toán khác. Khi cấp lãnh
đạo cao nhất của doanh nghiệp bị nghi ngờ, kiểm toán viên sẽ gặp khó khăn
trong việc lựa chọn đại diện thay thế và trong việc thu nhập các bằng chứng
kiểm toán. Trong trường hợp đó, kiểm toán viên không thể hoàn tất công việc
kiểm toán của mình và cần phải xin ý kiến tư vấn pháp ký để có các hành
động phù hợp với thực tế.
Cuối cùng, nếu đơn vị không có những giải pháp thích hợp đối với các
hành vi gian lận, kiểm toán viên còn phải xem xét đến khả năng rút khỏi hợp
đồng kiểm toán.

14
V) THỰC TRẠNG GIAN LẬN VÀ GIAN LẬN SAI SÓT TRONG
KIỂM TOÁN HIỆN NAY
Các hành vi gian lận và sai sót trong kiểm toán tài chính kiểm toán tài
chính là việc thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán của kiểm toán
viên để nhằm xác định tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu
của báo cáo tài chính.
Kiểm toán tài chính là loại kiểm toán để kiểm tra, đánh giá, xác nhận,
tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính. Nhưng khi đánh giá một báo
cáo tài chính là trung thực và hợp lý thì điều đó không có nghĩa đơn vị có báo
cáo tài chính tốt đẹp. Sau đây là một số sai sót và gian lận trong kiểm toán tài
chính:
 Khi kiểm toán viên tiến hành kiểm toán thì họ làm đúng theo qui
định của chuẩn mực kiểm toán khi xác định tính chính xác và trung thực của

phối bởi các ý tưởng chủ quan, ngay cả khi các công ty kiểm toán viên mong
muốn đưa ra những lập luận thật sự khách quan. Công ty kiểm toán thường bỏ
qua những thông tin không có lợi cho việc đưa ra kết luận cuối cùng và
thường tiếp nhận một cách dễ dàng , không cần phê phán,những thông tin
đưa ra có lợi cho công việc đưa ra kết luận đó. Chính vì vậy, mà kiểm toán
viên thường không nhận ra những sai lầm mà họ đã mắc phải trong quá trình
xử lí thông tin và có thể tưởng lầm rằng quá trong quá trình đó không có gì
sai sót . Trên thực tế , các kiểm toán viên có thể quan hệ thân mật đối với
doanh nghiệp được kiểm toán, do đó họ không muốn đưa ra những kết luận
cho doanh nghiệp. Nếu trong tài liệu kế toán của doanh nghiệp có những sai
sót, rất có thể kiểm toán viên, với tinh thần ủng hộ doanh nghiệp cũng không
phát hiện ra những sai sót đó và tán thành những kết luận đã nêu ra trong tài
16
liệu đó.
 Trog quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phát hiện những sai sót và
gian lận kịp thời cho các cơ quan có thẩm quyền chức năng khi phát hiện
công ty được kiểm toán có những sai phạm trọng yếu, đặc biệt là không thông
báo cho ủy ban chứng khoán biết đới với những sai phạm này của công ty có
niêm yết giá trên thị trường chứng khoán.
 Nhìn chung, các doanh nghiệp kiểm toán viên được chấp nhận đã
đáp ứng nhu cầu về kiểm toán của các công ty phát hành, niêm yết và kinh
doanh chứng khoán. Tuy nhiên, yêu cầu của các doanh nghiệp kiểm toán
chứng khoán bị “quá tải” trước đòi hỏi kiểm toán của doanh nghiệp niêm yết
trên thị trường chứng khoán. Nhưng khi kiểm toán đối với một số nghiệp vụ
quan trọng của doanh nghiệp niêm yết, nhiều doanh nghiệp kiểm toán chưa
phản ánh đầy đủ do thiếu các chuẩn mực kế toán và kiểm toán phù hợp trong
quy định chế độ kế toán hiện hành như việc tăng vốn điều lệ, cổ phiếu quỹ…
Thậm chí, nhiều doanh nghiệp kiểm toán còn bỏ qua sai sót rõ ràng của doanh
nghiệp niêm yết. Hơn nữa, một số báo cáo tài chính của công ty phát hành và
niêm yết được kiểm toán viên phần thuyết minh còn sơ sài, gây khó khăn cho

Trong kiểm toán công tác thực hiện dự án đầu tư có những gian lận
và sai sót:
Hồ sơ khảo sát không đầy đủ, chưa đủ căn cứ để thiết kế
Hội dung hờ sơ thiết kế kỹ thuật và thiết kế thi công không đầy đủ theo
quy định sai lệch về quy mô, cấp công trình, vốn, diện tích đất sử dụng so với
quyết định đầu tư.
Công tác dự đoán: Tổng dự đoán vượt tổng mức đầu tư, dự toán chi tiết
vượt tổng dự toán, vận dụng sai định mức, đơn giá, xác định giá đới với
18
những công việc chưa có quy định về giá thiếu căn cứ ( trong hướng dẫn sử
dụng bộ đơn giá địa phương có nêu rõ : đối với các loại vật tư không có thông
báo giá của địa phương, phải xác nhận của liên sở tài chính- xây dựng về giá
và phải được sự chấp thuận của chủ đầu tư).
Công tác đấu thầu: hồ sơ mời thầu không đầy đủ, nêu rõ rang, chi tiết,
phê duyệt. Hồ sơ mời thầu và hồ sơ đấu thầu nội dung không khớp nhau, phê
duyệt kế hoạch đấu thầu không đúng thẩm quyền, không đủ số lượng nhà thầu
tham dự tối thiểu, không chấp hành quy định về thời gian, mở thầu không đủ
thành phần, xét thầu không công bằng, thiếu cơ sở…
Hợp đông thi công không chặt chẽ, nội dung không đầy đủ, không đúng
quy định, khi một trong các bên vi phạm quy định trong hợp đồng không tiến
hành xử lý các vi phạm.
Khối lượng phát sinh không được chấp nhận cấp thẩm quyền duyệt bổ
sung sửa đổi thiết kế, dự đoán trước khi thực hiện.
Thi công sai thiết kế được duyệt.
Không chấp hành đúng quy định về giảm sát thi công, giảm sát quyền
tác giả cuả tư vấn thiết kế.
Hồ sơ nghiệm thu không đầy đủ:thiếu biên bản nghiệm thu từng phần,
các tài liệu kết quả thí nghiệm vật liệu, bê tông, kết cấu không có.
Nhật ký công trình ghi sơ sài, không cập nhật, không đầy đủ diễn biến
phát sinh và sự cố trong quá trình thi công hoặc thiếu chữ ký của cán bộ kỹ

lượng cho nhà thầu vượt quy định (khối lượng nghiệm thu thấp hơn giá trị
tạm ứng)
Hầu hết chứng từ chi tiêu của ban quản lý chủ yếu viết tay kiểm toán
viên cân đối chiếu quy định, tài sản của ban quản lý không theo dõi đầy đủ
20
cuối năm kiểm kê báo cáo.
Một số khoản thu như thu bán hồ sơ mời thầu, thu bán phế liệu khi giải
phóng mặt bằng không hạch toán vào nguồn thu.
2. Các Hành Vi Gian Lận Và Sai Sót Trong Kiểm Toán Tuân Thủ
Kiểm toán tuân thủ là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh giá và xác
định nhận việc tuân thủ pháp luật nội quy, quy chế mà đơn vị kiểm toán phải
thực hiện, kiểm toán tuân thủ thường thực hiện thông qua hai hình thức:
Sử dụng kiểm tra của cơ quan kiểm toán nhà nước đối với các đơn vị sử
dụng kinh phí của nhà nước về việc chấp hành các chế độ chính sách, quy
định của nhà nuớc trong việc sử dụng vốn, sử dụng kinh phí, chuẩn mực sử
dụng là các qui định của nhà nước.
Sự kiểm tra mức độ tuân thủ của các quy chế ở những đơn vị trực thuộc
do cơ quan cấp trên tiến hành.
Sau đây là một số gian lận sai sót trong kiểm toán tuân thủ:
Trong quá trình kiểm toán thuế, kiểm toán viên có sự gian lận và sai
sót trong việc tuân thủ các luật thuế ở đơn vị như:
Sai sót trong quyết toán thuế: dòng thuế đã nộp năm quyết toán: ghi sai
là số đã nộp cho năm báo cáo( bao gồm cả thuế đã nộp vào tháng 1 năm sau
nộp cho tháng 12 năm trước). Đúng ra là số đã thực nộp trong năm báo cáo (
bao gồm những chứng từ nộp từ ngày 1/1 đến 31/12 của năm báo cáo, không
thiết lập đầy đủ hồ sơ về tài sản cố định, mua sắm TSCĐ không có hóa đơn
hợp lệ. Thiếu bảng đăng ký tiền lương, hạch toán chi phí tiền lương nhưng
thiếu hợp đồng lao động, bảng lương không có người ký nhận.
Thiếu bảng kê hồ sơ quyết toán thuế ( liệt kê sách hồ sơ đính kèm theo
nhằm tránh thất lạc).

Trích đoạn CÁCH SỬA SỔ KẾ TOÁN KHI XẢY RA SAI SÓT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status