Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học vật lý phần Sóng ánh sáng và Lượng tử ánh sáng Vật Lý 12 nâng cao THPT - Pdf 23

MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 1
Danh mục các chữ viết tắt 3
1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
DH Dạy học
ĐC Đối chứng
GV Giáo viên
HS Học sinh
PHT Phiếu học tập
PP Phương pháp
PPDH Phương pháp dạy học
SGK Sách giáo khoa
THPT Trung học phổ thông
TN Thực nghiệm
TNSP Thực nghiệm sư phạm
VL Vật lý
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
đang diễn ra mạnh mẽ, sự chiếm lĩnh của nền kinh tế tri thức đòi hỏi con người phải
tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học. Bối cảnh sôi động nhưng cũng nhiều thách
thức đó đặt ra cho ngành giáo dục và đào tạo nước ta phải có những đổi mới căn
bản, toàn diện và đồng bộ, vươn tới ngang tầm với sự phát triển chung của thế giới
và khu vực. Trong đó, đổi mới PPDH là yếu tố quan trọng, cần thiết nhằm đáp ứng
yêu cầu trên.

PPDH VL theo đúng yêu cầu đặt ra.
Đặc biệt, năm học 2008 – 2009 là năm đổi mới chương trình và nội dung SGK
lớp 12 nói chung và SGK VL 12 nói riêng. Do đó, việc nghiên cứu thiết kế và sử
dụng PHT để đổi mới PPDH VL 12 là đề tài mang tính cấp thiết. Tuy nhiên, do hạn
chế về mặt thời gian nghiên cứu, TNSP nên đề tài chỉ tiến hành đối với chương
Sóng ánh sáng và chương Lượng tử ánh sáng trong chương trình SGK VL 12 nâng
cao THPT.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn và tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học vật lý phần Sóng ánh sáng
và Lượng tử ánh sáng VL 12 nâng cao THPT”.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Vấn đề thiết kế và sử dụng PHT trong DH đã được đề cập đến trong một số tài
liệu sau:
Bài báo “Thiết kế và sử dụng PHT trong DH hợp tác” của tác giả Đặng Thành
Hưng trong báo Phát triển Giáo dục số 8, tháng 8/2004. Tác giả đã nêu định nghĩa,
chức năng của một số dạng PHT, nêu cách thiết kế và quy trình sử dụng PHT trong
DH hợp tác. Đây là bài viết quan trọng giúp cho đề tài có định hướng đúng trong
việc nghiên cứu.
Bài báo “Xây dựng PHT dùng trong DH trên lớp môn Địa lý lớp 10 THPT”
của tác giả Đậu Thị Hòa, khoa Địa lý, Trường Đại học sư phạm, Đại học Đà Nẵng
trong Tạp chí Giáo dục tháng 5/2008. Bài báo này đã nêu lên bản chất của PHT,
nguyên tắc và quy trình xây dựng PHT trong DH trên lớp môn Địa lý lớp 10.
4
Bài báo “PP sử dụng PHT trong DH Địa lý lớp 10 nhằm phát huy tính tích
cực và độc lập của HS” của tác giả Đậu Thị Hòa, khoa Địa lý, Trường Đại học sư
phạm, Đại học Đà Nẵng trong Tạp chí Giáo dục số 195 tháng 8/2008. Tác giả đã
trình bày nguyên tắc và PP sử dụng PHT trong DH Địa lý lớp 10, trong đó tác giả
chú trọng trình bày PP sử dụng PHT trong dạy bài mới và củng cố bài học. Những
bài báo này là nguồn tài liệu rất quan trọng giúp cho việc nghiên cứu đề tài.
Luận văn thạc sĩ “Thiết kế và sử dụng PHT trong DH Địa lý 12 THPT” của

- Xây dựng quy trình thiết kế và sử dụng PHT trong DH VL, áp dụng cho
chương Sóng ánh sáng và chương Lượng tử ánh sáng VL12 nâng cao;
- Thiết kế một số giáo án mẫu về sử dụng PHT chương Sóng ánh sáng và
chương Lượng tử ánh sáng VL 12 nâng cao;
- Tiến hành TNSP ở một số trường THPT để đánh giá hiệu quả của việc sử
dụng PHT trong DH VL.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thiết kế và sử dụng PHT chương Sóng ánh
sáng và chương Lượng tử ánh sáng VL 12 nâng cao THPT.
Do điều kiện về thời gian nên đề tài chỉ tiến hành TNSP ở 3 trường THPT
thuộc thành phố Đà Nẵng: trường THPT Phan Chu Trinh, trường THPT Hòa Vang
và trường THPT Nguyễn Hiền.
7. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động DH có sử dụng PHT chương Sóng ánh sáng và chương Lượng tử
ánh sáng VL 12 nâng cao ở trường THPT.
8. Phương pháp nghiên cứu đề tài
8.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, các văn bản của Nhà nước và của ngành
Giáo dục đào tạo;
- Nghiên cứu các sách, bài báo, luận văn, luận án, tạp chí chuyên ngành;
- Nghiên cứu chương trình, SGK, sách bài tập, tài liệu tham khảo VL lớp 12
nâng cao.
8.2. Phương pháp điều tra:
- Trao đổi với GV về việc xây dựng và sử dụng PHT trong DH VL ở trường
THPT;
6
- Lấy ý kiến GV, HS về việc thiết kế và sử dụng PHT trong DH VL.
8.3. Phương pháp TNSP:
- Tiến hành giảng dạy một số tiết có sử dụng PHT;
- Quan sát, kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của học sinh khi học các giờ

- Tờ giấy biểu thị ý kiến trong cuộc bầu cử hoặc biểu quyết, ví dụ như phiếu
bầu cử,
Từ định nghĩa về phiếu, nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm đến định nghĩa về
PHT như:
Theo tác giả Đặng Thành Hưng thì “PHT là một trong những phương tiện DH
cụ thể, đơn giản và có khả năng tương thích rất cao với tuyệt đại đa số người học
thuộc mọi lứa tuổi và trong lĩnh vực học tập. Đó là văn bản bằng giấy hoặc dạng
giấy do GV tự làm, gồm một hoặc một số tờ, có vai trò học liệu để bổ sung cho sách
và tài liệu giáo khoa quy định, có chức năng hỗ trợ học tập và giảng dạy vừa như
công cụ hoạt động, vừa như điều kiện hoạt động của người học và người dạy, mà
trước hết như một nguồn thông tin học tập”.[15]
Theo các tác giả trong cuốn “Một số vấn đề DH Sinh học ở trường Trung học
phổ thông” thì PHT được định nghĩa là “những tờ giấy rời, in sẵn những công tác
độc lập hay nhóm nhỏ, được phát cho HS, yêu cầu tự lực hoàn thành trong một thời
gian ngắn của tiết học”.[6]
Còn tác giả Nguyễn Đức Vũ đã định nghĩa PHT là “tờ giấy rời, trên đó ghi
các câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ học tập, kèm theo gợi ý, hướng dẫn, dựa vào đó,
HS thực hiện hoặc ghi các thông tin cần thiết để giúp mở rộng, bổ sung kiến thức
bài học”. [37]
8
Như vậy, qua xem xét một số định nghĩa trên, có thể nhận thấy các tác giả đều
nhất trí với quan điểm PHT là phương tiên DH do GV tự thiết kế, gồm một hoặc
một số tờ giấy rời có ghi những nhiệm vụ học tập mà HS phải hoàn thành kèm theo
những gợi ý, hướng dẫn hoặc thông tin bổ sung cho bài học.
Từ những nhận định trên, có thể hiểu PHT là những tờ giấy rời, ghi chép
những nhiệm vụ học tập, những thông tin bổ sung cho bài học kèm theo gợi ý,
hướng dẫn, yêu cầu HS tự lực hoàn thành.
1.1.2. Các chức năng cơ bản của PHT trong DH
Có rất nhiều kiểu loại và hình thức PHT khác nhau, nhưng nhìn chung chúng
đều có những chức năng giáo dục tương đối chung và có thể nhận biết được. Theo

một chức năng quan trọng hơn đó là công cụ hoạt động và giao tiếp. PHT là công cụ
để HS hoạt động theo hình thức cá nhân hay hoạt động theo nhóm. PHT hỗ trợ các
hoạt động và quan hệ của người học, tương tác chia sẻ giữa người học với nhau và
với GV.
1.1.3. Các dạng PHT trong DH VL
Tùy theo các căn cứ khác nhau mà ta có các dạng PHT khác nhau:
1.1.3.1. Căn cứ vào chức năng của PHT
Căn cứ vào chức năng của PHT, có thể phân PHT thành 2 dạng sau:
- Phiếu cung cấp thông tin và sự kiện
Đây là loại phiếu có nội dung là những thông tin bổ sung để làm rõ kiến thức
cho bài học.
Loại phiếu này thường được sử dụng khi dạy những bài có nội dung trừu
tượng, phức tạp, khó hiểu hoặc những bài, mục trong SGK viết quá ngắn, HS khó
có thể tự hiểu nếu không bổ sung thêm thông tin.
Để xây dựng loại phiếu này, trước hết GV cần có quá trình thu thập thông tin
thành kho tư liệu, khi cần có thể chọn lọc, xử lý thông tin một cách nhanh chóng để
đưa vào phiếu.
- Phiếu là công cụ hoạt động và giao tiếp
Loại phiếu này có nội dung là những câu hỏi, bài tập, mệnh lệnh, yêu cầu
kèm theo những hướng dẫn, gợi ý để HS hoàn thành nhằm lĩnh hội tri thức của bài
học.
Loại phiếu này được sử dụng trong rất nhiều trường hợp khác nhau như kiểm
tra bài cũ, dạy bài mới, củng cố, ôn tập. [34]
10
Khi sử dụng loại phiếu này trong DH, GV chỉ phải làm ít, nói ít, còn HS phải
làm việc nhiều, điều này phù hợp với quan điểm DH lấy HS làm trung tâm. Tuy
nhiên, sự hạn chế giao tiếp bằng lời giữa GV và HS cũng chính là nhược điểm của
loại phiếu này. Vì vậy, những câu hỏi, yêu cầu được đưa ra phải đảm bảo cho tất cả
HS đều hiểu được, điều đó đòi hỏi cách trình bày phiếu phải hết sức khoa học, rõ
ràng và chính xác.

mm
10-9 m
Bức xạ nhìn thấy Tia tử ngoạiTia hồng ngoại
λ
Đỏ
Tím
học. Thông thường, phiếu này phải có gợi ý, hướng dẫn để HS có thể tự lực hoàn
thành phiếu. Loại phiếu này có thể sử dụng cho một hoặc một vài đơn vị kiến thức
hay có thể cho cả bài học.
Việc sử dụng PHT trong dạy bài mới có rất nhiều ưu điểm như phát huy tính
tích cực học tập của HS, tự lực tìm ra kiến thức mới, tiết kiệm được thời gian giao
câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ học tập, GV có thể nhận biết được thái độ, năng lực học
tập của từng HS Bên cạnh đó, việc sử dụng phiếu cũng có những hạn chế như việc
giao tiếp bằng lời giữa GV và HS không nhiều, không phải bất cứ HS nào cũng hiểu
được và làm được những yêu cầu mà GV đưa ra để có thể tiếp thu được bài mới, do
đó, cần có sự hướng dẫn riêng đối với những HS này.
Ví dụ: PHT dùng trong bài 40, SGK VL 12 nâng cao
PHIẾU HỌC TẬP
(Dùng cho phần 2,3 bài 40, Tia hồng ngoại-Tia tử ngoại, SGK 12NC)
Từ hình vẽ bên và nội dung phần 2, 3 SGK, hãy cho biết đặc điểm nhận biết, nguồn phát,
tính chất và ứng dụng của tia hồng ngoại và tia tử ngoại để điền vào bảng so sánh sau:
Nội dung so sánh
Tia hồng ngoại Tia tử ngoại
Đặc điểm
nhận biết
Nguồn phát
Ví dụ: Ví dụ:
Tính chất
Ứng dụng
- Phiếu dùng trong củng cố bài

D. chiếu tia tử ngoại vào vật.
3. Tính chất nổi bật của tia X là
A. khả năng đâm xuyên, tác dụng nhiệt, gây ra hiện tượng quang điện, tác dụng mạnh
lên phim ảnh, làm ion hóa không khí, hủy diệt tế bào, diệt vi khuẩn …
B. khả năng đâm xuyên, gây ra hiện tượng quang điện, làm phát quang nhiều chất, tác
dụng mạnh lên phim ảnh, làm ion hóa không khí, hủy diệt tế bào, diệt vi khuẩn,…
C. tác dụng nhiệt, làm phát quang nhiều chất, tác dụng mạnh lên phim ảnh, làm ion
hóa không khí, bị thủy tinh, nước hấp thụ rất mạnh, hủy diệt tế bào, diệt vi khuẩn,…
D. khả năng đâm xuyên, gây ra hiện tượng quang điện, làm phát quang nhiều chất, tác
dụng mạnh lên phim ảnh, làm ion hóa không khí, bị thủy tinh, nước hấp thụ rất
mạnh.
4. Câu nào sau đây nói về nội dung của thuyết điện từ về ánh sáng?
A. Ánh sáng là sóng điện từ có bước sóng rất ngắn lan truyền trong không gian.
B. Ánh sáng là sóng vô tuyến có bước sóng dài lan truyền trong không gian.
C. Tính chất điện từ và tính chất quang của môi trường liên hệ bằng công thức .
D. Từ và , suy ra chiết suất của môi trường phụ thuộc vào tần số của ánh sáng.
5. Sắp xếp các sóng sau theo thang sóng điện từ với bước sóng giảm dần.
A. Tia Gamma, tia X, tia tử ngoại, ánh sáng nhìn thấy, tia hồng ngoại, sóng vô tuyến
điện.
B. Ánh sáng nhìn thấy, sóng vô tuyến điện, tia hồng ngoại, tia tử ngoại, tia X, tia
Gamma.
C. Sóng vô tuyến điện, tia hồng ngoại, ánh sáng nhìn thấy, tia tử ngoại, tia X, tia
Gamma.
13
D. Sóng vô tuyến điện, tia tử ngoại, ánh sáng nhìn thấy, tia hồng ngoại, tia X, tia
Gamma.
- Phiếu dùng để giao bài về nhà
Đây là loại phiếu được HS thực hiện ở nhà. Phiếu này dùng để ra bài về nhà là
những câu hỏi, bài tập, có mục đích yêu cầu HS vận dụng, ôn tập lại những kiến
thức, kỹ năng vừa được học hoặc tìm hiểu bài mới trước khi đến lớp.
- Phiếu yêu cầu giải quyết tình huống
Phiếu yêu cầu giải quyết tình huống là dạng PHT có nội dung nêu tình huống
và vấn đề thảo luận hoặc nghiên cứu yêu cầu HS phải giải quyết để lĩnh hội các tri
thức mới. Loại phiếu này thường được dùng để dạy bài mới, ra bài về nhà hoặc để
kiểm tra bài cũ.
PHIẾU HỌC TẬP
(Dùng trong phần 2, bài 36: Nhiễu xạ ánh sáng - Giao thoa ánh sáng, SGK 12NC).
1. Dựa vào hình 36.3 sgk, hãy mô tả vắn tắt thí nghiệm Y-âng về giao thoa ánh sáng? Kết
quả thí nghiệm ta thu được gì?
………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………
………………… …………………………………………………………………
2. Trong thí nghiệm Y-âng về giao thoa ánh sáng, ánh sáng phát ra từ hai khe S
1
, S
2

đặc điểm gì? Rút ra điều kiện để xảy ra sự giao thoa ánh sáng là gì?
………………………………………………………………………
………………………….
…………………………………………………………
………………… …………………………………………………………………

………………………………………………………………
IV. Kết quả thí nghiệm:
a = ………… …………….
Lập bảng kết quả:
Xử lý kết quả:
- Giá trị trung bình
- Sai số
Vậy, bước sóng của ánh sáng
V. Nhận xét:
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………
VI. Câu hỏi, bài tập:
16
1. Hãy trình bày ưu, nhược điểm của phương án thí nghiệm mà em tiến hành?
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
2. Theo em, điều gì cần lưu ý khi tiến hành thí nghiệm?
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………
1.1.3.4. Căn cứ vào tiêu chí phát triển kỹ năng
Căn cứ vào tiêu chí này có thể phân loại PHT thành các dạng sau:
- Phiếu phát triển kỹ năng quan sát
Đối với loại phiếu này, nội dung của phiếu là những câu hỏi, nhiệm vụ học tập
mà HS phải sử dụng thị giác, phối hợp với các giác quan khác để xem xét các sự
vật, hiện tượng một cách có ý thức, có mục đích nhằm thu thập thông tin về sự vật,
hiện tượng. [13]

dung kiến thức mà SGK cung cấp để hoàn thành PHT sau:
PHIẾU HỌC TẬP
(Dùng trong phần 2 bài 44 Thuyết lượng tử ánh sáng…, SGK VL 12NC).
1. Hoàn thành sơ đồ sau và thiết lập công thức Anh-xtanh về hiện tượng quang điện?

Trường hợp nào thì electron có động năng ban đầu cực đại
2
0max
2
mv
?
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
Áp dụng định luật bảo toàn năng lượng, suy ra công thức Anh-xtanh về hiện tượng quang
điện: ……

2. Từ thuyết lượng tử ánh sáng và công thức Anh-xtanh, giải thích các định luật quang điện:
a) Định luật thứ nhất: Hãy chứng tỏ hiện tượng quang điện xảy ra khi λ≤λ
0
với
0
hc
A
λ
=
?
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………

- Động năng ban đầu
- Truyền năng lượng cho mạng tinh thể
cường độ của
chùm sáng tới
……………………
……………………
……………………
………
……………………
……………………
……………………

Cường độ dòng
quang điện bão hòa
………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
- Phiếu phát triển kỹ năng so sánh
Đây là loại phiếu mà để hoàn thành nó HS phải nhận xét, so sánh các sự vật,
hiện tượng để rút ra được những điểm giống và khác nhau của nội dung cần so
sánh. Ví dụ:
PHIẾU HỌC TẬP
(Dùng cho phần 2, 3, 4 bài 39-Máy quang phổ, các loại quang phổ, SGK 12NC)
Dựa vào nội dung SGK trang 202-205, hãy so sánh các loại quang phổ về đặc điểm
nhận biết, nguồn phát, tính chất và công dụng để điền vào bảng sau:
Các loại quang phổ
Nội dung so sánh
Quang phổ
liên tục
Quang phổ vạch
phát xạ- Phiếu phát triển kỹ năng suy luận, đề xuất giả thuyết
Loại phiếu này đòi hỏi các em phải tư duy để suy luận đề xuất ra những ý
tưởng mới, những cách giải quyết mới. Ví dụ:
PHIẾU HỌC TẬP
(Dùng trong phần 2, bài 35: Tán sắc ánh sáng, SGK 12NC)
Từ định nghĩa ánh sáng trắng, ta có thể tạo được một chùm ánh sáng trắng bằng cách
nào? Hãy đề xuất các phương án thí nghiệm để thu được ánh sáng trắng? Từ đó rút ra kết
luận gì về ánh sáng trắng?
.……………………………………………………………………………………
1.1.3.5. Căn cứ vào tiêu chí dùng phiếu học tập để rèn luyện kỹ năng vật lý cho
học sinh
Căn cứ vào tiêu chí này có thể có các dạng PHT như sau:
- Phiếu phát triển kỹ năng giải thích hiện tượng VL
Phiếu này có nội dung là những hiện tượng VL để HS giải thích hiện tượng
kèm theo gợi ý, hướng dẫn. Khi thực hiện loại phiếu này, các kỹ năng giải thích
hiện tượng sẽ được hình thành trong HS như kỹ năng phân tích hiện tượng, nêu
được nguyên nhân của hiện tượng, kỹ năng xây dựng lập luận, kỹ năng biện luận,
20
chỉ ra được sự phù hợp quy luật diễn biến của hiện tượng với những quy tắc, định
luật, mô hình, thuyết VL Ví dụ:
PHIẾU HỌC TẬP
(Dùng cho phần 4 bài 50.Mắt, SGK VL 11 nâng cao)
Cho một tấm bìa, một mặt vẽ một cái lồng chim, mặt kia vẽ một con chim. Cột

c. Tìm số vân sáng quan sát được trên vùng giao thoa có bề rộng 11mm.
ĐS:a)0,5µm. b)5mm. c)11 vân sáng
- Phiếu phát triển tổng hợp nhiều kỹ năng
Phiếu phát triển tổng hợp nhiều kỹ năng là loại phiếu nêu ra những yêu cầu mà
HS phải vận dụng linh hoạt các kỹ năng đã học mới có thể hoàn thành được yêu cầu
đặt ra. Ví dụ:
PHIẾU HỌC TẬP
(Dùng trong phần 1 bài 37: Khoảng vân , SGK 12NC).
1. Tương tự trường hợp giao thoa sóng cơ, hãy xác định điều kiện để tại điểm A (OA=x)
có vân sáng, vân tối?
.…………………………………………………………………………………… 2. Dựa vào kết quả câu 1 và vận dụng công thức tính hiệu đường đi của tia sáng , hãy suy
ra công thức xác định vị trí vân sáng trên màn E? Ứng với k=0,±1,±2, các vân sáng có
tên là gì? Áp dụng: Tính vị trí vân sáng bậc 1, bậc 2 đối với ánh sáng màu vàng (λ
vàng
=0,58µm), cho biết a=2mm, D=2m.
.……………………………………………………………………………………
bộc lộ và phát huy được tính sáng tạo của HS.
- Thứ hai là DH chú trọng việc rèn luyện PP tự học.
Trong xã hội ngày nay đang biến đổi từng ngày, GV không thể nhồi nhét vào
đầu óc HS khối lượng kiến thức ngày càng nhiều. Điều cần thiết là phải dạy cho HS
PP tự học. Nếu rèn luyện cho HS có được PP, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ
tạo được trong các em lòng ham học, các em sẽ chủ động học hỏi, khám phá những
điều mình chưa rõ, từ đó sẽ nâng cao hiểu biết của mình.
- Thứ ba là tăng cường DH cá thể, phối hợp với DH hợp tác.
PP tích cực đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao của mỗi HS. Tuy nhiên,
năng lực và ý chí của HS trong một lớp không thể đồng nhất, vì vậy có sự phân hóa
23
về cường độ và tiến độ hoàn thành các nhiệm vụ học tập. Để đáp ứng yêu cầu cá thể
hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi HS, GV cần tăng cường sử
dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong quá trình DH.
Tuy nhiên, không phải mọi kiến thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành
bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Trong học tập hợp tác, thông qua thảo luận,
tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ,
qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới, bài học vận dụng được vốn hiểu
biết và kinh nghiệm của mỗi HS và của cả lớp. Trong học tập hợp tác, mục tiêu hoạt
động là chung, nhưng mỗi người lại có nhiệm vụ riêng, sự phối hợp giữa các hoạt
động cá nhân sẽ góp phần hoàn thành mục tiêu chung.
- Thứ tư là kết hợp sự đánh giá của GV và tự đánh giá của HS.
Trong DH, việc đánh giá HS nhằm giúp GV nhận định thực trạng và điều
chỉnh hoạt động dạy – học. Trong DH tích cực theo hướng coi trọng vai trò chủ
động của người học, coi trọng việc rèn luyện PP tự học, bên cạnh sự đánh giá của
GV thì GV phải hướng dẫn HS kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học của
mình. Việc kiểm tra đánh giá không chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức,
lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích óc sáng tạo, rèn luyện khả năng
phát hiện và giải quyết các vấn đề trong thực tế.
Đối với PPDH tích cực, khi trên lớp, HS hoạt động là chính, GV ít hoạt động,

GV, các em sẽ phần nào tự đánh giá được kết quả làm việc của mình.
Mặt khác, trong quá trình HS thực hiện nhiệm vụ trong PHT, qua quan sát,
GV có thể thu nhận được thông tin về năng lực, thái độ học tập của HS để có biện
pháp uốn nắn kịp thời. Đồng thời, qua các sản phẩm của quá trình làm việc bằng tay
của HS, GV có được nguồn thông tin phản hồi trung thực hơn, từ đó điều chỉnh
được PPDH của mình.
Như vậy, việc sử dụng PHT đóng một vai trò quan trọng trong DH phát huy
tính tích cực nhận thức của HS. Do đó, việc nghiên cứu thiết kế và đưa vào sử dụng
PHT trong DH VL là rất quan trọng và cần thiết.
1.2. Đặc điểm tâm sinh lý và trình độ nhận thức của học sinh lớp 12
THPT
HS THPT thuộc lứa tuổi thanh niên, ở lứa tuổi này, các em đã có sự hoàn
thiện về mặt thể chất và sự phát triển về trí tuệ. Trong giai đoạn này, hệ xương phát
triển hoàn thiện, cơ bắp phát triển mạnh, nhất là các em HS nam, hệ tim mạch và hệ
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status