Luận văn GVHD: PGS Nguyễn Hồ Phương
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU………………………………………………………………… 2
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY, NGUỒN LỰC
VÀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TNHH GIẢI PHÁP
PHẦN MỀM VINASITE
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty………………………………3
1.2 Chức năng, nhiệm vụ của doanh nghiệp…………………………………… 3
1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty………………………………………….4
1.4 Quy trình thiết kế website……………………………………………………5
1.5 Tình hình nguồn vốn và sử dụng vốn kinh doanh của công ty………………7
1.6 Nguồn nhân lực công ty…………………………………………………… 9
1.7 Tình hình hoạt động của doanh nghiệp…………………………………… 10
1.8 Kết quả kinh doanh của công ty…………………………………………….12
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TNHH
GIẢI PHÁP PHẦN MỀM VINASITE
2.1 Những điểm mạnh, yếu của công ty……………………………… ……….13
2.2 Một số ý kiến đề xuất, kiến nghị đối với công ty………………………… 21
CHƯƠNG 3 : XÂY DỰNG TRANG WEB THÔNG TIN VÀ THƯƠNG
MẠI ĐIỆN TỬ
3.1 Ý tưởng xây dựng trang web…………………………………………………23
3.2 Nội dung …………………………………………………………………… 27
3.3 Phương hướng phát triển…………………………………………………… 29
3.4 Quản lý trang web……………………………………………………………33
KẾT LUẬN ……………………………………………………………………34
Sinh viên: Lê Đức Bình Lớp LTCĐ-QL202
1
Luận văn GVHD: PGS Nguyễn Hồ Phương
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin và sự phát triển mạnh mẽ
VINASITE
1.1: Quá trình hình thành và phát triển của công ty :
Tên công ty : Công ty TNHH giải pháp phần mềm VINASITE
Trụ sở chính : 16/56 phố Hoa Lâm – Việt Hưng – Long Biên – Hà Nội.
Điện thoại : 043.990.3112
Website :
Công ty TNHH Giải pháp phần mềm VINASITE hay gọi tắt là Công ty
TNHH VINASITE được thành lập trong giai đoạn bùng nổ của công nghệ
thông tin trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Cùng với xu hướng
đó Công ty TNHH VINASITE đã cố gắng để phát triển ổn định và đưa tới
các dịch vụ hoàn hảo hơn giúp các doanh nghiệp hay tổ chức có thể đến với
khách hàng nhanh nhất với khẩu hiểu của công ty là “ Hãy để cho cả thế giới
biết BẠN LÀ AI”. Từ khi thành lập Công ty đã không ngừng phát triển và
khẳng định khả năng của mình trong các lĩnh vực thiết kế, quản trị website
và Marketing online. Từ năm 2008 chính thức đi vào hoạt động Công ty
TNHH VINASITE đã hoàn thành nhiều dự án website cho các doanh nghiệp
và cá nhân tiêu biểu như các trang web: www.hkphone.com.vn,
www.kuongngan.com, www.mualaban.vn, ….
1.2: Chức năng, nhiệm vụ của doanh nghiệp
Công ty hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực:
- Nhận thiết kế và gia công website từ ý tưởng của doanh nghiệp, cá nhân
hoặc tạo các trang website mẫu để khách hàng có thể lựa chọn. Dựa theo
sự lựa chọn của khách hàng công ty sẽ thiết kế website theo ý tượng đó
dựa trên nhiều ngôn ngữ lập trình phổ biến hiện nay, chạy phù hợp trên
các hệ điều hành phổ thông hiện nay.
Sinh viên: Lê Đức Bình Lớp LTCĐ-QL202
3
Luận văn GVHD: PGS Nguyễn Hồ Phương
- Quản trị các website với công việc chính là dịch vụ tư vấn phát triển
website của khách hàng cũng như chịu trách nhiệm các khâu quản lý, cập
- Bộ phận kinh doanh: Có nhiệm vụ giao dịch, tim kiếm khách hàng có
nhu cầu sử dụng dịch vụ mà công ty cung cấp. Ngoài ra còn có thêm
nhiệm vụ xây dựng ý tưởng thiết kế của khách hàng, khai thác thông tin
để có thể chuyển cho bộ phận thiết kế xây dựng trang web giúp trang web
được xây dựng sát nhất với mong muốn của khách hàng.
- Bộ phận thiết kế: Có nhiệm vụ chính là xây dựng website dựa trên ý
tưởng, các thông tin đã được bộ phần kinh doanh khai thác. Đưa ra được
bản thử nghiệm sớm nhất để lấy ý kiến khách hàng, hoàn thành website
theo mong muốn của khách hàng.
- Bộ phận kế toán: Có nhiệm vụ tổ chức hạch toán, quản lý nhân sự và
thông tin kinh tế cho giám đốc quá trình sản xuất kinh doanh và tình hình
thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước giúp cho giám đốc điều
hành và quản lý các hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả nhất.
1.4: Quy trình thiết kế website
- Lên ý tưởng: Để có thể lên ý tưởng thì khâu thu thập thông tin và ý kiến
khách hàng là rất quan trọng. Vì vậy bộ phận kinh doanh phải nắm chắc
về những thông tin này để có thể xây dựng lên 1 số mẫu website thử
nghiệm cho khách hàng có cái nhìn trực quan về sản phẩm chuẩn bị được
thiết kế
- Xây dựng website: Từ lựa chọn thành công mẫu website mà khách hàng
chọn (thường được thiết kế bằng file hình ảnh trực quan) các nhân viên
bộ phận thiết kế sẽ cắt hình ảnh chuyển thành ngôn ngữ lập trình website
để đưa toàn bộ hình ảnh thử nghiệm đó thành 1 trang web thực sự
- Lấy ý kiến khách hàng: Sau khi hoàn thành, website sẽ được đưa lên 1
địa chỉ tạm cho khách hàng sử dụng kiểm tra tính năng của website, hoàn
thiện theo ý kiến của khách hàng. Trong khâu này cần sự liên lạc thông
tin của phòng kinh doanh để chuyển giao thông tin từ khách hàng đến bộ
phận kỹ thuật.
Sinh viên: Lê Đức Bình Lớp LTCĐ-QL202
5
879.106 100%
1.001.36
2
100% 122.256 13,91%
Vốn vay
0 0 0 0 0 0%
Chia theo tính chất
Vốn cố định
862.837 98,15% 991.593 99,024% 128.756 14,92%
Vốn lưu động
16.269 1,85% 9.769 0,976% -6.500 -39,95%
6
Luận văn GVHD: PGS Nguyễn Hồ Phương
NGUỒN LỰC VÀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TNHH
GIẢI PHÁP PHẦN MỀM VINASITE
BẢNG 1: CƠ CẤU VỐN CỦA CÔNG TY QUA 2 NĂM 2010- 2011
(Đơn vị: nghìn đồng)
Nguồn: Bộ phận kế toán
1.5 Tình hình nguồn vốn và sử dụng vốn kinh doanh của công ty
Qua bảng 1 ta thấy tổng vốn của công ty qua 2 năm gần đây đều tăng, năm
2010 tổng vốn của công ty là 879.106.000 , đến năm 2011 số vốn của công ty tăng
lên 1.001.362.000 tăng 13,91% so với năm 2010. Có được kết quả này là do tình
hình kinh doanh của công ty thuận lợi, và đã trích từ lợi nhuận để bổ sung cho
nguồn vốn kinh doanh.
Xét về cơ cấu các loại vốn được phân theo đặc điểm luân chuyển vốn được
chia ra là vốn cố định và vốn lưu động. Từ bảng 1 ta thấy vốn cố định của công ty
năm 2010 là 862.837.000 nghìn đồng chiếm 98,15% tổng vốn của công ty, còn lại
là vốn lưu động số lượng là 16.269.000 nghìn đồng chiếm 1,85%. Qua đây ta thấy
nguồn vốn công ty chủ yếu là nguồn vốn cố định. Qua 2 năm từ năm 2010-2011 ta
thấy vốn cố định tăng còn vốn lưu động có xu hướng giảm. Nguyên nhân chủ yếu
- Nam 3 37,5% 3 23,08% 0 0%
- Nữ 5 62,5% 10 76,92% 5 200%
Phân theo trình độ
- Đại học 4 50% 5 38,46% 1 25%
- Cao đẳng 2 25% 5 38,46% 3 150%
Sinh viên: Lê Đức Bình Lớp LTCĐ-QL202
8
Luận văn GVHD: PGS Nguyễn Hồ Phương
- Trung cấp 2 25% 3 23,08% 1 25%
- PTTH 0 0
Phân theo độ tuổi
- Trên 45 tuổi 0 0 0% 0 0%
- Từ 35 đến 45 tuổi 0 0 0% 0 0%
-Từ 25 đến 35 tuổi 4 50% 10 76,92% 6 150%
- Dưới 25 tuổi 4 50% 3 23,08% -1 -25%%
Nguồn: Bộ phận kế toán
1.6 Nguồn nhân lực công ty:
Với quy mô công ty nhỏ nên số lượng nhân viên công ty là ít, số lượng nhân
viên năm 2010 là 8 người đến năm 2011 nhân viên tăng lên 13 người. Ngoài ra
các lao động trực tiếp chỉ có 4 người còn lại phần lớn là lao động gián tiếp, đây
cũng là 1 cách giúp giảm bớt chi phí chỗ làm và các chi phí phát sinh khác.
Với ngành nghề chính của công ty là về công nghệ thông tin nên chủ yếu các
nhân viên đều có trình độ từ trung cấp trở lên, các nhân viên chính của công ty đều
có bằng đại học. Độ tuổi nhân viên cũng đều là những người có độ tuổi trẻ 100%
đều từ 35 tuổi trở xuống. Với độ tuổi trẻ các nhân viên đều làm việc với động lực
phát triển và nhiệt tâm với công việc cao. Tới năm 2011 với việc bổ sung thêm
nhân sự từ 8 lên 13 người chủ yếu đều có trình độ từ cao đẳng trờ lên cho thấy
công việc của công ty đã và đang phát triển và ổn định hơn.
Xét về cơ cấu giới tính ta thấy rằng số lượng lao động nữ chiếm đa số với
62,5% năm 2010 và 76,92% năm 2012 . Cho thấy hiện nay công ty đang chủ yếu
4 Tổng vốn kinh doanh bình quân
4a. Vốn cố định bình quân.
4b. Vốn lưu động bình quân.
Nghìn
đồng 8.336
886.686
13.019
927.215
4.683
40.529
56,18%
4,57%
5 Lợi nhuận Nghìn
đồng
- 101 122.710 122.811
6 Nộp ngân sách Nghìn
đồng
1.000 1.000 0 0%
7 Thu nhập bình quân BQ 1 lao động 1.000đ/
tháng
3.537 3.674 137 3,87%
8 Năng suất lao động BQ Nghìn
đồng
72.356 62.482 -9.874 -13,65%
Sinh viên: Lê Đức Bình Lớp LTCĐ-QL202
10
Luận văn GVHD: PGS Nguyễn Hồ Phương
9 Tỷ suất lợi nhuận/doanh thu tiêu thụ % -0,0175% 15,11% 15,1275%
10 Tỷ suất lợi nhuận/ vốn KD % -0,011% 12,254% 12,265%
11 Số vòng quay vốn lưu động Vòng 0,681 0,819 0,138
Internet được phỏng vấn. Đáp viên cho khảo sát được lựa chọn từ 6 thành phố tại
Việt Nam. Cimigo đã thực hiện những nghiên cứu tương tự trong những năm gần
đây tại Hà Nội và TP.HCM (n=1000 cuộc phỏng vấn mỗi năm). Ở những phần có
thể, báo cáo này có bao gồm một số kết quả từ những năm trước. Tuy nhiên, cho
các thành phố khác (Đà Nẵng, Cần Thơ, Nha Trang, Hải Phòng), các dữ liệu từ các
năm trước không có sẵn. Tại TP.HCM và Hà Nội, dữ liệu về tỷ lệ người sử dụng
Internet đã có sẵn từ Cimigo Express (khảo sát đại diện trong số n=12000 đáp viên
Sinh viên: Lê Đức Bình Lớp LTCĐ-QL202
12
Luận văn GVHD: PGS Nguyễn Hồ Phương
sống tại thành phố Hồ Chí Minh/ Hà nội mỗi năm). Đối với các thành phố khác
(Đà Nẵng, Cần Thơ, Nha Trang, Hải Phòng), nơi chưa có các số liệu có sẵn nào về
tỷ lệ cũng như thông tin về người sử dụng Internet. Mỗi thành phố đã có khoảng
n=1000 đáp viên được tuyển. Tổng cộng đã có n=4250 người đã được tiếp xúc, và
đã phỏng vấn thành công với n=1879 người sử dụng Internet.
Không chỉ có vậy :
Báo cáo dẫn kết quả thống kê của trang web internetworldstats.com thu thập
từ các cơ quan quản lý mạng ở nhiều quốc gia cho thấy tỷ lệ tăng trưởng số lượng
người sử dụng internet trong giai đoạn 2000-2009 ở VN là 10.882%, cao hơn hẳn
các quốc gia cùng nhóm thị trường mới nổi như Trung Quốc (1.500%), Indonesia
(1.150%)… Hiện tỷ lệ người sử dụng mạng ở VN vào khoảng 26%, tương tự
Philippines, Thái Lan.
Biểu đồ tăng trưởng Internet Việt Nam tháng 7-2010
Cũng theo nghiên cứu này cho thấy các hoạt động trực tuyến thì trên 90% là
đọc tin tức, sử dụng trang web tìm kiếm thông tin; nghe nhạc (76%), nghiên cứu
Sinh viên: Lê Đức Bình Lớp LTCĐ-QL202
13
Luận văn GVHD: PGS Nguyễn Hồ Phương
phục vụ việc học và công việc (73%), chat, e-mail (68%)… sử dụng ngân hàng trực
tuyến xếp cuối bảng thống kê (10%).
tạo thuận lợi cho các bên giao dịch. Giao dịch bằng phương tiện điện tử nhanh hơn
so với giao dịch truyền thống, ví dụ gửi fax hay thư điện tử thì nội dung thông tin
đến tay người nhận nhanh hơn gửi thư. Các giao dịch qua Internet có chi phí rất rẻ,
một doanh nghiệp có thể gửi thư tiếp thị, chào hàng đến hàng loạt khách hàng chỉ
với chi phí giống như gửi cho một khách hàng. Với thương mại điện tử, các bên có
thể tiến hành giao dịch khi ở cách xa nhau, giữa thành phố với nông thôn, từ nước
này sang nước kia, hay nói cách khác là không bị giới hạn bởi không gian địa lý.
Điều này cho phép các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí đi lại, thời gian gặp mặt
trong khi mua bán. Với người tiêu dùng, họ có thể ngồi tại nhà để đặt hàng, mua
sắm nhiều loại hàng hóa, dịch vụ thật nhanh chóng.
Những lợi ích như trên chỉ có được với những doanh nghiệp thực sự nhận
thức được giá trị của thương mại điện tử. Vì vậy, thương mại điện tử góp phần thúc
đẩy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp để thu được nhiều lợi ích nhất. Điều này
Sinh viên: Lê Đức Bình Lớp LTCĐ-QL202
15
Luận văn GVHD: PGS Nguyễn Hồ Phương
đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, khi các doanh nghiệp
trong nước phải cạnh tranh một cách bình đẳng với các doanh nghiệp nước ngoài.
Các loại hình ứng dụng thương mại điện tử
Dựa vào chủ thể của thương mại điện tử, có thể phân chia thương mại điện
tử ra các loại hình phổ biến như sau:
- Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp - B2B (business to
business);
- Giao dịch giữa doanh nghiệp với khách hàng - B2C (business to
consumer);
- Giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước - B2G (business to
government);
- Giao dịch trực tiếp giữa các cá nhân với nhau - C2C (consumer to
consumer);
- Giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân - G2C (government to
doanh nghiệp với cơ quan nhà nước được tiến hành qua các phương tiện điện tử.
Cơ quan nhà nước cũng có thể thiết lập những website tại đó đăng tải thông tin về
nhu cầu mua hàng của các cơ quan nhà nước, tiến hành việc đấu thầu hàng hoá,
dịch vụ và lựa chọn nhà cung cấp trên website. Điều này một mặt giúp tiết kiệm
các chi phí tìm nhà cung cấp, đồng thời giúp tăng cường tính minh bạch trong hoạt
động mua sắm công.
C2C là loại hình giao dịch giữa các cá nhân với nhau. Sự phát triển của các
phương tiện điện tử làm cho nhiều cá nhân có thể tham gia hoạt động thương mại
với tư cách là người bán, người cung cấp dịch vụ. Một cá nhân có thể tự thiết lập
website để kinh doanh những mặt hàng do mình làm ra hoặc sử dụng một website
Sinh viên: Lê Đức Bình Lớp LTCĐ-QL202
17
Luận văn GVHD: PGS Nguyễn Hồ Phương
có sẵn để đấu giá một số món hàng mình có. C2C góp phần tạo nên sự đa dạng của
thị trường.
G2C là loại hình giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân. Đây chủ yếu
là các giao dịch mang tính hành chính, nhưng có thể mang những yếu tố của
thương mại điện tử. Ví dụ khi người dân đóng tiền thuế qua mạng, trả phí khi đăng
ký hồ sơ trực tuyến, v.v
Về nguồn gốc, thương mại điện tử được xem như là điều kiện thuận lợi của
các giao dịch thương mại điện tử, sử dụng công nghệ như EDI và EFT. Cả hai
công nghệ này đều được giới thiệu thập niên 70, cho phép các doanh nghiệp gửi
các hợp đồng điện tử như đơn đặt hàng hay hóa đơn điện tử. Sự phát triển và chấp
nhận của thẻ tín dụng, máy rút tiền tự động (ATM) và ngân hàng điện thoại vào
thập niên 80 cũng đã hình thành nên thương mại điện tử. Một dạng thương mại
điện tử khác là hệ thống đặt vé máy bay bởi Sabre ở Mỹ và Travicom ở Anh.
Vào thập niên 90, thương mại điện tử bao gồm các hệ thống hoạch định tài
nguyên doanh nghiệp (ERP), khai thác dữ liệu và kho dữ liệu.
Năm 1990, Tim Berners-Lee phát minh ra WorldWideWeb trình duyệt web và
chuyển mạng thông tin liên lạc giáo dục thành mạng toàn cầu được gọi
mạng. Họ cảm thấy không được bảo vệ quyền lợi hoặc bảo mật thông tin", ông
Nguyễn Thanh Hưng, Phó Chủ tịch của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam
cho biết.
Mặc dù hiện nay, việc thanh toán đã trở nên dễ dàng hơn nhờ sự hợp tác
giữa các website với ngân hàng, nhưng việc thanh toán trực tuyến hiện vẫn chỉ
chiếm một phần rất nhỏ trong mua bán điện tử ở Việt Nam.
Bất chấp những rào cản nói trên, các công ty nước ngoài vẫn nhìn ra nhiều
cơ hội tiềm tàng tại một đất nước có gần 80 triệu dân. Đơn cử là các "tay to" như
Google, Alibaba, Rakuten, eBay hay Amazon đang dần xây dựng sự hiện diện tại
Sinh viên: Lê Đức Bình Lớp LTCĐ-QL202
19
Luận văn GVHD: PGS Nguyễn Hồ Phương
đây. Vào tháng 6 vừa rồi, Google đã trở thành thành viên của Hiệp hội Thương mại
Điện tử Việt Nam. Với mục tiêu nhắm đến các công ty vừa và nhỏ, Google hy
vọng sẽ thu về 30 triệu USD mỗi năm từ thị trường này.
Ngoài ra, Alibaba và eBay cũng mới lựa chọn các nhà đại diện chính thức tại
Việt Nam. Cách đây không lâu, eBay đổ tiền mua 20% cổ phần tại Peacesoft
Solution, công ty sở hữu trang chodientu.com. Còn Alibaba chọn Công ty
Investment and Technology JSC làm đại diện. Amazon và Rakuten cũng đang tiếp
cận một số bên để tìm kiếm cơ hội hợp tác.
Trong một môi trường cạnh tranh lớn như vậy cũng như tình trạng khủng
hoảng kéo dài dẫn đến nhu cầu thiết kế website ngày một giảm xuống, tuy nhiên
hình thức marketing online lại ngày một phát triển chính nhờ thương mại điện tử,
một cụm từ đang ngày một phổ biến trong nền kinh tế hiện nay. Nhờ vào những
tiện ích của nó đem lại mà ngay nay thương mại điện tử đã phổ biến hơn bao giờ
hết đi kèm đó là việc marketing online lại dần phổ biến hơn nữa. Nhưng marketing
online thế nào? Phương pháp ra sao? Như nào là hiệu quả? Nên những nhà kinh
doanh thương mại mới tham gia thị trường thương mại điện tử đã tìm đến những
doanh nghiệp trung gian tư vấn về thương mại điện tử và tham gia thực hiện hỗ trợ
thương mại điện tử cho công ty . Từ nhu cầu đó công ty đã tìm ra hướng đi an toàn
viên và chỉ ra thành công, khó khăn, trong khi đó nhân viên cần dựa vào người
quản lý để hoàn thành công việc của mình. Một hệ thống cấp bậc và cấu trúc hợp
lý, phân chia nhiệm vụ “ đúng người đúng việc” sẽ là biện pháp quản lý hiệu quả.
Hệ thống cấp bậc và cấu trúc được phản ánh theo cách sắp đặt vật dụng trong văn
phòng, phụ thuộc vào nhu cầu và mục đích của công ty. Tuy nhiên, dù phân cấp
bậc rõ ràng nhưng vẫn đảm bảo nhân viên có thể giao tiếp, chia sẻ thông tin với
cấp trên một cách cởi mở và thoải mái.
Sinh viên: Lê Đức Bình Lớp LTCĐ-QL202
21
Luận văn GVHD: PGS Nguyễn Hồ Phương
+ Tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ các gói marketing online, kết hợp cả
trên các trang mạng cá nhân. Tận dụng các khách hàng đã mua gói thiết kế web để
liên kết các khách hàng cũng như đẩy nhanh thương hiệu của công ty.
+ Tìm được hướng đi mới tạo sự liên kết để phát triển các mảng của công ty
giúp phát triển thêm nguồn vốn.
CHƯƠNG 3
XÂY DỰNG TRANG WEB THÔNG TIN VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
3.1 Ý tưởng xây dựng trang web
Với những thế mạnh của thương mại điện tử ngày này đã được phân tích
như trên. Cũng như khó khăn gặp phải trong môi trường phát triển thương mại điện
tử trong thời điểm hiện tại, ta luôn cần tạo ra hướng đi mới sáng tạo và có khả năng
thu hút người dùng hơn. Hiện nay hình thức thương mại điện tử đang rất phát triển
đó là hình thức mua hàng theo nhóm để nhận khuyến mãi. Hình thức này đang phát
Sinh viên: Lê Đức Bình Lớp LTCĐ-QL202
22
Luận văn GVHD: PGS Nguyễn Hồ Phương
triển mạnh mẽ những cũng dần lộ ra các điểm yếu về mẫu mã các mặt hàng và hình
thức thanh toán còn có tính mạo hiểm.
Sự phát triển nhanh chóng của Internet sau 15 năm có mặt tại Việt Nam đã
thúc đẩy mạnh mẽ các mô hình thương mại điện tử. Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn
nghiệp sẽ có được kênh quảng bá sản phẩm dịch vụ tốt.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia trong ngành, những điểm hạn chế, bất cập của mô
hình kinh doanh theo nhóm trên thế giới dần bộc lộ tại một số doanh nghiệp Việt
Nam, khi các đơn vị Groupon mất khả năng thanh khoản sẽ khiến cả nhà cung cấp
dịch vụ và khách hàng bị thiệt hại.
"Nhược điểm của mô hình này tại Việt Nam là sự phát triển quá nhanh, quá
nóng khiến chất lượng doanh nghiệp không đồng đều", ông Long bình luận.
"Nếu có website mua hàng theo nhóm ngừng hoạt động nhưng đang tạm giữ nhiều
tiền của người mua đã thanh toán, cũng chưa trả tiền cho doanh nghiệp cung cấp
sản phẩm sẽ gây ảnh hưởng đến cả hai bên mua và bán", ông Nguyễn Hòa Bình,
Trưởng ban truyền thông của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM)
cho biết.
Để khắc phục vấn đề này, theo ông Bình, trước hết thị trường cần phải có
những sàn giao dịch uy tín. Ông cũng đề xuất sử dụng công cụ trung gian đã được
cấp phép như ví điện tử để phòng khi trường hợp xấu xảy ra, nhằm loại bỏ những
rào cản trong khâu thanh toán. Thêm vào đó, nhờ tính năng hoàn trả thanh toán khi
có sự cố, các đơn vị giao dịch trung gian sẽ giúp người tiêu dùng an toàn hơn trước
các chiêu bài lừa đảo.
Công ty bán hàng theo nhóm đông, nhưng vấn đề quản lý chất lượng dịch vụ
của người bán chưa được thắt chặt, khiến người dùng quan tâm tới chất lượng hàng
hóa nhiều hơn trước. Trên các trang mạng có không ít lời tham phiền về sản phẩm
Sinh viên: Lê Đức Bình Lớp LTCĐ-QL202
24
Luận văn GVHD: PGS Nguyễn Hồ Phương
mua theo nhóm không như lời quảng cáo, một số người dùng còn tố nhà cung cấp
"có thái độ phân biệt giữa khách thường và khách dùng voucher".
Thậm chí, có những công ty sẵn sàng "hét" giá sản phẩm hoặc dịch vụ lên cao hơn
thực tế, sau đó đặt tỷ lệ giảm giá lớn khiến người mua cho rằng mình được lợi từ
chương trình. Bên cạnh đó, các loại hàng giả, hàng nhái cũng "đồng thau lẫn lộn"
với hàng thật, một số website bán hàng cố tình mập mờ thông tin hoặc ghi sai để