MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trên lãnh thổ Việt Nam, gần 60 dân tộc sống trên các vùng khác nhau.
Mỗi dân tộc có truyền thống văn hoá riêng và có tiếng nói riêng của mình. Từ
sau cách mạng tháng Tám, Đảng và nhà nước ta đã chăm lo và tạo điều kiện
cho các dân tộc phát triển toàn diện cả về kinh tế lẫn văn hoá, giáo dục. Nhiều
tiếng dân tộc từ chỗ chỉ là tiếng nói giao tiếp khẩu ngữ đã tiến tới có hệ thống
chữ viết riêng. Điều đó đã tạo điều kiện cho ngôn ngữ các dân tộc ổn định và
nhanh chóng phát triển. Cũng như các dân tộc, mọi ngôn ngữ dân tộc đều bình
đẳng và tự do phát triển.
Tuy vậy, tiếng Việt đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong xã hội ta
nói chung cũng như trong nhà trường nói riêng. Tiếng Việt đã trở thành một
tiếng nói hoàn thiện, đáp ứng mọi nhu cầu giao tiếp và thẩm mĩ của xã hội.
Trong quá trình bảo vệ và xây dựng đất nước, tiếng Việt đã trở thành phương
tiện đoàn kết thống nhất ý chí và hành động của đại gia đình các dân tộc Việt
nam. Nói cách khác, trên thực tế, tiếng Việt đã trở thành ngôn ngữ giao tiếp
chung cho tất cả các dân tộc.
Môn tiếng Việt chiếm một ví trị đặc biệt quan trọng trong trường ở vùng
dân tộc. Với tư cách là một môn học, môn tiếng Việt mở rộng tầm hiểu biết cho
các học sinh về ngôn ngữ, cung cấp cho học sinh một phương tiện mới để suy
nghĩ, nhận thức và giao tiếp không những trong nội bộ dân tộc mà còn với các
bạn thuộc các dân tộc khác.
Đọc sách bằng tiếng Việt, các học sinh dân tộc không những chỉ mở rộng
tầm hiểu biết về thế giới xung quanh mình mà còn nắm được vẻ đẹp, sự giàu có
của tiếng Việt, cũng như những tư tưởng, tình cảm cao đẹp của các nhà văn hoá
lớn như lòng yêu quê hương đất nước, yêu cuộc sống, lòng yêu thương con
người và truyền thống của dân tộc ta. Trong các trường học của ta, sự truyền
1
thụ tri thức khoa học, việc rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo đều thông qua tiếng
Việt. Chất lượng nắm tri thức khoa học, hình thành các kĩ năng, kĩ xảo đó phụ
thuộc vào năng lực hiểu và tiếp nhận tiếng Việt của các học sinh. Chỉ có hiểu
Trưởng Bộ GD&ĐT đã ra quyết định số 5236/QĐ-BGDĐT về việc thành lập
Ban chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu
số do Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển làm Trưởng ban, Vụ Trưởng Vụ GDTH
làm Phó Trưởng ban thường trực; Phó Viện Trưởng Viện KHGDVN và Phó
Vụ Trưởng Vụ GDTH làm phó Trưởng ban. (Theo đó, năm học 2009 - 2010,
2010 - 2011, 2011 - 2012 Bộ GD&ĐT ban hành Quyết định triển khai dạy học
Tiếng Việt theo hướng tiếp cận cá thể hóa. Trong quá trình thực hiện, chất
lượng tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số đã tăng lên rõ rệt, kèm theo đó là
số lượng học sinh tham gia chương trình bồi dưỡng tiếng Việt cũng tăng lên
hằng năm.
Tiếp đó BGDĐT đã đề ra các công văn số 8114/BGDĐT ngày 15/9/2009
và công văn số 145/TB-BGDĐT ngày 02/7/2010 về việc nâng cao chất lượng
dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Các huyện Nam Đông, A
Lưới và các trường có học sinh dân tộc ở Hương Trà, Phong Điền, Phú Lộc
thực hiện việc chuẩn bị tiếng Việt từ 2 - 3 tuần cho học sinh và dạy tăng buổi
trong tuần hoặc dạy học 2 buổi/ngày. Cần tạo môi trường giao tiếp Tiếng Việt
cho học sinh qua các môn học và hoạt động giáo dục; khuyến khích các hoạt
động giao lưu văn hóa, văn nghệ giữa các lớp, giữa các trường; sử dụng hiệu
quả các phương tiện hỗ trợ các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết như tranh hướng
dẫn học sinh tập nói, bài hát hỗ trợ học tiếng Việt.
Phòng Giáo dục Sở phối hợp với Phòng GD&ĐT Nam Đông và A Lưới tổ
chức hội thảo tập huấn chuyên đề “Đổi mới phương pháp dạy học trên cơ sở
đảm bảo kiến thức cơ bản vững chắc trong mỗi bài học cho học sinh dân
tộc”.Tiếp tục phối hợp giữa Phòng Giáo dục Sở với Phòng GD&ĐT Nam Đông
và A Lưới tổ chức Ngày hội giao lưu “Tiếng Việt cho học sinh dân tộc”.
3
Các báo cáo của Bộ GD&ĐT về tổ chức dạy học lớp ghép thực hiện theo
công văn số 9548/BGDĐT ngày 13/10/2008 về việc Hướng dẫn quản lý và tổ
chức dạy học lớp ghép đã đề cập đến tình hình sử dụng phương pháp tiếp cận
cá thể hóa và báo cáo kết quả đạt được của việc ứng dụng phương pháp này ở
Đối tượng nghiên cứu: Tiếp cận cá thể hóa trong dạy học tiếng Việt ở lớp ghép
Phạm vi nghiên cứu: Các trường ở miền núi, dân tộc thiểu số.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này, người viết sẽ giải quyết các nhiệm vụ sau:
Tìm hiểu về lí luận và thực tiễn dạy học ở miền núi theo phương pháp tiếp
cận cá thể hóa học sinh.
Đề xuất một số biện pháp để vận dụng phương pháp tiếp cận cá thể hóa trong
dạy học ở lớp ghép
Thiết kế thể nghiệm giáo án một bài tiếng Việt cụ thể, trong đó có vận
dụng các biện pháp trên để tiếp cận cá thể hóa.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghien cứu để thực hiện đề tài này đạt kết quả và góp
phần làm phong phú cho đề tài tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp quan sát, điều tra
- Phương pháp thử nghiệm sư phạm
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
- Phương pháp so sánh, diễn dịch, quy nạp
6. Cấu trúc tiểu luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài có ba chương sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2 Cách tổ chức dạy học tiếng Việt ở lớp ghép theo phương pháp
tiếp cận cá thể hóa
Chương 3 Thử nghiệm sư phạm
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
5
1.1 Cơ sở lý luận
Lớp ghép được tổ chức ở những địa phương có địa hình hiểm trở, đi lại
khó khăn, dân cư phân tán, trẻ em ở độ tuổi đi học ở từng điểm dân cư ít. Lớp
ghép là một hình thức tổ chức dạy học trong đó một giáo viên cùng một lúc
6,7 thì nhóm học sinh này chưa đủ trình độ để tiếp thu. Vì vậy học sinh mỗi lớp
con phải làm việc độc lập trong từng thời gian nhất định để giáo viên có thể
làm việc với lớp con khác. Thực tiễn cho thấy, làm việc độc lập của học sinh là
yếu tố quyết định hiệu quả, chất lượng của quá trình dạy học ở lớp ghép. Sự
thành công của quá trình dạy học trực tiếp phụ thuộc vào năng lực của giáo
viên trong việc tổ chức, điều khiển học sinh tiến hành làm việc độc lập. Học
sinh làm việc độc lập là với sự hướng dẫn ban đầu của giáo viên mỗi học sinh
thuộc nhóm đối tượng này phải tự chép, tự đọc bài học thuộc chương trình của
mình để giáo viên có thời gian giảng bài, hướng dẫn cho nhóm học sinh khác.
Sau khi hướng dẫn xong thì nhóm học sinh này lại tự làm việc độc lập để giáo
viên quay lại nhóm bên kia để kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện và chỉnh
sửa bài. Khi làm việc độc lập yêu cầu đặt ra cho từng nhóm học sinh rất cao,
đòi hỏi phải thực sự yên lặng, nghiêm túc và nổ lực. Đó là một trong những
điều kiện tiên quyết để lớp học đạt được hiệu quả cao.
1.1.2.3 Học sinh luân phiên thực hiện hoạt động độc lập và hoạt động
dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên
Trong khi học sinh lớp con này tiến hành công việc độc lập thì học sinh
con khác lại được làm việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên và ngược lại [2;
47]. Cứ như thế hai quá trình - quá trình độc lập và quá trình làm việc dưới sự
hướng dẫn trực tiếp của giáo viên sẽ luôn phiên nhau trong suốt tiết học. Vì
vậy, ta có sơ đồ làm việc ghép như sau:
Lớp con A Lớp con B
Làm việc độc lập Làm việc với giáo viên
Làm việc với giáo viên Làm việc độc lập
Làm việc độc lập Làm việc với giáo viên
7
Làm việc với giáo viên Làm việc độc lập
Thời gian dành cho những công việc độc lập của mỗi học sinh lớp con này
phụ thuộc vào thời gian cần thiết để giáo viên làm việc trực tiếp với học sinh
lớp con khác nhau, tức là phụ thuộc vào nội dung hoạt động của giáo viên với
bài và bắt tay vào công việc học sinh ít bị ngắt quãng hay làm phiền trong quá
trình “làm việc”, không bị gò bó hay ép buộc theo khuôn khổ, học sinh cảm
thấy hạnh phúc khi được làm việc
- Nhờ tiếp cận, học sinh học hỏi khái niệm, kiến thức thông qua trải
nghiệm thực tế với các học cụ, mô hình mang tính chất khám phá, xây dựng,
hơn là học theo chỉ dẫn trực tiếp từ phía giáo viên. Học sinh được tự do chọn
lựa và hoạt động trong một môi trường được chuẩn bị kỹ càng, phù hợp với khả
năng và giai đoạn phát triển, nên sẽ phát huy tối đa tiềm năng sẵn có của mình
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình tổ chức dạy học theo phương án ghép lớp ở miền núi
hiện nay
Lớp học ghép là một thực tế diễn ra ở nhiều điểm trường thuộc vùng đặc
biệt khó khăn trong nước. Hầu hết các vùng khó khăn của các tỉnh trong
nước ta đều có hình thức tổ chức dạy học theo phương án ghép lớp. Nhất
là các tỉnh ở vùng núi Bắc Bộ, Bắc Trung bộ và Tây Nguyên.
Riêng ở tỉnh Nghệ An, Theo thống kê của Sở GD - ĐT, hiện nay, cả
tỉnh có đến 290 lớp ghép với hơn 3.100 em, chủ yếu là ở các vùng đặc biệt
khó khăn của các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương và Quế Phong. Trong số
các huyện vùng cao của tỉnh, Kỳ Sơn là địa phương có nhiều lớp ghép nhất
với 126 (cả Tiểu học và Trung học cơ sở). Những lớp ghép được mở đến tận
các bản làng đã tạo điều kiện cho tất cả các em học sinh ở những vùng xa xôi, hẻo
lánh cách điểm trường chính hàng chục km đều có thể được tới trường học chữ.
9
Thừa Thiên Huế số lượng lớp ghép cũng chiếm số lượng không ít, nhất
là các huyện Nam Đông, A Lưới và các trường có học sinh dân tộc nội trú ở
Hương Trà, Phong Điền, Phú Lộc.
Các tỉnh ở Tây Nguyên số lượng lớp ghép ở nhiều điểm trường chiếm số
lượng rất nhiều, nhất là các vùng cao, khu công nghiệp, có nhiều lao động nhập cư
không ổn định, việc tập trung trẻ để phân lớp theo độ tuổi và duy trì trẻ đi học
chuyên cần rất khó khăn do địa bàn rộng, còn nhiều điểm lẻ và phương pháp lớp
đối tượng học sinh, dạy cho từng cá nhân nên không có một khuôn mẫu, một
trình tự lên lớp, một giáo án chuẩn bị để làm theo, mà nó tùy thuộc vào từng cá
nhân học sinh ở lớp mình dang giảng dạy, tùy vào nội dung kiến thức cần
truyền đạt của từng bài học [4; 14]. Để dạy học theo hướng cá thể hóa đạt hiệu
quả thì trước tiên giáo viên cần nắm chắc năng lực tiếp thu, trình độ kiến thức
của mỗi học sinh, việc nắm bắt đặc điểm tâm sinh lý, hiểu được cá tính của
từng cá nhân học sinh là đều hết sức quan trọng.
Để xác định các phương pháp dạy học tiếng Việt trong các trường dân tộc,
ta cần xuất phát các cơ sở sau đây:
- Mục đích của việc dạy học tiếng Việt trong các trường dân tộc. Mục đích
này chi phối toàn bộ hoạt động dạy và học của các thầy giáo và học sinh nhằm
đạt yêu cầu đề ra. Bởi vậy, mục đích dạy học tiếng Việt phải là một trong
những cơ sở của hàng đầu.
- Các quy luật chi phối quá trình dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc.
Dạy học tiếng Việt là một khoa học cụ thể. Bản chất của tiếng Việt, những đặc
thù trong cách tổ chức hệ thống tiếng Việt, đặc biệt là những quy luật của quá
trình tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai là cơ sở để đề ra nguyên tắc.
Nguyên tắc dạy học tiếng Việt cho người dân tộc muốn trở thành nguyên
tắc thực thụ theo nghĩa của nó cần phải dựa trên những cơ sở này.
11
Quá trình dạy học tiếng Việt có những quy luật riêng xuất phát từ bản chất
của tiếng Việt và những quy luật tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai. Một trong những
con đường đi vào dạy học tiếng việt cho học sinh như: dạy tập nói, dạy từ ngữ,
dạy câu cho học sinh là cần phải nhận diện được chương trình cũng như đặc
điểm, trình độ của học sinh. Trong dạy học, điều cốt lõi là cần phải chọn được
các phương pháp phù họp với nội dung và đối tượng dạy học. Khác với các con
đường đi vào tác phẩm văn chương là phải phân diện ra được thể loại. Đến với
thơ không giống với tự sự hay kịch. Đến với văn học dân gian không hoàn toàn
giống văn học viết. Văn học hiện đại và trung đại có những đặc trưng thi pháp
riêng thì về bên dạy học tiếng việt cũng có những cách tiếp cận riêng theo các
và số, trung hoà về sắc thái tình cảm, không phân biệt quan hệ, tuổi tác, địa vị
xã hội như đại từ và các từ xưng hô trong tiếng Việt. Bởi vậy, khi tiếp xúc với
hệ thống từ xưng hô tiếng Việt, các em học sinh thuộc các dan tộc trên hay mắc
lỗi bỏ qua những sắc thái ý nghĩa khác ngoài nghĩa về ngôi và số.
Để khắc phục nhược điểm nói trên, trong quá trình học tập tiếng Việt, thầy
giáo phải làm sao cho các em học sinh nắm chắc những khác biệt giữa tiếng mẹ
đẻ của các em và tiếng Việt, trên cơ sở đó mà thay đổi thói quen ngôn ngữ để
hình thành những thói quen ngôn ngữ mới.
13
CHƯƠNG 2 CÁCH TỔ CHỨC DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở LỚP
GHÉP THEO PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CÁ THỂ HÓA
2.1 Các yêu cầu của phương pháp tiếp cận cá thể hóa
2.1.1 Yêu cầu về tài liệu dạy học
Hiện nay, ở các vùng có lớp ghép, tuỳ theo tình hình cụ thể của từng địa
phương mà các sở giáo dục và đào tạo có thể chọn để thực hiện một trong ba bộ
chương trình, ứng với nó là ba bộ sách giáo khoa: chương trình 165 tuần (còn
gọi là chương trình cải cách, chương trình đại trà), được thực hiện phổ biến
trong các trường tiểu học trên mọi miền đất nước; chương trình 120 tuần (là
chương trình dành cho các trường tiểu học ở các vùng giáo dục gặp nhiều khó
khăn); chương trình 100 tuần (chương trình phổ cập, xoá mù chữ) phục vụ cho
sự nghiệp phổ cập giáo dục, nâng cao dân trí, phù hợp với đối tượng thanh
thiếu niên đang tham gia lao động mà còn thất học. Các chương trình tuy có
nhiều điểm khác nhau nhưng đều có cùng một mục tiêu cơ bản - hình thành,
phát triển kĩ năng sử dụng tiếng Việt, kĩ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết)
tiếng Việt, có cùng nguyên tắc chung để tổ chức quá trình dạy học: xây dựng
giờ tiếng Việt thành một tổ hợp các hành động, thao tác học tập của học sinh,
khác hẳn với cách dạy thầy giảng - trò ghi nhớ trước đây [1]. Đó chính là
những điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức dạy học tiếng Việt ở lớp ghép. Mặt
khác, do đặc điểm của mình mà ở các lớp ghép cần phải có sự điều chỉnh các
tài liệu dạy học cho phù hợp.
lượng kiến thức bắt buộc phải truyền thụ đến học sinh và học sinh phải tiếp
nhận đúng, đủ lượng kiến thức đó. Hệ thống câu hỏi phải chặt chẽ, từ dễ đến
khó, từ đơn giản đến phức tạp để đảm bảo học sinh yếu cũng có thể tham gia
tìm hiểu nội dung bài và kích thích được khẳ năng tư duy của học sinh khá giỏi.
Các ví dụ trong SGK đôi khi khá phức tạp do đó giáo viên cần lưu ý để làm nổi
rõ kiến thức, kĩ năng của học sinh. cần mnahj dạn đổi ví dụ đơn giản hơn cho
15
các em yếu dễ tiếp thu kiến thức mới, rồi sau đs cho học sinh khá giỏi phân tích
các ví dụ trong SGK. Như vậy là ta đã dạy học theo từng đối tượng, với từng
kiến thức bài học theo tài liệu kết hợp giữa kiến thức, kĩ năng sẵn có với tài liệu
kiến thức mới.
2.1.1.3 Nội dung tài liệu vừa sức với hoạt động độc lập của học sinh
Nội dung tài liệu dạy học phải được trình bày vừa sức với điều kiện tự làm
việc của học sinh, kích thích hứng thú của học sinh suốt cả quá trình học tập,
xây dựng được những hành động cụ thể và trình tự thực hiện chúng.
Trong tài liệu dạy học có những chỉ dẫn về trình tự hoạt động tư duy và
thực hành, những chỉ dẫn giúp cho việc tự kiểm tra của học sinh.
Tài liệu dạy học tiếng Việt ở lớp ghép phải giải quyết dược các nhiệm vụ:
Thứ nhất, hướng dẫn hoạt động của học sinh trong việc hình thành, củng
cố khái niệm, quy tắc, kĩ năng, kĩ xảo.
Thứ hai, phối hợp được hoạt động của các cá nhân học sinh với tập thể lớp.
Thứ ba, bằng hệ thống bài tập giúp học sinh ôn lại những kiến thức, nắm
kĩ năng, kĩ xảo đã có trong mối quan hệ chặt chẽ với việc nắm kiến thức mới,
giúp học sinh vận dụng kiến thức tiếng Việt trong hoạt động nói năng. Bài tập
tiếng Việt ở lớp ghép được xây dựng theo tinh thần chuyển hành động bằng lời
của học sinh thành hành động vật chất (dùng các kí hiệu để vẽ, tô, nối, đánh
dấu…) với sự hỗ trợ của kênh hình. Các bài tập được xây dựng theo tinh thần
trắc nghiệm, bao gồm các loại bài tập: điền thế, lựa chọn, đối chiếu cặp đôi, nêu
câu hỏi và yêu cầu trả lời ngắn gọn. Hiện nay, đề án lớp ghép đã được xây
dựng các phiếu bài tập (còn gọi là phiếu giao việc) cho lớp ghép. Phiếu bài tập
thì giáo viên mới có điều kiện giảng dạy học sinh lớp 6 tìm hiểu bài. Rõ ràng
trình tự dạy bài tập đọc lớp 6 trong lớp ghép vừa nêu khác hẳn trình tự dạy bài
tập đọc lớp 6 ở các lớp thường.
17
Khi ghép hai lớp con cùng học chung một bài tập làm văn, từ ngữ, ngữ
pháp… giáo viên phải để lớp dưới học tập ngắn hơn, đơn giản hơn. Viết văn
ngắn hơn và chỉ kể một số đoạn trong câu chuyện… Như vậy, giáo viên phải
điều chỉnh nội dung bài dạy theo hướng phân hoá trong, tức là phân hoá trong
chính nội dung dạy học.
2.1.1.4 Giới thiệu chương trình, sách giáo khoa tiếng Việt
- Chương trình và sách giáo khoa tiểu học
Đậy là chương trình tiếng Việt chung cho cả nước, gọi tắt là chương trình
165 tuần. Chương trình được triển khai thành bộ sách giáo khoa tiếng Việt từ
lớp 6 đến lớp 9 trong toàn quốc. Đã biên soạn bộ phiếu bài tập dùng theo bộ
sách giáo khoa này ở các lớp ghép. Nội dung các phiếu bài tập có tính toán tới
đặc điểm của lớp ghép và đối tượng là học sinh dân tộc.
- Chương trình và sách giáo khoa dùng cho vùng dân tộc phát triển
giáo dục gặp nhiều khó khăn
Như ta đã biết, quá trình dạy và học cho học sinh người Việt và học sinh
người dân tộc không hoàn toàn thống nhất, chúng có những quy luật và đặc thù
riêng. Từ nhận thức này, trong các trường dân tộc đang dạy chương trình và
sách giáo khoa dùng cho vùng dân tộc phát triển gặp nhiều khó khăn (gọi tắt là
chương trình 120 tuần). Trước tiên, chương trình này yêu cầu thời gian ít hơn
nên thích hợp với hoàn cảnh khó khăn ở các trường dân tộc.
Đặc điểm nổi bật của chương trình và sách giáo khoa 120 tuần là có chú ý
đến đặc thù của việc dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc. Trước khi học
các phân môn, các em có một giai đoạn nói ban đầu. Mục đích của giai đoạn
này là nhằm trang bị cho các em một vốn từ tối thiểu và những mẫu câu đơn
giản và cơ bản giúp các em bước đầu có thể nói được, nghe được những nội
dung đơn giản làm cơ sở cho việc tiếp thu chương trình chính thức. Giai đoạn
Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế ở miền núi còn gặp nhiều khó khăn, trong
lúc phòng học còn chưa thì các phương tiện như: phim đèn chiếu, băng hình,
băng tiếng, máy chiếu qua đầu là cả một vấn đề còn các biểu bảng thống kê,
19
sơ đồ, lược đồ là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với giáo viên. Hiện nay, với sự
đầu tư, quan tâm, chăm sóc của Đảng và nhà nước những trang thiết bị trên
phần nào được đáp ứng nhưng để đạt được hiệu quả tối ưu đòi hỏi sự cố gắng
rất nhiều từ hai phía của cả thầy và trò. Như vậy yêu cầu về trang thiết bị,
phương tiện dạy học ở miền núi là:
2.1.2.1 Yêu cầu về trang thiết bị, đồ dùng dạy học
Do đặc điểm của mình, dạy học ở lớp ghép có yêu cầu cao hơn các lớp
thường về thiết bị:
Thứ nhất, cần phải có tranh, ảnh minh họa bài dạy tiếng Việt. Đây là loại
tranh ảnh được sưu tầm hoặc được chụp, được vẻ phục vụ một chủ đề nhất
định. Các bộ sưu tập ảnh các loại như (hoa sen, hoa lan, hoa mai, hoa đào), ảnh
các cảnh dệp đất nước (hồ Hoàn Kiếm,đền Ngọc Sơn, lăng vua chúa Nguyễn,
nhà Rồng, hò Tơ-nưng, ), các gương thiếu niên dũng cảm (Kim Đồng, Vừ A
Dính, Nguyễn Bá Ngọc, ) là những đồ dùng dạy học không thể thiếu để dạy
học ở các lớp ghép. Các tranh ảnh này giúp cho học sinh tiếp thu nghĩa của các
từ ngữ, nội dung các bài tập đọc, kể chuyện một cách sinh động cụ thể.
Thứ hai, sử dụng sơ đồ, lược đồ, bảng tóm tắt, bảng hệ thống hóa để dạy
tiếng Việt
Trong các tiết dạy ngữ pháp, các sơ đồ, biểu đồ, lược đồ có tác dụng miêu
tả những mối quan hệ ngữ pháp vốn trừu tượng trở nên trực quan, dễ hiểu đối
với các em học sinh.
Ví dụ: sơ đồ sau miêu tả các dạng từ láy.
Từ láy
Láy đôi(2tiếng)
Xinh xinh
Láy ba (3 tiếng)
mỗi học sinh ít nhất phải có sách giáo khoa để quá trình tự làm việc diễn ra
suôn sẻ. Bên cạnh đó cần phải chuẩn bị đầy đủ sách giáo khoa, tài liệu tham
khảo đối với giáo viên dạy lớp ghép. Nên soạn thảo cho học sinh lớp ghép sách
riêng, trong đó có thể áp dụng những thành tựu của dạy học chương trình hoá.
21
Ngoài ra, các phương tiện hỗ trợ cho việc dạy học tiếng Việt, đặc biệt các
phiếu, vở bài tập, các trò chơi, có vai trò quan trọng. Đó có thể là các bộ tranh
ảnh minh hoạ được sử dụng ở nhiều phân môn :Tập đọc, từ ngữ, ngữ pháp, kể
chuyện, tập làm văn… Nhiều giáo viên có các bộ sưu tập quý để dạy học ngữ
pháp, từ ngữ (nhất là bài ôn tập), (ví dụ dạy các bài từ ngữ theo chủ đề quan hệ
gia đình, gia tộc…). Các phương tiện hỗ trợ này có tác dung tăng cường hoạt
động thực hành cho học sinh và tạo sự hấp dẫn cho giờ học lớp ghép.
Riêng vở bài tập có tác dụng cá thể hoá hoạt động học tập của học sinh,
tạo điều kiện cho các em tự làm việc. Các trò chơi học tập tiếng Việt một mặt
tạo sự vui chơi, thư giản cho học sinh, mặt khác góp phần phát triển các kĩ năng
tiếng Việt. Tất cả các phân môn tiếng Việt đều có thể vận dụng các trò chơi gắn
với các bài học. Ví dụ cho học sinh đọc nhanh các câu văn có nhiều tiếng khó,
tập diễn lại một câu chuyện kể, đọc diễn cảm các đoạn đối thoại…
Bên cạnh đó, lời nói gợi tả của giáo viên là một phương tiện trực quan
nghe quan trọng bậc nhất, tác động liên tục đến học sinh. Vì thế giáo viên cần
trau dồi để có vốn tiếng Việt phong phú, có lời giảng giàu chất tạo hình, có sức
cuốn hút học sinh.
2.2 Yêu cầu về nội dung và hình thức của phương pháp tiếp cận cá
thể hóa
Việc tổ chức dạy lớp ghép cần dựa vào các kết quả nghiên cứu về hoạt
động tự học của học sinh. Liên quan đến phương pháp dạy lớp ghép có một loạt
những nghiên cứu về vấn đề phát triển tính độc lập làm việc của học sinh, tổ
chức làm việc theo nhóm ở trong lớp và ngoài trời, phương pháp tiếp cận cá thể
trong giờ học, sử dụng các phương tiện kĩ thuật trong giờ học, phương pháp tự
kiểm tra, những biện pháp chống nhiễu ở các lớp ghép [1; 84]…Ví dụ, các
hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên và học sinh. Trong đó giáo viên
là người chủ đạo và học sinh là người chủ động, giáo viên không ngừng tổ chức
dạy học và hướng dẫn cho học sinh còn học sinh phải tích cực nhận thức bài
học và tự hoạt động sau khi có sự hướng dẫn của giáo viên. Vậy nhiệm vụ đặt
23
ra trong việc tổ chức, hướng dẫn của giáo viên và tích cực nhận thức, hoạt dộng
độc lập của học sinh đó là:
2.2.1.1 Đối với giáo viên
Tài năng sư phạm của giáo viên là biết lựa chọn phương pháp tối ưu tùy
theo đặc điểm đối tượng, tài liệu giảng dạy và điều kiện dạy học cụ thể. Đặc
điểm của lớp ghép đòi hỏi giáo viên phải biết vận dụng phương pháp tiếp cận
cá thể hóa một cách linh hoạt để tận dụng được mặt mạnh, mặt yếu của phương
pháp này để việc giảng dạy tiếng việt khỏi trừu tượng, khô khan, phù phiếm.
Tuy nhiên có một yêu cầu rất quan trọng trước khi bắt tay vào giảng dạy là giáo
viên phải nắm vững hệ thống khái niệm, tính chất lý thuyết của tiếng việt để
hình thành cho học sinh qua mỗi lớp học để có thể liên kết một cách chặt chẽ,
chủ động với các bài học thuộc các chương trình khác nhau trong một lớp ghép.
Giờ học tiếng Việt, kể cả những giờ học có tính chất lí thuyết ở lớp 6 đến
lớp 9 đều được cấu thành từ một hệ thống việc làm của thầy giáo và học sinh.
Giờ học tiếng Việt là quá trình giải quyết các nhiệm vụ và bài tập. Ở lớp ghép,
giáo viên cũng phải tuân thủ những nguyên tắc tổ chức thực hiện nhiệm vụ và
bài tập tiếng Việt nói chung. Giáo viên phải nắm chắc mục đích của nhiệm vụ
và bài tập, biết giải quyết chúng một cách chính xác và nắm được trật tự các
thao tác cần tiến hành để hướng dẫn học sinh. Công việc của giáo viên lúc này
là: ra nhiệm vụ, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ và kiểm tra việc thực hiện
nhiệm vụ. Nhiệm vụ phải được trình bày một cách rõ ràng, ngắn gọn, chính
xác, cụ thể. Nhiệm vụ phải được xây dựng sao cho trình tự thực hiện được trải
dài theo trình tự thời gian, chia thành từng thao tác. Khi hướng dẫn thực hiện,
giáo viên phải nắm trình tự này để kiểm soát được cả quá trình chứ không phải
chỉ kết quả cuối cùng, để biết được học sinh gặp khó khăn hoặc sai sót từ khâu
- Em hãy ghi lại những từ hai tiếng
trong đó có tiếng “xanh”
Với các lớp học ghép có trình độ cao hơn (lớp 8, 9), học sinh nhận nhiệm
vụ theo dàn bài, câu hỏi ghi sẵn trên bảng: Hãy đọc sách giáo khoa, từ phần…
đến phần … ; hãy so sánh…; hãy kết luận…; hãy ghi vào vở…
Bài tập cần ra dưới dạng viết: Gạch dưới từ viết tắt những kí hiệu từ loại,
gạch dưới để phân biệt thành phần câu… Kết quả thực hiện nhiệm vụ sẽ định
hình lại ở những kí hiệu (chữ cái, đường kẻ…).
25