DẪN LUẬN
1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Chính sách xã hội (Social policy) là 1 bộ phận cấu thành chính sách chung của một
chính quyền Nhà nước, hướng tới lĩnh vực xã hội nhằm giải quyết những vấn đề liên
quan đến cuộc sống con người, đến lợi ích của các giai cấp, tầng lớp, giới, … trong xã
hội. Chính sách xã hội góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội cho phù hợp với mục
tiêu của chính đảng cầm quyền và của chính quyền Nhà nước.
Các nội dung của chính sách xã hội gắn bó mật thiết với đời sống con người, góp
phần giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội (Social Problems) nảy sinh như: xoá
đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, hạn chế và ngăn chặn các tệ nạn xã hội, đền ơn đáp
nghĩa, các chương trình nhân đạo – từ thiện … Trong đó, xóa đói giảm nghèo không
chỉ là chính sách xã hội quan trọng của mỗi quốc gia, mà đã trở thành vấn đề toàn cầu.
Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) là một thành phố lớn của Việt Nam với tổng
dân số đến năm 2006 là 6.424.519 người, nếu kể cả dân tạm trú có hơn 8 triệu người
(chiếm tỷ lệ 6,6% dân số của cả nước), là một trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa
học kỹ thuật, là đầu mối quan trọng trong giao lưu khu vực và quốc tế.
Từ vị trí và tầm quan trọng như đã nêu trên, trong 20 năm đổi mới và tiến hành
công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1986-2006), cùng với chủ trương phát triển
kinh tế, TPHCM đặc biệt coi trọng việc thực hiện đồng bộ các chính sách xã hội và đã
đạt được những thành quả quan trọng: đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thành
phố được nâng lên, các nhu cầu thiết yếu của người dân được cải thiện; phong trào toàn
xã hội chăm lo đồng bào nghèo, giải quyết việc làm, giáo dục-đào tạo, dạy nghề cũng
như các dịch vụ xã hội cơ bản khác, chương trình “ba giảm”, … mang lại kết quả thiết
thực, có ý nghĩa kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội rộng lớn.
Trong bối cảnh chung đó, ý thức được vai trò, trách nhiệm và những điều kiện đặc
thù của giới, phụ nữ TPHCM thông qua tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ (sau đây gọi tắt
là Hội phụ nữ - Hội) và các tổ chức xã hội – nghề nghiệp khác đã tích cực tham gia
thực hiện các chính sách xã hội, có những cố gắng to lớn, đóng góp đáng kể cho sự phát
triển của thành phố.
Tuy nhiên, hàng loạt vấn đề trực tiếp tác động đến việc phát huy khả năng của phụ
nữ chưa được giải quyết tốt đã hạn chế sự đóng góp của phụ nữ đối với công việc
Đức Châm (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2007), … Các tác phẩm trên đề cập khá
toàn diện về những vấn đề xã hội của Việt Nam trong bối cảnh từ sau khi đất nước
bước vào thời kỳ đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, tiến hành công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, phân tích những nguyên nhân, đặc điểm của các hiện tượng xã hội, tệ nạn xã
hội, đồng thời đưa ra một số giải pháp phòng chống tệ nạn xã hội.
Ở góc độ khác, liên quan đến vấn đề xóa đói giảm nghèo có các công trình như:
Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay của Nguyễn Thị Hằng (Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, 1997), Một số chính sách Quốc gia về việc làm và xóa đói
giảm nghèo của Đức Quyết (Nhà xuất bản Lao động, 2002), … Đáng chú ý là kết quả
các khảo sát đánh giá nghèo và giảm nghèo ở TPHCM qua tham vấn cộng đồng về dự
thảo chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo của Việt Nam do
Shanks Edwin, Carrie Turk tập hợp trong Ý kiến của cộng đồng về chiến lược giảm
nghèo, Các đề xuất của người nghèo về chính sách, Cùng người nghèo hoàn thiện
chính sách (Trung tâm thông tin phát triển Việt Nam, 2002).
Ở khía cạnh lao động và việc làm, có thể kể đến các công trình tiêu biểu như: Sử
dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam của Trần Đình Hoan, Lê Mạnh
Khoa (Nhà xuất bản Sự Thật, 1991) nghiên cứu việc sử dụng nguồn lao động và giải
quyết việc làm ở cả nông thôn và thành thị trong bối cảnh đô thị hóa. Trên cơ sở nghiên
cứu xã hội học, tác giả cho thấy mối tương quan giữa phát triển kinh tế với giải quyết
2
việc làm và chính sách xã hội, đi đến sự khẳng định việc phát triển kinh tế xã hội ở nông
thôn có ảnh hưởng lớn đến việc làm của dân cư thành thị. Một số vấn đề về lao động,
việc làm và đời sống người lao động ở Việt Nam hiện nay do Th.s Đinh Đăng Định chủ
biên (Nhà xuất bản Lao động, 2004), Thị trường lao động - cơ sở lý luận và thực tiễn ở
Việt Nam của Phạm Đức Chính (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2005), Thị trường
lao động Việt Nam - Thực trạng và giải pháp do Nguyễn Thị Thơm chủ biên (Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, 2006) lại nêu lên những vấn đề lý luận và thực tiễn về thị trường
lao động ở Việt Nam, tầm quan trọng của lao động và việc làm trong chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội, phân tích những thực trạng và đời sống người lao động ở Việt
Nam, đưa ra những phương hướng và giải pháp căn bản nhằm nâng cao chất lượng
Một số công trình nghiên cứu khác bằng tiếng Anh như: Expanding choices for
the rural poor: human development in Viet Nam. (U.N, 1998) về chính sách lao động
và nhân lực Việt Nam, Situation analysis and Policy Recommendations to Promote the
Advancement of Women and Gender Quality in Vietnam, của GENDCEN, CFWS,
IOS, CEPEW (2000) nghiên cứu về bình đẳng giới ở Việt Nam, Proposed program
loan Socialist Republic of Vietnam support the implementation of the poverty reduction
program (ADB, 2006) đề cập đến viện trợ kinh tế của Ngân hàng Phát triển Châu Á
cho Việt Nam trong chương trình giảm nghèo, Occupational segregation and gender
discrimination in labor markets : Thailand and Viet Nam của Hyun H. Son. (ADB,
2007) về phân biệt giới tính trong công việc ở thị trường lao động Thái Lan và Việt
Nam. Song song đó, về kinh nghiệm sử dụng nguồn tài chính vi mô trong các chương
trình giảm nghèo mang lại nhiều hiệu quả thiết thực như Bangladesh có các công trình
liên quan như: Commercialization of microfinance: Bangladesh của Stephanie
Charitonenko and S.M. Rahman (ADB, 2002), Bangladesh from counting the poor to
making the poor count của Shekhar Shah (World Bank , 1999), Bangladesh:
strategies for enhancing the role of women in economic development.(World Bank,
1990), … Các tác phẩm này đề cập đến vấn đề lập kế hoạch tín dụng và viện trợ tài
chính, kỹ thuật của Ngân hàng Phát triển Châu Á cho Bangladesh, tài chính vi mô và
các chương trình tín dụng, vai trò của phụ nữ trong công cuộc phát triển kinh tế của
Bangladesh, việc làm của nữ lao động nhập cư, …
Ngoài những công trình nghiên cứu những vấn đề liên quan của các tác giả nước
ngoài, những đề tài kể trên đề cập đến những vấn đề chung hoặc một số khía cạnh
chuyên biệt của chính sách xã hội trên phạm vi cả nước hoặc ở TPHCM, nhưng chưa
gắn với họat động và vai trò của lực lượng phụ nữ TPHCM. Nói cách khác, cho đến
nay chưa có đề tài nghiên cứu chuyên sâu về quá trình thực hiện các chính sách xã hội
của thành phố Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới (1986-2006) với sự tham gia của
phụ nữ thành phố. Việc nghiên cứu về nội dung có liên quan đề tài trên mới chỉ dừng lại
ở nghiệp vụ tổng kết họat động của Hội Liên hiệp Phụ nữ TPHCM trong từng giai
đoạn; các nghiên cứu riêng lẻ về thực trạng bất bình đẳng giới, vai trò phụ nữ trong gia
đình và xã hội; các thống kê về lực lượng lao động, tình trạng thất nghiệp, tệ nạn mại
6. Những đóng góp mới của luận án:
Với những kết quả nghiên cứu đạt được, đề tài này có những đóng góp sau:
- Về mặt khoa học: đề tài cung cấp những tư liệu và luận cứ
khoa học có độ tin cậy cao liên quan đến hoạt động và vai trò của phụ nữ TPHCM
trong việc thực hiện các chính sách xã hội của thành phố, phục dựng bức tranh
tổng thể về những đóng góp của phụ nữ TPHCM trong việc giải quyết các vấn đề
xã hội qua 20 năm (1986-2006).
- Ở phương diện thực tiễn, từ kết quả nghiên cứu khoa học,
bên cạnh việc làm rõ những thành tựu đạt được, đề tài nêu ra những tồn tại, yếu
kém trong việc thực hiện các chính sách xã hội ở TPHCM và góp phần đề xuất
những giải pháp khả thi nhằm phát huy vai trò của nữ giới trong việc thực hiện các
chính sách xã hội ở TPHCM nói riêng và trong cả nước nói chung.
- Từ những kết quả mà luận án đạt được về nội dung và tư liệu,
đề tài này cũng hy vọng sẽ thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu trong cũng
như ngoài nước trên các lĩnh vực: sử học, xã hội học, kinh tế học, văn hóa học, …
7. Bố cục của luận án:
Ngoài phần mở đầu (13 trang), kết luận (9 trang), tài liệu tham khảo (29 trang) và
phụ lục (66 trang), nội dung chính của luận án gồm 3 chương. Chương 1: Quan điểm
và chính sách của Đảng bộ, chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đối với các vấn đề xã
hội (1986-2006) (39 trang). Chương 2: Phụ nữ TPHCM tham gia thực hiện các chính
sách xã hội của thành phố (1986-2006) (74 trang). Chương 3: Hiệu quả hoạt động của
phụ nữ TPHCM trong việc thực hiện chính sách xã hội (1986 – 2006) và những giải
pháp cho thời gian tới (52 trang). Luận án có 15 bảng biểu tổng hợp các số liệu để làm
rõ các nội dung nghiên cứu.
5
CHƯƠNG 1
QUAN ĐIỂM VÀ CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN TPHCM
ĐỐI VỚI CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI (1986 – 2006)
1.1 TPHCM và những vấn đề xã hội cấp thiết trong thời kỳ đổi mới và hội nhập
1.1.1 Những vấn đề chung
Sự phát triển văn hóa chưa tương xứng với phát triển kinh tế, chưa tác động tích
cực đến đời sống xã hội. Chưa có những biện pháp hữu hiệu, đồng bộ ngăn chặn sự
xâm nhập của các loại văn hoá phẩm đồi trụy, phản động từ nước ngoài vào cũng như
việc xuất bản và lưu hành trên địa bàn thành phố những loại sách báo xấu có tính chất
6
kích động, giật gân, câu khách. Phim ảnh, băng từ phản động, đồi trụy, nhảm nhí lưu
hành khá rộng.
Trên đây là những vấn đề xã hội cấp thiết trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, những
tồn tại, yếu kém trên một số lĩnh vực của đời sống xã hội ở TPHCM qua 20 năm đổi
mới. Thực tế đó đặt ra nhiều vấn đề phải tập trung giải quyết – mà trước hết là phải xác
định thực sự đúng đắn, khoa học các quan điểm, chính sách đối với các vấn đề xã hội
cấp thiết trên địa bàn thành phố.
1.2 Chính sách của Đảng bộ và chính quyền TPHCM đối với các vấn đề xã hội
1.2.1 Chính sách về dạy nghề, giải quyết việc làm và đời sống
Đại hội Đảng bộ thành phố từ lần thứ IV (10/1986) đến lần thứ VIII (12/2005)
cũng như các Quyết định của Ủy ban Nhân dân TPHCM về kế hoạch chỉ đạo, điều
hành phát triển kinh tế - xã hội thành phố từng năm đều xác định vấn đề bức bách hàng
đầu của Đảng bộ và chính quyền thành phố là tạo điều kiện để các tầng lớp nhân dân có
công ăn việc làm, có đời sống vật chất, tinh thần, văn hoá ngày một tốt hơn, từ đó đề ra
phương hướng tiếp tục phấn đấu nâng mức thu nhập các tầng lớp dân cư, nhất là nhân
dân lao động. Về đào tạo nghề và giải quyết việc làm, chủ trương khuyến khích mọi
người dân, mọi thành phần kinh tế ở trong nước cũng như các nhà doanh nghiệp nước
ngoài bỏ vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh tạo việc làm (theo quan niệm mọi
hoạt động tạo ra thu nhập hợp pháp đều được coi là có việc làm). Tiếp tục giải quyết
việc làm mới đồng thời với việc giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tiến hành các chương trình đào
tạo lao động lành nghề, có trình độ cao, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển của thành phố
và khu vực, vừa tạo nguồn xuất khẩu lao động. Đào tạo tại các trường dạy nghề, trường
chuyên nghiệp, đại học và tại doanh nghiệp, trong đó hệ thống trường dạy nghề đóng
vai trò quan trọng nhất. Tăng cường đầu tư và đẩy mạnh xã hội hóa công tác dạy nghề;
mở rộng và nâng cấp các cơ sở dạy nghề, xây dựng các trung tâm đào tạo dạy nghề
Trước tình hình tội phạm, mại dâm và ma túy, Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ
VII (12/2000) đã xác định Chương trình mục tiêu “ba giảm” (giảm tội phạm, ma túy và
mại dâm) là một trong 12 chương trình, công trình trọng điểm của thành phố. Ngày
23/7/2001, Ủy ban Nhân dân TPHCM ra Quyết định số 62/2001/QĐ/UB v/v triển khai
kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu “ba giảm” trên địa bàn TP giai đoạn 2001 –
2005 với quan điểm chỉ đạo chung là: trong 3 loại đối tượng: ma tuý, mại dâm, và tội
phạm, trọng điểm cần tập trung giải quyết triệt để là đối tượng ma tuý. Giải quyết tốt đối
tượng ma tuý là giải quyết được trên 50% tội phạm, mại dâm, nhiễm HIV/AIDS và các
tệ nạn xã hội khác. Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII (2005) khẳng định tiếp tục
“Phát huy thành quả các chương trình xã hội, tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu
ba giảm, có giải pháp giải quyết cơ bản nạn ăn xin, trẻ lang thang Giải quyết tốt các
vấn đề xã hội, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội đồng bộ với phát triển kinh tế”.
1.2.4 Giải quyết các vấn đề xã hội khác
* Chính sách đền ơn, đáp nghĩa, chăm lo người nghèo
Văn kiện đại hội Đảng bộ thành phố các khóa đều liên tục đề ra chỉ tiêu, nhiệm vụ
phải quan tâm chăm lo đời sống vật chất tinh thần đối với cán bộ cách mạng lão thành,
cán bộ nghỉ hưu, cựu chiến binh, cán bộ hưu trí, gia đình chính sách, người cao tuổi…,
thực hiện nhất quán chính sách đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn”. Nổi bật trong
chương trình này là các phong trào “Phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng”, tặng “nhà
tình nghĩa”, “nhà tình thương” cho gia đình chính sách và người nghèo; học bổng cho
học sinh nghèo con thương binh, liệt sĩ hiếu học; xây dựng "“quỹ đền ơn đáp nghĩa”,
“Quỹ khám, chữa bệnh cho người nghèo”, đã thu hút được đông đảo nhân dân thành
phố, các mạnh thường quân, các doanh nghiệp và nhân dân cùng tham gia.
* Chính sách dân số, phụ nữ và trẻ em
8
Đại hội Đảng bộ thành phố từ lần thứ IV (1986) đến lần thứ VIII (2005) đều xác
định: cần phải tiếp tục thực hiện các biện pháp đồng bộ để hạn chế tăng dân số tự nhiên
và cơ học. Thực hiện tốt luật pháp và chính sách đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ
nữ, tích cực chăm lo quyền lợi mọi mặt của phụ nữ và trẻ em, coi trọng và thực hiện tốt
chính sách bình đẳng giới trong xã hội; nâng cao trình độ học vấn, tạo việc làm, đấu
đầu với các thách thức mới.
Điều kiện lao động và đời sống sinh hoạt của phần lớn nữ công nhân lao động
thành phố còn quá nhiều vất vả, việc phân bổ, sử dụng lao động nữ còn nhiều chỗ chưa
hợp lý đã làm cho chị em phải lao động với cường độ cao, hao phí sức lao động nhiều
mà năng suất vẫn thấp, nhất là vào lúc thời vụ, hoặc vào những tháng cuối quý, cuối
năm. Mặt khác, điều kiện ăn, ở, đi lại, công việc gia đình, việc học hành, chữa bệnh của
con cái v.v cũng làm cho chị em hao tâm, tổn sức không ít, làm cho họ ít có điều kiện
9
học tập, nghỉ ngơi, giải trí, trình độ chậm được nâng cao và sức khỏe giảm sút nhanh
chóng.
10
2.1.2 Trình độ lao động nữ
Theo kết quả điều tra dân số giữa kỳ 01/10/2004 của Sở Lao động – Thương binh
& Xã hội TPHCM, tỷ lệ lao động nữ chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật như sau:
Bảng 2.2 Tỷ lệ lao động nữ chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật
Tổng số lao động trong độ tuổi lao động 100%
Trong số lao động nữ 52,11%
Chia theo trình độ chuyên môn:
Không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, bằng cấp, chứng chỉ
Công nhân kỹ thuật, có bằng cấp chứng chỉ
Trung học chuyên nghiệp
Cao đẳng
Đại học
Trên đại học
45,42%
1,71%
0,62%
0,85%
3,38%
0,13%
cho đội quân thất nghiệp ngày càng thêm đông đúc ở thành phố.
2.2 Hội Liên hiệp Phụ nữ TPHCM với các chương trình trợ vốn, góp phần xóa
đói giảm nghèo cho phụ nữ thành phố
2.2.1 Các chương trình trợ vốn
Hội Liên hiệp Phụ nữ TPHCM đã chủ động, tích cực thực hiện các cuộc vận
động: từ cuộc vận động “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình” đến “Phụ nữ giúp
nhau phát triển kinh tế gia đình, cần kiệm xây dựng đất nước”, vận động “Phụ nữ tích
cực nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật” ; từ phong trào “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ
nghèo” đến chương trình “Hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm, tăng thu nhập”, “Hỗ trợ phụ nữ
phát triển kinh tế gia đình” và chương trình xóa đói giảm nghèo của thành phố. Đặc biệt
chương trình trợ vốn, tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống phụ nữ đã được
các cấp Hội tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện ngày càng đi vào chiều sâu và đạt hiệu
quả thiết thực.
Chương trình “Tín dụng - tiết kiệm” của phụ nữ TPHCM đã có tác động rõ nét
nhất trong việc giúp chị em nâng cao đời sống. Mô hình “nhóm phụ nữ tín dụng - tiết
kiệm” đã được khẳng định là tối ưu nhất, tập hợp được rộng rãi những người phụ nữ
cùng chung một trận tuyến chống đói nghèo. Việc phát động “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ
nghèo” và thực hiện các dự án cho vay theo “nhóm phụ nữ tín dụng tiết kiệm” của Hội
Liên hiệp Phụ nữ thành phố đã được sự huởng ứng đông đảo của các thành phần xã
hội, đã khơi dậy được lòng nhân ái, truyền thống tốt đẹp của phụ nữ nói riêng và nhân
dân TPHCM nói chung, góp phần cùng thành phố thực hiện chủ trương xóa đói giảm
nghèo. Hoạt động hiệu quả này của Hội Phụ nữ được đánh giá là đã góp phần thực hiện
chương trình xóa đói giảm nghèo của TPHCM từ 30%-40% .
2.2.2 Các hoạt động hỗ trợ của Hội Liên hiệp Phụ nữ nhằm xóa đói giảm nghèo,
cải thiện đời sống phụ nữ-trẻ em
Bên cạnh hoạt động trợ vốn, giải quyết việc làm, để xóa đói giảm nghèo có hiệu
quả, một trong những kinh nghiệm từ cách làm của Hội Phụ nữ là phải giải quyết các
nguyên nhân khác như: y tế, giáo dục, văn hóa, môi trường, huy động được nhiều
nguồn lực và phối hợp tốt các ngành, các cấp lãnh đạo. Chương trình học bổng Nguyễn
Thị Minh Khai được duy trì liên tục kể từ năm 1990 trở thành người bạn đồng hành
khiêm tốn, đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất cho các nghề mới còn yếu và thiếu, khả
năng tổ chức, kinh nghiệm tư vấn, thông tin về thị trường còn hạn chế. Học viên của các
trung tâm dạy nghề của Hội Phụ nữ đa số là phụ nữ nghèo sinh sống tại các quận,
huyện xa và ngoại thành. Những phụ nữ này thường gặp nhiều khó khăn hơn khi tiếp
cận dịch vụ dạy nghề như : thông tin về nghề hạn chế, chi phí cao, địa điểm học xa,
chịu áp lực nặng nề của vai trò giới truyền thống, đặc biệt là gánh nặng trách nhiệm gia
đình.
2.3.2 Hoạt động đào tạo nghề và giải quyết việc làm của Hội Liên hiệp Phụ nữ
TPHCM
Với quan điểm ‘‘đói nghèo là giặc, người nghèo là nạn nhân trực tiếp, phụ nữ
nghèo là đối tượng cần được trợ giúp của xã hội, đặc biệt là của Hội Phụ nữ’’, càng
ngày, hoạt động dạy nghề trong hệ thống của Hội Liên hiệp Phụ nữ TPHCM không
ngừng được đổi mới và từng bước nâng cao về chất lượng. Các loại nghề được dạy đa
dạng hơn, phù hợp với yêu cầu thực tiễn, hình thức đào tạo cũng ngày càng linh hoạt,
phù hợp với phụ nữ hơn. Với chức năng chăm lo quyền lợi của phụ nữ, các trung tâm
dạy nghề của Hội Phụ nữ đã tổ chức dạy nghề miễn phí cho các đối tượng chính sách,
phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em tàn tật …. . Hoạt động Nhà Văn Hoá Phụ nữ
thành phố, các câu lạc bộ Phụ nữ quận, huyện và các điểm dạy nghề của Phụ nữ
phường, xã ngày càng nâng cấp bằng chính nguồn tài chính thu được (tự túc về kinh
13
phí, không được ngân sách cấp), góp phần tích cực vào việc hướng nghiệp, dạy nghề,
tạo việc làm của ngành Lao động, Thương binh & Xã hội TPHCM.
Bảng 2.11 Kết quả hoạt động của các Trung tâm, cơ sở dạy nghề của Hội Liên
hiệp Phụ nữ TPHCM (1996-2000)
TT Danh mục Số lượng
1 Số lớp dạy nghề/ Số lớp dạy miễn phí 1.539/479
2 Số lượt học viên học nghề/ Số lượt học viên được học miễn phí 48.463/11.792
3 Số lượt học viên có việc làm sau khi học nghề 10.030
4 Số người được giới thiệu việc làm 4.500
5 Số người được tư vấn nghề 5.183
nhức nhối, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống xã hội. Theo một báo cáo của Ủy ban
14
Nhân dân TPHCM vào năm 2006, kết quả khảo sát gái mại dâm trong 5 năm (2001-
2005) như sau:
Bảng 2.12 Kết quả khảo sát gái mại dâm trong 5 năm (2001-2005)
Độ tuổi Nghề nghiệp trước khi làm
mại dâm
Trình độ học vấn Số lần tái phạm
14 - <16 1,84% Làm thuê 17,67% Mù chữ 18,30% lần đầu 78,27%
16 - <18 14,78% Làm ruộng, rẫy 14,45% Cấp I 42,35% 2 lần 14,40%
18 - 25 53,82% Buôn bán 27,92% Cấp II 32,50% 3 lần 4,75%
26 - 35 23,82% Nội trợ 25,49% Cấp III 6,85% 4 lần 2,57%
36 – 45 5,74% Công nhân 4,05% trên Cấp III 0,09% 5 lần trở lên 0,44%
Tiểu thủ công nghiệp
8,19%
Thất nghiệp 2,23%
Nguồn: Báo cáo số 16/BC-UBND ngày 01/3/2006 về tổng kết 5 năm thực hiện chương
trình hành động phòng, chống tệ nạn mại dâm của UBND TPHCM
Hầu hết gái mại dâm đều xuất phát từ gia đình nông dân hoặc lao động nghèo
thành thị. Trình độ văn hóa và sự hiểu biết thấp dẫn đến hạn chế trong nhận thức các
vấn đề xã hội nói chung và nhận thức lệch lạc về các chuẩn mực đạo đức xã hội nói
riêng. Ngoài ra, đáng báo động là mại dâm nghiện ma tuý, nhiễm HIV và các bệnh xã
hội có xu hướng gia tăng.
Qua phân tích trên 200 hồ sơ người mua dâm, độ tuổi từ 19 – 35 chiếm 80%.
Đặc biệt, trên 60% đối tượng mua dâm là cán bộ nhà nước. Theo một thống kê của Cục
Phòng chống tệ nạn xã hội vào năm 2000 thì tiền mua dâm gồm: 42,4% là tiền nhà
nước, công quỹ , 42,2% là tiền thu nhập bất chính. Có 7 loại khách thường xuyên tìm
đến gái mại dâm mà đứng đầu danh sách là cán bộ - công nhân viên, sau đó đến bộ đội,
lái xe, sinh viên, nông dân, rồi mới đến thương gia và người nước ngoài.
“Dịch vụ kinh doanh” gái mại dâm từ xưa đến nay vẫn thường phải thông qua một
đường tình dục, đặc biệt là HIV/AIDS, đồng thời động viên chị em nên từ bỏ lối sống
sai lầm, sớm hoàn lương và hòa nhập với cộng đồng.
• Các hoạt động chăm lo hỗ trợ
Song song với việc tuyên truyền, các cấp Hội Phụ nữ tư vấn và dạy nghề miễn
phí, trợ vốn làm ăn, giới thiệu việc làm, trợ cấp học bổng cho con em các chị kết hợp
với đưa các cháu ra lớp tình thương, thăm viếng khi đau ốm, liên hệ địa phương xin
giấy khai sinh cho con em các chị, giới thiệu để các chị được cấp sổ khám chữa bệnh
miễn phí, …Hội đã giúp các chị từng bước xóa đi khoảng cách và sự mặc cảm do trước
đây có họat động mại dâm, đồng thời tạo được niềm tin nơi chị em đối với tổ chức Hội
Liên hiệp Phụ nữ.
Tiểu kết
Với những đặc thù về giới, phụ nữ TPHCM thông qua tổ chức Hội Phụ nữ đã
hưởng ứng rất mạnh mẽ các hoạt động xóa đói giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội
của thành phố. Nhiều hoạt động của phụ nữ đã trở thành phong trào rộng khắp, được
đánh dấu thông qua việc thực hiện các mô hình, chương trình và các cuộc vận động lớn
như: “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình”, “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia
đình”, “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo”, “Nhóm phụ nữ tín dụng – tiết kiệm”, “Nhóm
phụ nữ giáo dục đồng đẳng”, “Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu
nhập”, “Chương trình ba giảm”, … Qua thực tiễn hoạt động cho thấy, khai thác và cung
cấp vốn được coi là mũi nhọn của chương trình xóa đói giảm nghèo của các cấp Hội
Phụ nữ. Hoạt động cung cấp vốn cho phụ nữ được thực hiện với một nét riêng, mang
tính cộng đồng cao và linh hoạt, mềm dẻo, rất phù hợp với chị em phụ nữ nghèo mà
vẫn đảm bảo quản lý chặt chẽ. Tín dụng được coi là phương tiện, công cụ hỗ trợ,
khuyến khích phụ nữ tham gia các hoạt động phát triển khác. Đi đôi với việc cung cấp
16
vốn vay, việc bồi dưỡng kiến thức cho phụ nữ cũng được các cấp Hội Phụ nữ coi trọng.
Chương trình xóa đói giảm nghèo của Hội Phụ nữ được tiến hành theo phương châm
lồng ghép các chương trình nhằm một mặt tăng cường hiệu quả của mỗi chương trình,
mặt khác để tiết kiệm nguồn lực. Các chương trình này đã mang lại hiệu quả thiết thực,
đáp ứng yêu cầu chăm lo cho phụ nữ, tạo việc làm, giúp chị em có điều kiện tổ chức tốt
còn có giá trị nhân văn sâu sắc. Tác động của phong trào đã phát huy truyền thống văn
hóa tốt đẹp của dân tộc đó là tình đoàn kết, tương thân tương trợ, lòng nhân ái biết yêu
thương, đùm bọc lẫn nhau trong cộng đồng. Bên cạnh đó, từ những đồng vốn được Hội
giúp đỡ, một số chị em lầm lỡ đã có điều kiện hoàn lương. Từ thực tiễn của phong trào
đã tạo ra ngày càng nhiều nhân tố tích cực cho xã hội. Nhiều chị là thành viên nhóm
17
phụ nữ tín dụng tiết kiệm sau khi được Hội Phụ nữ trợ vốn, đã được coi trọng hơn, có
vị trí bình đẳng hơn trong gia đình.
Về tổ chức : Qua việc thực hiện chương trình hỗ trợ vốn cho phụ nữ nghèo, tổ chức
Hội Phụ nữ được củng cố và phát triển. Hội Phụ nữ cơ sở đã kết nạp được một số
lượng khá đông hội viên, chất lượng của Hội viên được nâng lên, nội dung và phương
thức hoạt động của Hội thêm đa dạng, sinh động và phong phú, quy tụ được nhiều phụ
nữ, nâng cao uy tín của tổ chức Hội Phụ nữ đối với các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa
phương và các ban - ngành - đoàn thể. Ngoài ra, Hội đã xây dựng và phát triển mối
quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng bền vững với các tổ chức phi chính phủ (NGO) về
lĩnh vực tín dụng cho phụ nữ nghèo. Từ việc tổ chức thực hiện các dự án, mô hình, các
cấp cán bộ Hội phụ nữ dần dần tích luỹ được kinh nghiệm quản lý nguồn vốn tiết kiệm từ
thấp đến cao, khác hẳn với trước kia cán bộ Hội chỉ làm công tác vận động quần chúng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động hỗ trợ vốn của Hội Phụ nữ còn có
những mặt hạn chế tồn tại như : nguồn vốn mỗi năm có tăng nhưng chưa đáp ứng
được nhu cầu vay vốn của phụ nữ, bên cạnh đó có những chị em trình độ thấp chưa đủ
tay nghề, khả năng để tổ chức sản xuất kinh doanh và chưa biết phát huy được nguồn
vốn hỗ trợ, một số hộ nghèo có sức lao động nhưng chưa biết làm ăn, có tư tưởng ỷ lại,
trông chờ sự giúp đỡ của Nhà nước, của Hội Phụ nữ và cộng đồng, thiếu ý chí vươn lên
hoặc an phận.
3.1.2 Hiệu quả của chương trình đào tạo nghề, thực hiện các chính sách và biện
pháp giải quyết việc làm cho lao động nữ
Chủ trương, chính sách đa dạng hóa việc làm đã tạo cho phụ nữ thành phố thêm
nhiều cơ hội có việc làm. Đa số lao động nữ tập trung các việc làm tay nghề thấp hoặc
lao động giản đơn chưa qua đào tạo. Ngoài việc làm có tính chất truyền thống trong lĩnh
cán bộ làm công tác phòng chống tệ nạn mại dâm còn hạn chế và nhiều bất cập, chưa
đáp ứng yêu cầu, vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chất lượng và kinh nghiệm. Một số
mô hình phòng chống mại dâm mà Hội Phụ nữ đang thực hiện cũng gặp không ít khó
khăn do thiếu kinh phí, chủ yếu dựa vào sự nhiệt tình của chị em cán bộ Hội là chính,
chưa có giải pháp hữu hiệu giúp gái mại dâm giải quyết khó khăn khi họ đã hoàn lương.
Không ít chị em đã quen với lối sống hưởng thụ, xa rời lao động nên việc thuyết phục
họ chuyển đổi nhận thức, hành vi và lối sống vô cùng khó khăn. Học vấn của chị em
còn quá thấp, nên việc tiếp thu nâng cao kiến thức hoặc học một nghề để có thu nhập ổn
định không phải dễ dàng.
Tóm lại, tệ nạn mại dâm phát triển chủ yếu và trước hết, đó là do sự chủ quan trong
công tác phòng ngừa. Ở nhiều địa phương, công tác bài trừ tệ nạn được “khoán trắng”
cho cảnh sát khu vực mà chưa có sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân. Mại dâm và
tội phạm là hai loại hiện tượng thường gắn liền với nhau, tệ nạn mại dâm tăng thì
thường tăng thêm các băng, nhóm tội phạm để tổ chức, che chở cho mại dâm làm cho
tình hình tội phạm cũng gia tăng, ảnh hưởng lớn đến trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, ngăn
ngừa tệ nạn mại dâm cũng là góp phần ngăn ngừa tội phạm.
3.2 Những giải pháp cho thời gian tới
3.2.1 Duy trì, phát triển các mô hình hỗ trợ vốn cho phụ nữ nghèo
- Duy trì, củng cố, phát triển và nâng cao chất lượng, nội dung sinh hoạt nhóm phụ
nữ tín dụng - tiết kiệm, kịp thời quan tâm giải quyết những khó khăn, vướng mắc cho
từng thành viên vay vốn. Tất cả thành viên vay vốn đều phải được tiếp tục tập hợp
thành nhóm và sinh hoạt các nội dung lồng ghép.
- Cung cấp tín dụng cho phụ nữ nông thôn đặc biệt là phụ nữ nghèo phát triển sản
xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần nâng cao trình độ dân trí và nâng cao địa vị
của người phụ nữ.
19
- Nghèo khó do nhiều nguyên nhân, vì thế bên cạnh việc giải quyết việc làm, trợ
cấp vốn cần phải giải quyết đồng bộ và toàn diện nhiều vấn đề: y tế, giáo dục, văn hóa,
ngăn ngừa - phòng chống tệ nạn xã hội, …
20
được cư trú và làm việc trong điều kiện an toàn, góp phần nâng cao sức khỏe và an
sinh xã hội, thúc đẩy tác động tích cực của họ đối với sự phát triển của thành phố.
3.2.3 Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu “ba giảm”, tăng cường phòng
chống tệ nạn mại dâm
Bài trừ tệ nạn mãi dâm là ý muốn tốt đẹp nhưng là chuyện không dễ – bởi mại
dâm không chỉ là tệ nạn xã hội (nếu xét từ quan điểm đạo đức) mà ít nhiều còn là một
hiện tượng xã hội (nếu xét từ góc độ sinh học). Phải nhìn nhận một cách khách quan
rằng, hoạt động mại dâm sở dĩ tồn tại được ở mọi nơi, mọi lúc, mọi chế độ xã hội là vì
luôn luôn tồn tại một nhu cầu có thực, đơn giản chỉ là giải quyết những đòi hỏi sinh lý
bình thường của ít nhất là một bộ phận nam giới. Do đó, dù bằng bất cứ biện pháp nào
21
cũng không thể hoàn toàn triệt tiêu được tệ nạn này. Để khắc phục sự phát triển tràn lan
và hạn chế tệ nạn mại dâm ở TPHCM, xin đưa ra một số biện pháp sau đây:
• Thống nhất quan điểm trong phòng chống tệ nạn mại dâm, coi tệ nạn mại
dâm không chỉ liên quan đến trật tự an tòan xã hội mà còn liên quan đến cả an
ninh quốc gia và phòng chống mại dâm là cuộc đấu tranh phức tạp, lâu dài và
liên tục.
• Thống nhất ý chí và hành động phòng chống mại dâm là trách nhiệm của cả
hệ thống chính trị.
• Phòng chống mại dâm phải kết hợp với cuộc đấu tranh phòng chống các
bệnh xã hội, nhất là các bệnh lây truyền qua đường tình dục và dịch nhiễm
HIV/AIDS.
• Củng cố, tăng cường hệ thống chuẩn mực giá trị, tạo cơ sở xã hội vững chắc bài
trừ tệ nạn mại dâm: chuẩn mực về đạo đức, chuẩn mực về giá giá trị lao động,
chuẩn mực của nền văn hóa dân tộc, chống văn hóa ngoại lai, đồi trụy, chuẩn mực
về pháp luật – trong đó dùng luật pháp để nghiêm trị tội tổ chức, môi giới mãi
dâm, chứ không dùng biện pháp đạo đức, giáo dục chung chung và phải xử lý
nghiêm khắc, công bằng – người bán dâm và người mua dâm đều phải chịu
trách nhiệm như nhau.
• Tăng cường công tác truyền thông, thông tin giáo dục làm chuyển biến nhận
chương trình giải quyết việc làm của thành phố. Các chương trình trợ vốn, giải quyết
việc làm cho phụ nữ nghèo có tính chất kế thừa và chuyển tiếp từ các nội dung hoạt
động của Hội Liên hiệp Phụ nữ TPHCM từ trước. Đến khi đổi mới, được hỗ trợ bởi
chính sách khuyến khích kinh tế nhiều thành phần và sự hỗ trợ của một số chương trình
y tế, xã hội quốc gia có sự tài trợ của quốc tế, nên đã được nâng lên và mở ra nhiều hình
thức hoạt động phong phú mang lại kết quả thiết thực cho phụ nữ thành phố. Những
kết quả trên không chỉ là cơ sở để thiết lập các chính sách cho phụ nữ mà còn trở thành
những bài học kinh nhiệm quý báu cho chính phong trào phụ nữ.
2. Mô hình tín dụng – tiết kiệm của Hội Phụ nữ được xem là mô
hình hỗ trợ người nghèo thành công nhất, được đánh giá cao qua thực tiễn và ngày càng
được nhân rộng, không ngừng phát huy hiệu quả kinh tế xã hội cao và bền vững về tài
chính. Mô hình này được tổ chức hoạt động chặt chẽ, bố trí cán bộ theo sát từng dự án,
lấy hiệu quả của từng dự án làm mục tiêu phấn đấu nhằm nâng cao uy tín của Hội đối
với phụ nữ nghèo cũng như đối với các tổ chức tài trợ, đưa hàng chục ngàn hộ phụ nữ
thoát nghèo vươn lên cuộc sống ổn định. Phong trào “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo”
và chương trình “Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế” của các cấp Hội phụ nữ là một chủ
trương đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế của thành phố,
nhất là phù hợp với mục tiêu Quốc gia về xóa đói giảm nghèo, nâng cao uy tín của tổ
chức Hội Liên hiệp Phụ nữ trong xã hội. Thực tiễn của phong trào “Ngày tiết kiệm vì
phụ nữ nghèo” và mô hình tổ giảm nghèo đã giúp cho Hội có nhiều giải pháp và cách
làm tốt để giúp phụ nữ nghèo biết cách làm ăn, sử dụng vốn có hiệu quả, đó cũng là quá
trình phấn đấu kiên trì liên tục nhiều năm với ý chí vươn lên của chính bản thân phụ nữ
nghèo, gắn với sự trợ giúp thiết thực của Nhà nước và tác động hỗ trợ của Hội, của cộng
đồng. Từ thực tiễn của phong trào “ Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế gia đình” đã xuất
hiện những gương cán bộ tận tụy với sự nghiệp xóa đói giảm nghèo. Mô hình nhóm
phụ nữ tín dụng - tiết kiệm.
Trợ vốn là một mô hình, một bước tập dợt ban đầu được xem là một trong những
thành công của phụ nữ TPHCM góp phần xóa đói giảm nghèo. Từ bước tập dợt đó,
Hội Liên hiệp Phụ nữ TPHCM có thể tích lũy đầy đủ kinh nghiệm về chuyên môn và
quản lý để có thể hình thành một ‘‘Ngân hàng Vì sự tiến bộ của Phụ nữ’’ thay cho các
cấp trên địa bàn thành phố đã có nhiều nỗ lực, tham mưu tốt cho cấp ủy, chính quyền,
phối hợp cùng các đoàn thể trong hệ thống chính trị tại cơ sở thực hiện chương trình
mục tiêu “ba giảm”. Các cấp Hội Phụ nữ đã sáng tạo nhiều hình thức tuyên truyền vận
động thích hợp, phần nào đáp ứng yêu cầu chung và phù hợp với nguyện vọng của đại
đa số quần chúng nhân dân trước những bức xúc về tình hình phạm tội và tệ nạn xã hội
diễn ra trên địa bàn thành phố, từ đó người dân tham gia tích cực, nhất là hội viên phụ nữ.
Những kết quả đạt được trong thời gian qua tuy chưa cao, nhưng với sự cố gắng phối hợp
cùng một số chương trình lớn của thành phố đã tạo được những chuyển biến tích cực
trong việc giảm mại dâm, góp phần ổn định trật tự xã hội trên địa bàn thành phố.
5. TPHCM là nơi hội tụ nhiều sáng kiến trong quá trình đổi mới,
có những sáng kiến đã chứng minh được tính hiệu quả, mang lại lợi ích to lớn cho cộng
đồng, nhất là người nghèo, trở thành phong trào lan tỏa khắp cả nước như phong trào
xóa đói giảm nghèo, trong đó có sự tham gia tích cực của lực lượng phụ nữ thành phố.
Thực tế cũng cho thấy, có những mô hình của TPHCM không thể nhân rộng ra cả nước
mà chỉ có thể áp dụng tại TPHCM và phát huy hiệu quả nhất định trong một thời điểm
nhất định tại TPHCM, như chương trình ‘‘ba giảm’’. Mặc dù chương trình này có
những thành công như đã phân tích, nhưng rõ ràng là nhiều nơi không đủ nguồn lực
như TPHCM đã tiến hành trong thời gian vừa qua. Mặt khác, dưới góc độ nhìn nhận
hiệu quả tham gia phòng chống tệ nạn mại dâm trong thực hiện chương trình ‘‘ba giảm’’
25