ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KT&QTKD THÁI NGUYÊN
DƯƠNG NGHĨA ÂN
PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÁI NGUYÊN
TRỞ THÀNH NGÀNH KINH TẾ QUAN TRỌNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Từ
THÁI NGUYÊN, NĂM 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iLỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi. Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng,
đã công bố theo đúng quy định. Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi
tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực
tiễn của Việt Nam. Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ
nghiên cứu nào khác.
Tác giả
Dương nghĩa Ân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt v
Danh mục bảng biểu vi
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3. Những đóng góp của luận văn 3
4. Kết cấu của luận văn 3
Chương 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH 4
1.1. Khái niệm về du lịch và khách du lịch 5
1.2. Tài nguyên du lịch 7
1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 8
1.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn 10
1.3. Các loại hình du lịch 11
1.3.1. Phân loại theo mục đích chuyến đi 12
2.3.2. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh thực trạng ngành du lịch 27
2.3.3. Hệ thống chỉ tiêu dự báo sự phát triển du lịch Thái Nguyên 28
Chương 3. TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH, TIỀM NĂNG VÀ THỰC
TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÁI NGUYÊN 29
3.1. Tổng quan về du lịch 29
3.1.1. Vài nét về du lịch thế giới 29
3.1.2. Du lịch Việt Nam 30
3.2. Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch Thái Nguyên 36
3.2.1. Khái quát về Thái Nguyên 36
3.2.2. Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch Thái Nguyên 41
Chương 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH 78
THÁI NGUYÊN THÀNH NGÀNH KINH TẾ QUAN TRỌNG 78
4.1. Định hướng phát triển du lịch Thái Nguyên 78
4.1.1. Quan điểm phát triển 78
4.1.2. Phát huy lợi thế và thế mạnh của tỉnh 80
4.2. Giải pháp phát triển du lịch Thái Nguyên 82
4.2.1. Hoàn chỉnh và triền khai thực hiện Quy hoạch du lịch 82
- VHCDT : Văn hoá các dân tộc
- LHQ : Liên hợp quốc
- CSVN : Cộng sản Việt Nam
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Biểu đồ 3.1. Lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 2005-2010 . 31
Biểu đồ 3.2. 10 thị trường khách du lịch quốc tế hàng đầu năm 2010 31
Biểu đồ 3.3. Lượng khách Du lịch nội địa giai đoạn 2005-2010 32
Biểu đồ 3.4. Tổng thu từ khách du lịch giai đoạn 2005- 2010 33
Biểu đồ 3.5. Lượng khách du lịch đến Thái Nguyên giai đoạn 2005-2010 61
Biểu đồ 3.6. Doanh thu du lịch hàng năm giai đoạn 2005-2010 65
Biểu đồ 3.7. Cơ sở lưu trú giai đoạn 2005-2010 66
Biểu đồ 3.8. Số buồng phòng của khách sạn giai đoạn 2005-2010 67
Biểu đồ 3.9. Các đơn vị kinh doanh du lịch giai đoạn 2005-2010 71
Biểu đồ 3.10. Số lượng đơn vị kinh doanh lữ hành giai đoạn 2005-2010 71
Biểu đồ 3.11. Số lượng lao động du lịch trong tỉnh giai đoạn 2005-2010 73
xã hội trên địa bàn tỉnh đã được triển khai và áp dụng, nhưng Du lịch với vai
trò là ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có
tính liên ngành liên vùng và xã hội hóa cao, là ngành xuất khẩu tại chỗ, tạo
nhiều công ăn việc làm, thì chưa được nghiên cứu nhiều, và trên thực tế Du
lịch của tỉnh mới đang trong giai đoạn đầu phát triển.
Trong khi đó, trên phạm vi toàn cầu, Du lịch đã được coi là ngành kinh
tế chủ lực, là 1 trong 5 ngành có giá trị xuất khẩu lớn nhất trong các ngành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
kinh tế. Ở Việt Nam, du lịch mới phát triển trong những năm gần đây nhưng
đã đạt nhiều thành tựu, đóng góp ngày càng lớn vào thu nhập quốc dân, tạo ra
gần triệu việc làm, góp phần tích cực vào giao lưu văn hóa và hội nhập quốc tế.
Trong bối cảnh đó, lựa chọn cách tiếp cận từ du lịch, mảnh đất còn ít
được khai thác, lắm tiềm năng, và đã có thực tế chứng tỏ là có điều kiện phát
triển nhanh, đem lại hiệu quả nhiều mặt, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
xã hội trên địa bàn cả tỉnh, tác giả thấy đó là cách tiếp cận phù hợp, đáp ứng
được đòi hỏi cấp thiết của cuộc sống, hy vọng góp phần giải đáp được một số
vấn đề lý thuyết và thực tiễn đang đặt ra.
Từ những lý do trên, với sự hướng dẫn tận tình của một tiến sỹ Quản lý
kinh tế, có thâm niên quản lý ngành du lịch quốc gia, được sự chấp thuận và
giúp đỡ của Nhà trường, của Hội đồng, của các thày cô, tác giả đã chọn
“Phát triển du lịch Thái Nguyên trở thành ngành kinh tế quan trọng” làm
đề tài tốt nghiệp chương trình thạc sỹ chuyên ngành Quản trị kinh doanh tại
trường và hy vọng khi có điều kiện sẽ được nghiên cứu sâu hơn đề tài này để
góp phần nhỏ bé của mình vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu vị trí vai trò, tầm quan trọng của du lịch trong sự phát
triển kinh tế xã hội trong thế giới hiện đại, thế giới giao lưu hội nhập với chất
Tỉnh Đảng bộ, HĐND và UBND tỉnh đã đề ra, đưa Thái Nguyên trở thành
tỉnh giàu mạnh, là đầu tàu trong vùng trung du miền núi phía Bắc.
4. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu than khảo, luận văn
được kết cầu thành 4 chương:
Chương 1: Một số khái niệm – cơ sở lý luận về du lịch
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Tổng quan về du lịch và tiềm năng, thực trạng phát triển
du lịch Thái Nguyên
Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch Thái Nguyên
thành ngành kinh tế quan trọng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4Chương 1
MỘT SỐ KHÁI NIỆM – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH
Từ thời cổ đại du lịch đã bắt đầu xuất hiện với những đặc điểm nguyên
thủy. Hoạt động kinh doanh du lịch có những dấu hiệu đầu tiên kể từ sau cuộc
phân chia lao động xã hội lần thứ hai – thủ công nghiệp tách ra khỏi nông
nghiệp. Từ sau cuộc phân chia lao động xã hội lần thứ ba – thương nghiệp
xuất hiện, kinh doanh du lịch đã có sự phát triển, tập trung ở các trung tâm
kinh tế và văn hóa lớn trên thế giới và thể hiện trên ba hoạt động chính: lưu
trú, ăn uống và giao thông. Khi phương thức sản xuất phong kiến dần phát
triển dẫn đến sự phân hóa ra tầng lớp quý tộc phong kiến giàu có, nhiều đô thị
phong kiến được hình thành và phát triển, đời sống vật chất và văn hóa được
nâng cao, hình thành tầng lớp tiểu thủ công thành thị và thương gia cùng với tầng
lớp địa chủ, trở thành nguồn khách du lịch tiềm năng, Du lịch đã có bước chuyển
cơ sở để luận giải những nội dung đặt ra ở các chương sau.
1.1. Khái niệm về du lịch và khách du lịch
Theo tổ chức Du lich Thế giới, Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động
của những người du hành, tạm trú, với mục đích tham quan, khám phá và tìm
hiểu, trải nghiệm hoặc nghỉ ngơi, giải trí, …, trong thời gian liên tục nhưng
không quá một năm, ngoài nơi sống định cư, loại trừ mục đích chính là kiếm
tiền. Du lịch là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác
hẳn nơi định cư.
Tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Roma- Italia (21-8/ 5-9-1963), các
chuyên ra đã đưa ra định nghĩa Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện
tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú
của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ, với mục đích
hòa bình. Nơi họ đến và lưu trú tạm thời không phải là nơi làm việc của họ.
Theo I.I Pirôgionic, 1985 thì: Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư
trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài
nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và
tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc
tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và xã hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Tuyên bố Osaka của Hội nghị Bộ trưởng du lịch thế giới lần thứ nhất
năm 1995 tại Nhật bản, có cái nhìn phổ quát nhất “ Du lịch là con đẻ của hòa
bình, là phương tiện củng cố hòa bình, là phương tiện cân bằng cán cân thanh
toán quốc tế”.
Theo các nhà du lịch Trung Quốc, hoạt động du lịch là tổng hòa hàng loạt
quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ
sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện.
Các học giả biên soạn từ điển Bách Khoa toàn thư Việt Nam (1966) đã
Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2005, có hiệu lực từ tháng 1 năm
2006: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của
mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ dưỡng trong một
khoảng thời gian nhất định”. Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi
du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở
nơi đến, và hoạt động du lịch là một tổng hợp các hoạt động của khách du
lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan đến du lịch.
Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành
phần tham gia, trở thành một tổng thể phức hợp. Hoạt động du lịch vừa có
đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa xã hội. “Du
lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính
liên ngành liên vùng và xã hội hóa cao…”, như đã được khảng định thành văn
của Ban Bí thư TW Đảng CSVN từ những năm 80 của thế kỷ trước.
1.2. Tài nguyên du lịch
Theo Luật Du lịch : « Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu
tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con
người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu
cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch,
tuyến du lịch, đô thị du lịch ».
Như vậy tài nguyên du lịch là yếu tố, điều kiện quan trọng, quyết định
nhất, làm căn cứ để hoạch định chiến lược, kế hoạch phát triển du lịch của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa bàn, cần được điều tra, xác định,
phân loại để khai thác, bảo vệ để phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu, lợi ích
trước mắt mà không làm tổn hại đến tương lai. Tài nguyên du lịch được chia
làm 2 loại, tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.
du lịch biển, du lịch cắm trại , mùa xuân phát triển du lịch lễ hội, sự kiện
1.2.1.3. Nước
Tài nguyên nước bao gồm nước chảy trên mặt và nước ngầm. Đối với
du lịch thì nguồn nước mặt có ý nghĩa rất lớn. Nó bao gồm đại dương, biển,
hồ sông, suối, thác nước, suối phun, Karstơ
Nước không chỉ được sử dụng để phục vụ cho đời sống sinh hoạt hàng
ngày và cần thiết cho các tổ hợp du lịch ở vùng khô hạn và nửa khô hạn, cũng
như ở các vùng du lịch thuộc các đới khí hậu cận nhiệt đới và ôn đới mà còn
là tài nguyên không thể thiếu để tạo nên cảnh sắc thiên nhiên thu hút khách du
lịch, đồng thời còn ảnh hưởng đến nhiều thành phần khác của môi trường
sống. Thác nước là một tài nguyên du lịch lý tưởng hấp dẫn nhiều đối tượng
khách du lịch. Nguồn nước khoáng rất có ích cho du lịch an dưỡng và chữâ bệnh.
1.2.1.4. Động, thực vật
Ngày nay, khi xã hội loài người càng phát triển thì nhu cầu giải trí,
tham quan du lịch cũng thay đổi, đa dạng và phong phú hơn. Ngoài một số
hình thức truyền thống như tham quan phong cảnh, các di tích văn hóa – lịch
sử, đã xuất hiện một hình thức mới, với sức hấp dẫn rất lớn, là du lịch tới các
khu bảo tồn thiên nhiên, với việc tham quan thế giới động thực vật sống
động, con người có thể hòa mình vào thiên nhiên, thư giãn, thưởng ngoạn,
tạm xa lánh xã hội công nghiệp, ồn ào, xô bồ, để tăng thêm lòng yêu thiên
nhiên, nâng cao chất lượng cuộc sống. Vì vậy phát hiện, tổ chức bảo vệ các
khu bảo tồn tự nhiên là việc rất cần thiết, có ích cho cả môi trường sống và
cho sự phát triển một nền du lịch bền vững.
Các thành phần của tài nguyên du lịch tự nhiên: địa hình, khí hậu,
nguồn nước, động – thực vật luôn luôn tác động qua lại lẫn nhau, gắn bó mật
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
thiết với nhau và là những nhân tố không thể thiếu giúp hình thành nên các
khác nhau, hết sức đa dạng và phong phú, mang bản sắc riêng của quốc gia
mình. Trên thế giới, dòng khách du lịch văn hóa hiện chiếm tới trên 80% và
ngày càng tăng. Dòng khách này có nhu cầu chính là tìm hiểu, khám phá
những nền văn hóa khác lạ của những dân tộc khác. Mà lễ hội là biểu hiện tập
trung của văn hóa, nên tài nguyên du lịch lễ hội là một trọng tâm được các
quốc gia phát triển du lịch quan tâm bảo tồn và tổ chức khai thác.
1.2.2.3. Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học
Đó là các tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống
sinh hoạt, về kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong qui hoạch cư trú và xây
dựng, trang phục dân tộc Mỗi một dân tộc có những điều kiện sinh sống,
những đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những
sắc thái riêng của mình và có địa bàn cư trú nhất định, chính điều đó lại tạo
nên sức hấp dẫn riêng đối với khách du lịch.
1.2.2.4 Các đối tượng văn hóa, thể thao và hoạt động nhận thức khác
Với mục đích tham quan, nghiên cứu và các mục đích khác ở nhiều lĩnh
vực, khách du lịch sẽ tìm thấy những giá trị văn hóa khác nhau ở những đất
nước khác nhau thông qua các đối tượng văn hóa, thể thao, các hoạt động
nhận thức khác như triển lãm, hội chợ
Tài nguyên nhân văn tuy không có khả năng tự phục hồi nhưng có thể
được phục chế lại bằng bàn tay con người. Song, không vì thế mà các hoạt
động du lịch phát triển rộng rãi không phá hủy giá trị tài nguyên nhân văn. Vì
vậy, bảo vệ nguồn tài nguyên nhân văn vẫn là một nhiệm vụ to lớn của nhân
loại và có giá trị lớn đến phát triển du lịch của các quốc gia, các địa phương
và các dân tộc.
1.3. Các loại hình du lịch
Hoạt động du lịch diễn ra rất phong phú và đa dạng nên tuỳ thuộc vào
cách phân chia mà có các loại hình du lịch khác nhau. Mỗi loại hình du lịch
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
nhanh và thu lợi nhuận cao, có khả năng thu hút nhiều khách đến và kéo dài
ngay lưu trú của du khách tại địa phương
+ Du lịch thể thao không chuyên
Là loại hình du lịch nhằm đáp ứng lòng ham mê thể thao của mọi
người. Khách du lịch tự mình chơi một môn thể thao nào đó, không phải tham
gia thi đấu chính thức mà chỉ đơn giản là để giải trí. Các hoạt động thể thao
được ưa thích như săn bắn, câu cá, chơi golf, bơi thuyền, lướt ván, Để tổ
chức loại hình du lịch này cần có các điều kiện tự nhiên thích hợp với các cơ
sở vật chất, thiết bị phù hợp với từng loại hình thể thao. Bên cạnh đó, nhân
viên phục vụ tại các điểm du lịch cũng cần được huấn luyện để có thể hướng
dẫn và giúp đỡ cho du khách chơi đúng quy cách.
+ Du lịch khám phá
Du lịch khám phá là loại hình du lịch nhằm mục đích nâng cao hiểu
biết, phát hiện những điều , những cảm nhận, mới lạ về thế giới xung quanh
của du khách. Tuỳ thuộc vào mức độ, tính chất của chuyến du lịch có thể chia
thành hai loại hình. Du lịch tìm hiểu đáp ứng mục đích chuyến đi của khách
là tìm hiểu về thiên nhiên, môi trường, phong tục tập quán, lịch sử và Du
lịch mạo hiểm đáp ứng mục đích để du khách có thể tự thể hiện mình, tự rèn
luyện, khám phá sức mạnh, ý chí, nghị lực của bản thân, đặc biệt là ở giới trẻ.
Điểm đến thường là những nơi chưa hoặc ít in dấu chân người như: những
con suối chảy xiết, những ngọn núi cao, những khu rừng rậm rạp, âm u,
những hang động bí hiểm Để tổ chức loại hình du lịch này cần có các trang
thiết bị chuyên dụng và đội ngũ phục vụ hết sức cơ động, có thể hỗ trợ đắc lực
trong mỗi tình huống.
+ Du lịch nghỉ dưỡng
Một trong những chức năng quan trọng của du lịch là khôi phục sức
chất, lịch sử, khảo cổ, môi trường, sinh học đều tổ chức cho sinh viên, học
sinh đi nghiên cứu, tìm hiểu thực tế. Điểm đến là những nơi có các đối tượng
phù hợp với nội dung học tập như vườn quốc gia, phòng thí nghiệm ngoài
trời Thông thường, với loại hình du lịch này thì hướng dẫn viên là các thầy
cô giáo phụ trách chuyên môn ngay trong các trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Du lịch học tập, nghiên cứu không đòi hỏi cao về các dịch vụ du lịch trong
trường nên có thể tổ chức ở nhiều nơi, thu hút một lượng khách lớn, thường xuyên
và thu hiệu quả không chỉ kinh tế mà còn là hiệu quả văn hóa xã hội.
+ Du lịch thể thao kết hợp
Là loại hình dành cho các đoàn vận động viên, huấn luyện viên thể
thao. Khác với du lịch thể thao thuần tuý, các chuyến đi của các vận động
viên chuyên nghiệp có mục đích chính là tập luyện hoặc tham dự vào các
cuộc thi tài, olimpic thể thao. Vì vậy, hoạt động thể thao của các vận động
viên, huấn luyện viên được coi như một nghề, một việc làm chứ không phải là
một hoạt động thư giãn, nghỉ ngơi. Ngoài thời gian tập luyện, thi đấu, họ cũng
tham gia tìm hiểu về tự nhiên và đời sống văn hoá xã hội ở những nơi mà họ
đến nên các chuyến đi của họ được xem là đã thực hiện một chuyến du lịch
thể thao kết hợp.
+ Du lịch công vụ, hội nghị
Khách du lịch thường là những người đi dự hội nghị, hội thảo, hội chợ,
kỷ niệm những ngày lễ lớn, những cuộc gặp gỡ tìm cơ hội kinh doanh Vì
vậy, mục đích chính trong các chuyến đi là thực hiện một nhiệm vụ công tác
hoặc nghề nghiệp nào đó.
Ở loại hình du lịch này, khách du lịch thường là những người đại diện
cho một giai cấp, một đảng phải, một tổ chức, một cơ quan nên có khả năng
chi trả rất lớn. Vì vậy, cần đảm bảo đầy đủ các phương tiện, các dịch vụ với
lao động, kinh doanh trong nước cũng ngày một động. Đây là loại hình du lịch
rất cần được tập trung đầu tư, khai thác, tổ chức tốt, thu hiệu quả nhiều mặt.
1.3.2.2. Du lịch quốc tế
Là loại hình du lịch cho khách du lịch quốc tế, kiều bào ở nước ngoài
vào du lịch Việt Nam và người Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại
Việt Nam đi du lịch nước ngoài. Du lịch quốc tế có hai loại:
+ Du lịch đón khách (Inbout): là loại hình du lịch quốc tế phục vụ, đón
tiếp khách nước ngoà đến, kiều bào ở nước ngoài về Việt Nam du lịch, thăm
thân. Du lịch outbout là loại hình du lịch được quan tâm nhiều nhất, thể hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
tập trung trình độ phát triển du lịch của 1 quốc gia, trừ những nước do điều
kiện kinh tế phát triển cao, có những mối quan tâm khác, lớn hơn, hoặc khuyến
khích công dân trong nước đi du lịch nước ngoài nhiều hơn, để chi tiêu rẻ hơn,
như ở Nhật Bản.
Để thu hút được nhiều khách du lịch quốc tế đến du lịch, có nhiều việc
phải làm, từ phát triển sản phẩm, xây dựng thương hiệu, xúc tiến quảng bá,
nâng cao năng lực, trình độ tổ chức, kinh doanh, chất lượng dịch vụ của các
nhà làm tour, có các công ty lữ hành quốc tế chuyên nghiệp, có chính sách,
chế độ quản lý phù hợp, cởi mở, thân thiện và an toàn của các cấp quản lý từ
địa phương đến trung ương và có môi trường hòa bình, thân thiện, trong lành
và mến khách, với sự tham gia tích cực của cộng đồng. Phát triển mạnh loại
hình du lịch này, địa phương,đất nước có nguồn thu nhập ngoại tệ lớn từ
khách du lịch, như nguồn xuất khẩu tại chỗ, thông qua việc cung cấp dịch vụ
đưa đón, ăn nghỉ, vui chơi giải trí và mua sắm của du khách.
+ Du lịch gửi khách (Outbout): là loại hình du lịch quốc tế phục vụ và
tổ chức đưa khách từ trong nước đi du lịch, nghỉ ngơi, tham quan các đối
tượng du lịch ở nước ngoài, nghĩa là nước này gửi khách đi du lịch sang nước