đánh giá tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai tại huyện vĩnh linh, tỉnh quảng trị - Pdf 24

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Tất cả các số liệu trong vùng nghiên cứu của luận văn là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác.
Tôi xin cảm ơn mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này và tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều
đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn Bá Vũ
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi xin
chân thành cảm ơn Quý Thầy - Cô giáo trường Đại học Nông lâm Huế và Khoa Tài
nguyên Đất và Môi trường Nông nghiệp, Phòng Đào tạo sau đại học, đã tận tình truyền
đạt cho tôi những kiến thức quí báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt
thời gian học tập tại trường và viết luận văn tốt nghiệp.
Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn Thầy giáo,TS. Hồ Kiệt, người hướng dẫn khoa
học tận tình, chu đáo đã giúp đỡ tôi rất nhiều để tôi có thể hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các cán bộ các phòng ban thuộc Uỷ ban nhân
dân huyện, Thanh tra huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Uỷ ban nhân dân các
xã, thị trấn trên địa bàn huyện Vĩnh Linh; Cán bộ và nhân dân trong vùng nghiên cứu
đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu.
Tôi xin cảm ơn cơ quan, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã động viên giúp đỡ
tôi cả về vật chất lẫn tinh thần để tôi hoàn thành đề tài này.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế, ngày tháng năm 2014
Nguyễn Bá Vũ
ii
MỤC LỤC
iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp của công dân trong lĩnh vực đất đai diễn
ra gay gắt, phức tạp ở hầu hết các địa phương trong cả nước, nhiều nơi đã trở thành
điểm nóng. Số lượng đơn vượt cấp gửi đến các cơ quan ở Trung ương nhiều, nội dung
thể hiện tính bức xúc gay gắt, không chấp nhận với cách giải quyết của chính quyền
địa phương. Thời gian gần đây, có rất nhiều vụ việc khiếu nại liên quan đến đất đai.
Nhiều trường hợp khiếu nại có liên quan đến việc Nhà nước thu hồi đất để thực hiện
các dự án phát triển kinh tế - xã hội, như đòi được bồi thường đất ở, nâng giá bồi
thường, tăng tiền hỗ trợ, bố trí tái định cư, giải quyết việc làm; đòi lại đất cũ, tranh
chấp đất đai, nhà ở. Ngoài ra, có một số khiếu nại liên quan đến việc thực hiện chính
sách xã hội, kỷ luật của cán bộ, công chức Về nội dung tố cáo, chủ yếu là tố cáo cán
bộ, công chức làm sai chính sách, tiêu cực, tham nhũng trong quản lý đất đai, tài
chính, đầu tư, xây dựng cơ bản, thực hiện chính sách xã hội, cổ phần hóa doanh
nghiệp; thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, bao che người bị tố cáo,
không xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật.
Xuất phát từ thực trạng nói trên, bản thân tôi tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu
một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về đất đai, thẩm quyền giải quyết của
cơ quan có thẩm quyền thông qua việc giải quyết các vụ việc ở địa phương, để từ đó
có cái nhìn thực tế hơn, đề xuất phương án giải quyết hợp lý đối với công tác khiếu
nại, tố cáo, tranh chấp đất đai với tên đề tài cần nghiên cứu là: “Đánh giá tình hình
khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị”.
Huyện Vĩnh Linh nằm ở phía Bắc tỉnh Quảng Trị, phía Bắc giáp huyện Lệ
Thủy- huyện Vĩnh Linh, phía Nam giáp huyện Gio Linh, phía Tây giáp huyện Hướng
Hóa, phía Đông giáp biển Đông. Vĩnh Linh nằm trên các trục giao thông quan trọng
của quốc gia, bao gồm cả đường bộ, đường sắt và đường biển. Những đặc điểm về vị
trí địa lý là lợi thế rất lớn để có thể mở rộng hợp tác kinh tế, giao thương hàng hóa,
phát triển thương mại và du lịch.
1
Tổng diện tích đất tự nhiên 61.716,55 ha, là huyện có diện tích đất tự nhiên
đứng thứ ba toàn tỉnh. điều kiện đất đai thuận lợi cho việc phát triển sản xuất lúa, cây
hàng năm khác, cây công nghiệp lâu năm và nuôi trồng thủy sản.

- Thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai huyện
Vĩnh Linh từ khi có Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành cho đến nay.
2
- Tìm ra những nguyên nhân chính gây nên tình trạng khiếu nại, tố cáo, tranh
chấp đất đai từ đó đề xuất một số giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện.
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đóng góp về mặt lý luận của vấn đề tranh chấp, khiếu kiện đất đai kéo dài, tìm
kiếm, xác lập cơ chế thích hợp để giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện về đất đai;
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Phân tích tình hình khiếu kiện, tranh chấp đất đai và thực trạng công tác giải
quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai trên địa bàn, vận dụng những quy định của
pháp luật, đánh giá những tồn tại, vướng mắc, rút ra những bài học kinh nghiệm trong
công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai để từ đó đề xuất các giải pháp
cho chính quyền địa phương trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất
đai, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa
bàn huyện Vĩnh Linh.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị tham khảo cho công tác giải quyết các
tranh chấp và khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan hành chính
nhà nước và đồng thời có giá trị tham khảo cho các công trình nghiên cứu liên quan
đến vấn đề này.
4. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn trong cơ chế giải quyết khiếu nại, tố
cáo, tranh chấp đất đai ở huyện Vĩnh Linh.
- Đánh giá thực trạng và những tồn tại, vướng mắc trong việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo, tranh chấp đất đai trên một địa bàn cụ thể từ đó đề ra các biện pháp giải
quyết phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại trong lĩnh đất đai nói
chung, ở huyện Vĩnh Linh nói riêng, tham gia đóng góp ý kiến dự thảo luật đất đai sửa
đổi đang được Quốc hội thảo luận và lấy ý kiến của nhân dân.

đai. Luật đất đai năm 1993 khẳng định: “Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng
quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần hàng đầu của môi trường sống, là
địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa xã hội, an
ninh, quốc phòng” [ 27 ].
Nếu không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người
không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi
4
giống đến ngày nay. Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, con người chiếm hữu đất
đai, biến đất đai từ một sản vật tự nhiên thành một tài sản của cộng đồng, của một
quốc gia.
- Trên phương diện kinh tế, ý nghĩa cực kỳ quan trọng của đất đai đã được Các
Mác khái quát: “ Đất đai là mẹ, sức lao động là cha, sản sinh ra mọi của cải vật
chất”. Điều này có nghĩa không thể có của cải nếu không có lao động và đất đai.
Đối với cá nhân, từ đất con người có thể tạo ra lương thực, thực phẩm phục vụ
nhu cầu ăn; tạo ra không gian sống phục vụ nhu cầu ở; tạo ra hạ tầng phục vụ nhu cầu
đi lại, sinh hoạt, giải trí…. Là những nhu cầu thiết yếu cho sự tồn tại của mình. Từ
những lợi ích có thể đem lại cho con người, đất đai được xem như một tài sản có giá
trị lớn của mỗi cá nhân. Người ta có thể đem đất đai ra trao đổi, mua bán như là hàng
hóa để thu về nguồn vốn nhất định. Và do đó, việc bảo vệ quyền sở hữu, hưởng lợi từ
đất đai trở thành vấn đề quan trọng được quan tâm.
Đối với một quốc gia, khi ra đời và tồn tại, bao giờ cũng gắn liền với một vùng
lãnh thổ xác định. Theo đó, tài sản đầu tiên mà bất kỳ quốc gia nào cũng có được
chính là đất đai và các tài nguyên trong lòng đất, cũng như các tài sản gắn liền trên
đất. Dù xã hội có phát triển đến đâu, khoa học kỹ thuật có tiến bộ thế nào đi chăng
nữa, và dù con người có tạo ra được nhiều tài sản khác nhau để làm phong phú cho
cuộc sống của mình thì đất đai và những bất động sản trên nó vẫn là những tài sản cơ
bản nhất, là nền tảng cho sự hình thành các tài sản khác.
Có thể khẳng định, trên phương diện kinh tế, đất đai là một nguồn lực cho sự
thịnh vượng và phát triển bền vững.
- Trên phương diện chính trị- xã hội, trong mối quan hệ giữa các quốc gia, đất

theo ý thích riêng mình. Điều này đòi hỏi Nhà nước phải thống nhất quản lý đất đai và
xây dựng một hệ thống quản lý đất đai có hiệu quả nhằm đảm bảo sự phát triển bền
vững của nguồn tài nguyên quý giá này, cũng là nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền
vững của xã hội hiện tại lẫn tương lai.
1.1.2. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai
Luật khiếu nại năm 2011: “ Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc
cán bộ, công chức theo thủ tục Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành
chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc
quyết định kỷ luật của cán bộ công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành
vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” [ 42 ].
Trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất, việc giải quyết khiếu nại nhằm đảm
bảo cho mọi quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng đất và giữa những người sử
dụng đất với nhau được thực hiện theo đúng chính sách, pháp luật đất đai. Pháp
luật hiện hành chưa quy định cụ thể thế nào là khiếu nại hành chính về đất đai.
Tuy nhiên, từ các khái niệm chung về khiếu nại, có thể hiểu khái niệm khiếu nại
hành chính về đất đai là việc công dân, cơ quan, tổ chức đề nghị cơ quan, cá nhân có
thẩm quyền xem xét lại những quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính trong
quá trình quản lý đất đai khi có căn cứ cho rằng các quyết định, hành vi đó là xâm
phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Trong lĩnh vực quản lý đất đai, các quyết định hành chính hoặc hành vi hành
chính bị khiếu nại được quy định tại Điều 162 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày
6
29/10/2004 về thi hành Luật đất đai. QĐHC trong quản lý đất đai bị khiếu nại bao
gồm: (1) Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép
chuyển mục đích sử dụng đất; (2) Quyết định bồi thường, hỗ trợ, GPMB, tái định cư;
(3) Quyết định cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ; (4) Quyết định gia hạn thời
hạn sử dụng đất [ 7 ].
Hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại là hành vi của cán bộ
công chức nhà nước khi thực hiện công việc liên quan trực tiếp đến các quyết định

Theo Khoản 1, điều 2, Luật Tố cáo năm 2011: Tố cáo là việc công dân theo thủ
tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về
hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc
đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ
quan, tổ chức [ 35 ].
Tố cáo về đất đai là sự phát hiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những
hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất của cơ quan nhà nước, tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cá nhân thuộc các đơn vị đó hoặc
của những người khác, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước, lợi
ích tập thể và lợi ích của người sử dụng đất [ 35 ].
. Mục đích của tố cáo không chỉ dừng ở việc bảo vệ và khôi phục quyền và lợi
ích của người tố cáo mà cao hơn thế là bảo vệ lợi ích của Nhà nước, góp phần xây
dựng đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước vững về chính trị, giỏi về chuyên môn để
“chí công, vô tư” trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ Nhà nước.
Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc
xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo. Người tố cáo là công dân thực hiện quyền tố
cáo. Người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo. Người giải quyết
tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo [ 35 ].
Điều 139 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Cá nhân có quyền tố cáo vi phạm
pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai. Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về
quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo”
[ 29 ]. Đây là một quy định mang tính dẫn chiếu, theo đó thẩm quyền, trình tự thủ
tục giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai sẽ thực hiện theo các quy định của Luật
Khiếu nại, Luật Tố cáo.
Như vậy, có thể hiểu, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước
trong lĩnh vực đất đai là việc công dân báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đối
với việc chấp hành quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai.
Giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước là
việc kiểm tra, xác minh, kết luận về tính hợp pháp của hành vi bị tố cáo thuộc thẩm

các quan hệ đất đai cho phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của xã hội. Đồng thời,
giáo dục ý thức tuân thủ và tôn trọng pháp luật cho mọi công dân, ngăn ngừa những
VPPL có thể xảy ra.
Giải quyết tranh chấp đất đai, với ý nghĩa là một nội dung của chế độ quản lý
nhà nước đối với đất đai, được hiểu là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, nhằm tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật, nhằm giải quyết các
bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên, khôi phục lại quyền lợi cho bên bị xâm hại. Đồng thời
xử lý đối với các hành vi VPPL đất đai.
9
Theo Trần Quang Huy (2005): việc giải quyết tranh chấp đất đai là tìm ra giải
pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn trong
nội bộ nhân dân. Trên cơ sở đó phục hồi các quyền lợi hợp pháp cho bên bị xâm
phạm đồng thời bắt buộc bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả pháp lý do hành
vi của họ gây ra [20].
Như vậy, giải quyết tranh chấp đất đai là việc vận dụng đúng đắn các quy định
của pháp luật để bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
1.1.5. Các quan hệ về đất đai ở nước ta hiện nay
1.1.5.1. Quyền sở hữu đất đai trong pháp luật Việt Nam
Điều 17 Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy
định: “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý ” [26].
Luật Đất đai 2003 cũng quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
đại diện chủ sở hữu. Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai” [44ka]. Điều này đã khẳng
định được tính chất quan trọng của đất đai. Đồng thời, đây là cơ sở pháp lý để Nhà nước
thống nhất quản lý đất đai nhằm đưa chính sách quản lý và sử dụng đất đúng đối tượng,
đúng mục đích và có hiệu quả, bởi vì đây là quyền duy nhất và tuyệt đối. Nhà nước vừa
là chủ sở hữu, vừa là người nắm quyền lực chính trị nên bằng pháp luật qui định
những hình thức, những biện pháp để thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu.
- Khách thể của quyền sở hữu đất đai: Khách thể của quyền sở hữu Nhà nước
đối với đất đai là toàn bộ vốn đất đai nằm trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, bao gồm
đất liền, hải đảo và lãnh hải.

của nhà nước mà chỉ có một số nội dung có tính chất quyết định mới thể hiện quyền
này. Khoản 2, điều 5, Luật đất đai năm 2003 xác định rõ quyền định đoạt đó như sau:
Quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch sử
dụng đất, kế hoạch sử dụng đất. Quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng
đất. Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng
đất, định giá đất.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.2.1. Tình hình pháp luật về đất đai và hướng giải quyết của một số nước
trên thế giới.
Theo một số tài liệu nghiên cứu thì ở nhiều nước trên thế giới, mặc dù việc giải
quyết các khiếu kiện hành chính đã có từ lâu và hiện nay đã đi vào nề nếp, song ngoài
việc xác định thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án thì nhiều nước
vẫn duy trì và coi trọng việc giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính. Một số nước
còn coi việc giải quyết khiếu nại qua cấp hành chính là thủ tục bắt buộc trước khi
người khiếu nại khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án hành chính hoặc tòa án tư pháp.
Đa số các nước vẫn cho phép công dân có quyền lựa chọn khiếu nại đến cơ quan hành
chính - cơ quan đã ban hành QĐHC hoặc thực hiện HVHC để thực hiện việc khiếu
nại.
Điểm đáng lưu ý là hầu hết các nước đều xác định khiếu nại hành chính dù đã
được giải quyết bởi cơ quan hành chính hoặc cơ quan chuyên trách giải quyết khiếu
nại hành chính thì đương sự vẫn có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án. Xem
xét cách tổ chức thực hiện hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính một số nước trên
11
thế giới để có thể hiểu rõ hơn về vấn đề này.
1.2.1.1. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là nước thành lập hệ thống Tòa hành chính từ
những năm 1990. Luật tố tụng hành chính Trung Quốc có những điều khoản liên quan
đến khiếu nại hành chính. Khiếu nại hành chính không phải là một trình tự bắt buộc.
Người khiếu nại không buộc phải khiếu nại tới cơ quan hành chính trước khi khởi kiện
ra toà án. Tuy nhiên, nếu luật hoặc văn bản pháp quy có quy định thì nó trở thành điều

như các cơ quan hành chính [ 25 ].
1.2.1.5. Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là nhà nước liên bang, do vậy việc tổ chức thực hiện hoạt động giải
quyết khiếu nại hành chính cũng có những nét đặc thù so với các quốc gia khác. Theo
báo cáo kết quả nghiên cứu, khảo sát về giải quyết khiếu nại hành chính tại Hoa Kỳ
của Ủy ban pháp luật Quốc hội thì việc tổ chức các cơ quan giải quyết khiếu kiện hành
chính ở Hoa Kỳ chia làm ba loại:
Loại thứ nhất, là cơ quan giải quyết khiếu nại hành chính độc lập và chúng ta
vẫn thường gọi là cơ quan Tài phán hành chính. Hiện nay có 26 trên tổng số 53 bang
của Hoa Kỳ có cơ quan này.
Loại thứ hai, là cơ quan giải quyết khiếu nại hành chính được tổ chức trong
chính cơ quan hành chính, nhưng chuyên trách hóa- tức là những người trong cơ quan
này chỉ có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết khiếu nại đối với các QĐHC trong lĩnh
vực quản lý của cơ quan mình. Chẳng hạn như cơ quan giải quyết khiếu kiện về phát
minh sáng chế và đăng ký nhãn hiệu hàng hóa (patent & trademark) nằm trong Ủy ban
phát minh sáng chế và đăng ký nhãn hiệu hàng hóa. Trong trường hợp bị từ chối thì
đương sự có thể gửi đơn đến Tòa án tư pháp để giải quyết khiếu kiện.
Loại thứ ba, trong một số lĩnh vực quản lý không có cơ quan chuyên trách giải
quyết khiếu nại hành chính mà chỉ có một bộ phận chịu trách nhiệm tiếp nhận và giải
quyết các khiếu nại trong ngành và lĩnh vực đó - điển hình là Hải quan Hoa Kỳ. Trong
lĩnh vực hải quan, pháp luật Hoa Kỳ cho phép đương sự có thể kiện ra Tòa án hoặc
khiếu nại bằng con đường hành chính. Trên thực tế 90% vụ việc đương sự chọn con
đường khiếu nại hành chính vì vụ việc sẽ được giải quyết nhanh hơn, đồng thời đỡ tốn
kém hơn nếu khiếu kiện ra Tòa án. Ngoài ra, ở Hoa Kỳ còn có cơ quan độc lập chuyên
giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật công chức, có tên gọi là Merit systems
protection board.
Pháp luật Hoa Kỳ quy định trường hợp tranh chấp hành chính đã được cơ quan
hành chính hoặc cơ quan tài phán hành chính giải quyết mà đương sự vẫn tiếp tục
khiếu kiện tới Tòa án thì Tòa án không xem xét lại nội dung sự việc mà chỉ xem xét
việc áp dụng pháp luật của cơ quan hành chính hoặc cơ quan chuyên trách giải quyết

bạ thời Gia Long tại một số nơi ở Bắc và Trung bộ, và sổ địa bạ thời Minh Mạng tại
Nam bộ.
1.2.2.2. Thời Pháp thuộc
Trong gần 100 năm Pháp thuộc, người Pháp đã đưa kỹ thuật mới vào lĩnh vực
địa chính. Hệ thống pháp luật đất đai của Pháp đã thay thế luật Gia Long.
Trước hết là sự thay đổi các cơ quan quản lý đất đai. Hệ thống bản đồ địa chính
được đo vẽ lại và giấy chứng nhận (bằng khoán điền thổ) được sử dụng thay cho sổ
địa bạ ở khu vực đô thị. Tuy nhiên, để phục vụ cho chính sách cai trị, Pháp triển khai
nhiều chế độ đăng ký đất đai khác nhau cho từng miền.
14
1.2.2.3. Giai đoạn 1954-1975 ở miền Nam
Sau năm 1954, đất nước Việt Nam bị chia cắt. Miền Nam Việt Nam đặt dưới sự
cai trị của chính quyền Việt Nam Công hòa do Mỹ ủng hộ. Chính quyền Việt Nam
Cộng hòa có thực hiện một số cải cách đối với hoạt động quản lý đất đai, nhưng chủ
yếu kế thừa các chế độ điền thổ của thực dân Pháp. Năm 1962, chính quyền ban hành
Sắc lệnh 124-CTNT triển khai công tác kiến điền và quản thủ điền địa tại những địa
phương chưa thực hiện Sắc lệnh 1925. Theo đó, tại miền Nam, tồn tại song song hai
chế độ đăng ký đất đai: Chế độ quản thủ điền địa và tân chế độ điền thổ theo sắc lệnh
1925.
1.2.2.4. Hệ thống đăng ký đất đai từ 1945 tại miền Bắc và kể từ 1975 trên cả
nước cho đến nay
- Trước năm 1980
Sau Cách mạng tháng 8/1945, vấn đề được chính quyền cách mạng quan tâm
hàng đầu là vấn đề người cày có ruộng. Tuy còn non trẻ, chính quyền cách mạng vẫn
lần lượt ban hành nhiều chính sách và quy định để từng bước mang lại ruộng đất cho
người nông dân.
Phong trào cải cách ruộng đất được phát động năm 1953 và đặc biệt là Luật Cải
cách ruộng đấ được ban hành đã thủ tiêu chế độ sở hữu ruộng đất của thực dân –
phong kiến, trao trả quyền sở hữu ruộng đất cho người nông dân.
- Từ năm 1980 đến năm 1988

nghiệp, đất đo thị, đất khu dân cư nông thôn, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng).
Luật quy định quyền của UBND các cấp trong việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất
và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền của Chính phủ trong việc giao đất
theo hạng mức đất và loại đất.
- Luật đất đai 2003: Nội dung của Luật gồm 7 chương, 146 điều được Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực từ
ngày 01/7/2004. Luật này khắc phục tồn tại của Luật đất đai năm 1993 và các Luật sửa
đổi bổ sung năm 1998, 2001 đáp ứng yêu cầu quản lý sử dụng đất phù hợp với tiến
trình hội nhập quốc tế.
Luật đất đai 2003 khác cơ bản luật đất đai 1993 ở một số nội dung sau:
+ Phân định rõ 3 nhóm đất chính: nhóm đất nông nghiệp (bao gồm đất nông
nghiệp và đất lâm nghiệp quy định ở Luật đất đai 1993). Nhóm đất phi nông nghiệp
(bao gồm đất ở đô thị, đất ở nông thôn, đất chuyên dùng và một phần đất chưa sử dụng
ở Luật đất đai 1993). Luật quy định rõ đất khu công nghiệp, đất khu công nghệ cao,
đất sử dụng cho khu kinh tế, đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh.
+ Quy định việc giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất thuộc thẩm quyền của
UBND cấp huyện và cấp tỉnh (Chính phủ không làm chức năng này).
+ Quy định về việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất ở Việt
Nam: được giao đất, được thuê đất để xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình công cộng,
16
xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được
quyền sử dụng đất ở và sở hữu nhà ở.
17
1.2.3. Quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất
đai hiện hành
1.2.3.1. Các văn bản pháp luật của Nhà nước quy định về việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai của các cơ quan hành chính Nhà nước
Để cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của Đảng và tạo cơ sở pháp lý cho
công tác giải quyết KNTC, TCĐĐ, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy định
về trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan HCNN, trình tự, thủ tục giải quyết các

18
Luật Khiếu nại, tố cáo cũng được thay bằng cụm từ “quyết định này là quyết định có
hiệu lực thi hành” [45]. Như vậy, trong giải quyết khiếu nại hiện nay không còn tồn tại
khái niệm “giải quyết khiếu nại cuối cùng”.
Ngoài ra, theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo trước đây (2005) thì khi
không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại dù là quyết định giải quyết lần nào,
người khởi kiện đều được quyền khởi kiện ra Tòa. Đây là quy định mới, rộng mở hơn
để người dân có thể yêu cầu cơ quan tư pháp đứng ra bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình. Trong khi đó, Điểm a Khoản 2 Điều 138 Luật Đất đai lại quy định: “Trường
hợp khiếu nại QĐHC, HVHC về quản lý đất đai do Chủ tịch UBND huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết
định giải quyết thì có quyền khởi kiện tại TAND hoặc tiếp tục khiếu nại đến chủ tịch
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Trong trường hợp khiếu nại đến Chủ
tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì quyết định của UBND tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng”. Quy định này
làm hạn chế quyền khởi kiện của người khiếu nại.
Một sự khác biệt lớn giữa hai luật này là sự khác nhau giữa các quy định về thời
hiệu. Theo Điều 31 Luật Khiếu nại, tố cáo, thời hiệu khiếu nại là 90 ngày kể từ ngày
nhận được QĐHC hoặc biết được có HVHC. Trong trường hợp vì ốm đau, thiên tai,
địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác mà
người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu, thì thời
gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại. Tuy nhiên, Điểm b Khoản 2
Điều 138 Luật Đất đai lại quy định thời hiệu khiếu nại QĐHC về quản lý đất đai là 30
ngày, kể từ ngày nhận được QĐHC hoặc biết được có HVHC đó [24].
Trên đây là những mâu thuẫn lớn nhất giữa Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2005 và
Luật Đất đai năm 2003 đã xảy ra xung đột trong thời gian qua, gây khó khăn trong
việc áp dụng để giải quyết KNTC, TCĐĐ. Luật Tố tụng hành chính năm 2010, Luật
Khiếu nại, Luật Tố cáo năm 2011 đã quy định trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại
hành chính, HVHC về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật khiếu nại phần
nào đã khắc phục được mâu thuẫn trên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status