DRIVETEST TRONG CHU TRÌNH TỐI ƯU
I.THIẾT BỊ ĐO VÀ THỦ TỤC ĐO DRIVETEST
1. Đội Drivetest
Đội Drivetest phải cần ít nhất 2 người, một lái xe và một kỹ sư Drive
test. Người lái xe phải cần hiểu được đường phố và cấu trúc của khu vực cần
đo, và như vậy lái xe có thể cung cấp thông tin về tuyến đường có thể và
cung cấp những thông tin có thể thay đổi.
2. Thiết bị Drive_test và các nguồn hỗ trợ
2.1 Thiết bị Drive_test
Thiết bị Drive_test gồm có:
- Một phần mêm đo đạc(TEms) và một máy tính sách tay
- Một điên thoại di động để test (T610 Ericsson)
- Một GPS
- Nguồn điện cung cấp (được nối với Acqui của xe để chuyển
đổi điện thành 220V cho máy tính và GPS)
- Cáp dữ liệu
- Hệ thống anten( anten gắn từ đẳng hướng có cáp nối với
điện thoại)
2.2 Các nguồn hỗ trợ
- Ô tô phải có nguồn làm việc ổn định và ac qui hoạt động tôt
- Một bản đồ đường phố cho phép định hướng đường đi
- Vị trí của Site và cấu hình chi tiết, có thể trên các bản đồ riêng
rẽ hoặc trên bản đồ có thể chỉ ra Azimuth, titls, độ cao và các thông số cần
thích hợp khác
1
- Sơ đồ đường đi, bao gồm cả bản đồ đường phố và hướng chỉ
dẫn
-Một simcard test
- Một file mô tả mạng với định dạng tương ứng với phần mềm
tải.
Hệ thống Anten được sử dụng và vị trí anten có thể thay đổi:
1. Để đo mức tín hiệu trên đường hoặc để kiểm tra mức tín hiệu cho
trước, Anten phải được đặt trên noc của xe không gần hơn 45 cm
từ bất cứ cạnh nào. Nếu chiều cao của xe lớn hơn 1.8 m, thì có thể
đặt Anten trên nắp đậy máy ô tô và không gần hơn cạnh nào 45 cm
và cách kính chắn gió là 1m.
2. Để đo đặc tính trong xe Anten có thể đặt ở một vị trí cố định ngang
đầu lái xe
Một qui tắc rất quan trọng cần phải nhớ đó là giữ cho các thiết bị đo được
ổn định suốt quá trình đo. Điều này đảm bảo cho một kết quả chính xác.
Kiểm tra tất cả các kết nối để đảm bảo rằng phần mềm đo đã được kết
nối với các thiết bị.
Kiểm tra xem phần mềm đo có thê thu được các bản tin lớp ba và các
phép đo khác từ MS hay không.
Cài đặt chế độ cuộc gọi theo thủ tục sau khi đo bench marking là thời
gian thiết lập cuộc gọi là 90s, chờ 25s và lặp lại
Lưu logfile vào vị trí qui định trên máy tính với định dạng
MMDDYY_Name.
3
3.3 Quá trình kiểm tra
Bởi vì khi khởi động xe sẽ có một xu hướng làm rớt điện thế acqui do
đó sinh ra lối hiệu điện thế trên hầu hết các Inverter. Do vậy cần phải giữ xe
chạy liên tục trong suốt quá trình cần đo.
Tiến hành thực hiện đo tại một tốc độ xe cố định nếu có thể nhưng
không quá 60km/h. Khoảng thời gian dài dừng lại cần được ghi chú bởi vì
có thể sinh ra trên một vùng một kết quả sai lệch có thể rất tốt cũng có thể
rất xấu.
Trong suốt quá trình đo, kĩ sư nên quan sát bên ngoài để xem xét lỗi
lượng mạng
Vị trí giới hạn- có
thể xác định các
vấn đề trong từng
cell.
4
Trong quá trình trước khi đưa vào khai thác, số lượng các thuê bao
nhỏ nên việc thu được các thống kê từ từ NMS là không đáng kể. Tuy nhiên
các thông báo khác của NMS như Equipment Alarm là rất hữu ích để phát
hiện các vấn đề có thể và cũng cung cấp câu trả lời cho đặc tính mạng được
tìm thầy trong Drivetest.
Ngoài ra còn có nguồn dữ liệu được lấy từ các thông báo
Measurement Report được lấy từ MS và các đo đặc đường lên được lấy từ
BTS khi kênh được kích hoạt.
Acalter RMS và Ericson MRR là 2 hệ thống có thể cung cấp sâu hơn
về các vấn đề nhờ lựa chọn dữ liệu như Timing Advance Distribution, Sự
phân bố của tín hiệu trên đường xuông và đường lên, sự phân bố RxQual và
sự giảm bớt hoặc điều khiển công suất, các dữ liệu này có thể được biểu diễn
riêng rẽ hoặc kết hợp với nhau để phát hiện ra vấn đề. Ví dụ như RxQual và
RxLev vó thể chỉ ra được vấn đề vùng nhiễu do mức tín hiệu thấp hoặc do
kế hoặc ấn định tần số kém.
5
Chu trình tối ưu
6
Optimisation Process
1 Drivetest
1.1 Kế hoạch khảo sát kiểm tra
với các vấn đề này như được nêu ở phần sau. Một ví dụ của việc chẩn đoán
nhầm của việc thiếu Neighbour là khi Drivetest chỉ ra rằng mức tín hiệu đã
rơi xuống dưới mức chỉ tiêu. Và điều này được chỉ ra là có vấn đề về vùng
phủ. Do đó tốt hơn là để phân tích dữ liệu Drive test cho việc thiết handover
trước khi tiến hành các thủ tục khác.
Trước khi xem qua các ví dụ về chẩn đoán thiếu handover, phải chú ý
rằng điều khiển công suất được kích hoạt trên kết nối hiện tại hay không.
Điều khiển công suất sẽ có ảnh hưởng đến mức tín hiệu đo được có thể
không được thực hiện với BTS tại mức công suất tối đa do đó nó có thể so
sánh với mức tín hiệu neighbor được thông báo chúng luôn được phát đi bởi
BTS tại một mức cố định.
Điều này có thể được thực hiện bởi việc kiểm tra các thông số của
Cell trong OMC, Drivetest hoặc dùng bảng dưới đây. Nó sẽ giúp cho việc
quyết định khả năng nào của mức tín hiệu của kết nối hiện tại đã được giảm
đi bởi ảnh hưởng của việc điều khiển công suất.
Kết nối hiện tại chỉ sử dụng BCCH Không dùng điều khiển công suất
Điều khiển công suất không được kích hoạt Không dùng điều khiển công suất
BCCH serving cell trong danh sách BA-
Active và được thông báo có RxLev liên
quan với RxLev của kết nối (1-2dB)
Không dùng điều khiển công suất
Rxlev dưới mức tín hiệu đường xuống
mong muốn hoặc ngoài khoảng điều khiển
công suất
Nhiều khả năng không sủ dụng điều khiển
công suất
Rxlev gần với mức tín hiệu mong muốn Nhiều khả năng điều khiển công suât được
8
đường xuống hoặc bên trong cửa số điều
- Kiểm tra nếu kết hợp BCCH/ BSIC được thông báo đã phù
hợp chưa. Nếu BSIC không được giải mã, sử dụng planning
tool để tìm ra một cell thích hợp, nếu không có cell nào được
tìm thấy phải kiểm tra xem có mạng nào khác đó đang sử
dụng tần số này.
- Nếu quan hệ neighbor đã được xác định cho cell ứng cử:
o Trong trường hợp này BSIC không giải mã được hoặc
không liên tục thì phải kiểm tra xem có khả năng
nhiễu trên kênh đó không. Nếu có một BSIC không
đáng tin cậy được decode, một handover sẽ không
được xảy ra.
o Kiểm tra xem nếu cell được điều khiển bên trong
BSC, LAC và hoặc MSC. Nếu bất kì một trong các
yếu tố trên là khác, thì kiểm tra xem các cơ sở dữ liệu
liên quan đê đảm bảo rằng các thông tin định dạng
cell và handover là xác định đúng.
o Kiểm tra xem có nghẽn không trên cel ứng cử. Nếu nó
nghẽn, không một handover nào xảy ra.
10
o Kiểm tra thông số”disable handover ” cho cell ứng cử.
Nếu Handover đến bị khoá, MS sẽ không chuyển giao
được tới cell
o kiểm tra cài đặt lớp HCS và các thông số thuật toán
handover của các nhà cung cấp để tìm ra nguyên nhân
có thể
o Kiểm tra sự truyền dẫn giữa các cell ứng cử. Một số
nhà cung cấp đã thiết kế thiết bị của họ để tiếp tục
truyền dẫn kênh BCCH thậm chí ngay cả BTS không
được nối với phần còn lại của mang lưới. tuy nhiên
đưa ra để thêm missing neighbor.
Trong một số trường hợp có thể xoá đi hoặc tạo ra một quan hệ
neighbor trong trường hợp có lỗi của cấu hình dữ liệu OMC/BSC .
2.2 Vấn đề về vùng phủ
Đây là môt vấn đề tương đối đơn giản đê phát hiện và phân tích. Tuy
nhiên giải pháp cho vấn đề này không phải là đơn giản.
Nguyên nhân cho tình trạng mức tín hiệu thấp được đánh giá cho là
bởi vì một ảnh hưởng ngoài ra đó là tín hiệu thấp sẽ kéo theo C/ i bị giảm.
C/i giảm gây nên chât lượng thoại giảm, trước tiên BER được tăng lên để
chỉ ra một điểm mà chất lượng thoại bị giảm và tiếp đó khi FER tăng khi các
mẫu tín hiệu bị mất tất cả và dẫn đến rớt cuộc gọi.
Nếu nhiễu được đánh giá trước mức tín hiệu, người tối ưu có thể bị
cuốn hút bởi xác định vấn đề như là chất lượng thấp và điều chỉnh tần số,
điều đó làm lãng phí thời gian bởi nguyên nhân thực sự của nhiễu là nhiễu
nhiệt hoặc nhiễu nền chúng không thể bị loại bỏ bởi việc thay đổi tần số.
Giải pháp để giải quyết vấn đề vùng phủ thấp là:
- Tăng công suât phát ra của BTS hoặc giảm suy hao BTS.
- Chỉnh lại hướng tilt hoặc tăng độ cao anten
- Sử dụng một Repeater để mở rộng vùng phủ.
- Xây dựng thêm trạm mới.
Tuỳ vào thiết bị của nhà cung cấp, có thể tăng công suất đến tối đa thông
qua yêu cầu phần mềm hoặc thay TRX với công suất cao hơn.
Một khả năng nữa đó là giảm suy hao combiner hoặc feeder nhờ sủ
dụng “air combining” hoặc feeder có suy hao thấp. “Air combining ” là một
khái niệm mà thay vì sủ dụng filter hoặc Hibrid combiner để kết nối 2 TRX
13
với một Anten, một anten riêng rẽ được sử dụng cho 1 TRX và do đó giảm
được 3dB đến 3.5 dB suy hao.
Điều quan trọng phải nhớ rằng vùng phủ uplink và downlink là phải
đó nó bắt đầu tăng. Như đã đề cập trước đó khi mức tín hiệu giảm thì C/i và
quaility cũng giảm theo, điều này có thể được nhìn thấy ở đồ thị; C/i tính
toán giảm, RxQual tăng, SQI giảm và FER tăng.
Trong bản đồ trên điểm giữa đã được lựa chọn. Mức tín hiệu giảm khi MS
dịch chuyển ra xa trạm BTS cho đến điểm giữa, tại thời điểm đó MS thay
đổi hướng và quay ngược trở lại BTS. Trong danh sách serving và Neighbor
15
cell có thể thấy rằng mức tín hiệu của Cell phục vụ và Neighbor là dưới
-100dBm và mức ngưỡng thiết kế.
Trong ví dụ này khoảng cách đo được đến vùng phục vụ thấp là khá
xa từ hướng Anten và nằm trong khoảng “null” giữa 2 sector 1 và 2, nhưng
nó không hiệu quả nếu chỉ thay đổi hướng của Anten.
Phân tích sâu hơn ta thấy rằng mức tín hiệu ở dưới mức phục vụ ngoài
trời do đó việc sử dụng TRX có công suất lớn hơn và giảm suy hao của
Feeder là không giúp được nhiều. Không có cell nào ỏ phía Đông Nam do
đó cell đang phục vụ nằm ở phía rìa của mạng, nhưng xem xét thấy rằng
vùng phủ thấp vẫn nằm ở bên trong thị xã do đó giải pháp tốt nhất là xây
dựng thêm trạm mới.
Ở bản đồ tiếp theo ở trang bên chỉ ra một ví dụ khác về vấn đề vùng phủ
thấp, tuy nhiên trong ví dụ này vùng phục vụ này được bao quanh bởi các
Site và không nằm trong ngoài rìa của mạng. Phân tích vùng này thấy rằng
không có vật cản đáng kể gần cell đang phục vụ và khoảng cách của vùng có
vấn đề là nằm trong bán kính được phục vụ. Nghien cứu kĩ hơn trong vùng
phủ thấp ta thấy rằng khu vực này là khu đông đúc (đường rất hẹp và các toà
nhà là liền kề nhau) có rất ít cơ hội để có một tín hiệu đường thẳng hoặc
phản xạ và khúc xạ từ các cell lân cận thâm nhập được đên MS.
Giải pháp tốt nhất đó là xây một SITE mới trong hoặc gần với khu
vực trên bởi vì khu vực này là đông đúc và do đó lưu lượng của khu vực này
sẽ rất lớn (Repeater không thể tăng được lưu lượng) và chỉ có những tín hiệu
vấn đề nhiễu rất khó giải quyết.
Bởi vì hầu hết nhiễu là từ bên trong cùng một mạng. Nó là một kiểu
nhiễu được nhắm tới trong suôt quá trình tối ưu.
Một số phương pháp có thể để cải thiện tình trạng nhiễu:
- Thay đổi tần số trên cell phục vụ hoặc/ và nguồn nhiễu.
- Dowtilt nguồn nhiễu trong trường hợp bị tràn ra quá nhiều.
- Tăng công suất của cell phục vụ và hoặc giảm công suất
phát của nguồn nhiễu.
- Tiến hành điều khiển công suất, nhảy tần hoặc phát gián
đoạn
Phát hiện nhiễu từ logfile Drivetest là một điều gì đó dễ nhưng Log
Drive test thông thường không xác định được rõ ràng nguồn nhiễu. Một số
ví dụ từ phép đo drivetest được chỉ ra ở dưới đây.
18
Ở trong hình trên, có thể thấy rằng ở trong phần trước khi handover
thứ nhất có nhiều neighbor đã được thông báo xung quanh mức tín hiệu,
điều này chỉ ra rằng thiếu một cell vượt trội. Nhiều handover diễn ra trong
một khoảng ngắn với một số rõ ràng là do nhiễu (bởi vì tiêu chuẩn power
budget- HO dự trữ là khoảng 3dB- không đặt tới). Trong trường hợp này khó
có thể giải quyết vấn đề nhờ chỉ thay đổi một tần số. Giải pháp cho kiểu tình
huống này sẽ được thảo luận kỹ hơn.
Nhiễu đơn
Trong những trường hợp mà ở đó nhiễu giữa 2 cell cụ thể là phương
pháp đầu tiên –thay đổi một tần số hoặc trên cell phục vụ hoặc trên nguồn
nhiễu- có thể sữa được vấn đề nhiễu này.
sụ phát hiện có hoặc không nguồn nhiễu từ một nguồn đơn hoặc nhiều
có thể biến đổi rất phức tạp. Bước đầu tiên là xem xét kế hoặc tần số cho cho
một vùng và tìm ra nguồn nhiễu có nhiều khả năng nhất. Thình thoàng có
một cell nổi trội có thể giải quyết vấn đề này
rộng lớn của năng lượng bị mất đi vào trong không gian hoặc tồi hơn do bị
mắc ở trong vật dẫn nhiệt trong không gian chỉ quay lại trái đất tại một
20
khoảng cách xa và gây ra nhiễu các cell khác. Hình dưới đây có thể đề nghị
một góc không tuân theo các khuyến cáo ban đầu và nếu như vậy sự đồng ý
và không đồng ý của việc làm này cần được ước lượng và một sự thoả hiệp
được đạt đến.
Nếu một cell cung cấp tại một vùng có mật độ cell thấp, búp sóng
chính tập trung của anten có thể hướng về biên của Cell. Nếu cell được cung
cấp một vùng phủ trong một vùng mà có mật độ cell cao, khi đó điểm-3dB
đỉnh của bub sóng chính có thể được chỉ vào biên của của cell.
Ở những vùng có địa hình không bằng phẳng, quá trình quýêt định
góc tilt cần được cân nhắc độ khác nhau tương đối trong chiều cao tương đối
giữa MS anten và BTS. Ví dụ, nếu anten được chỉ vào một quả đồi, điểm
-3dB chỉ nằm ở bên trên quả đồi một chút. điều này làm giảm khả năng tràn
ra xa (đồng thời giảm luôn nhiễu uplink của cell) và tập trung vào công suất
truyền và nhận bên trong vùng mục tiêu.
Với mục đích để thu được một định dạng rõ ràng về biên của cell
nhiều Drivetest cần phải được tiến hành và phân tích. Tìm kiếm vùng phủ
nơi mà các cell được nhận tại mức công suất bằng nhau, nếu các cell được
hạ tilt tại vùng biên và công suât cuối cùng nhận được tại vùng biên là không
thay đổi nhiều nhưng sự tràn sẽ được giảm đi đáng kể. Tuy nhiên nếu những
mức tín hiệu tại biên của cell vẫn cao(+3dB trên mức có thể xem xét để đủ
cho phục vụ tốt trong nhà) khi đó chỉnh góc anten cho đến khi mức tín hiệu
tại vùng biên là có thể chấp nhận được.
Biên của cell nên có khoảng cách đến 2 cell là gần bằng nhau để tạo
nên sự cân bằng giữa chúng. Thỉnh thoảng một vật chắn mà một trong các
cell không thể vượt qua để xác định biên cell.
Khi biên của Cell là một khoảng đã biết, những phép tính đơn giản về
trong một số yêu cầu để thay đổi cấu hình có thể là phần mềm hoặc phần
cứng.
Bất kỳ trường hợp nào có thể cần thiết để chứng minh sự thay đổi
bằng cách hoàn thành một yêu cầu thay đổi được ghi thành văn bản. Điều
này ngăn ngừa một người nào đó sau này rời bỏ tất cả các neighbor cần thiết
hoặc cấu hình anten với khái niệm rằng cấu hình đó là không hợp lý.
Yêu cầu thay đổi (changes Request) có thể được đưa ra bằng tài liệu lí
do của sự thay đổi, xác định các ảnh hưởng có thể đến mạng như các bộ đếm
đặc tính có thể được đánh giá để xem sự thay đổi có đem lại sự cải thiện cho
mạng hay không.
4 Thực hiện
Chu trình tối ưu nên bắt đầu lại khi mà yêu cầu thay đổi đã được tiến
hành bởi thay đổi khác trong:
- Ấn định tần số trên cell phục vụ hoặc cell bị nhiễu
- Cấu hình anten
23
- Xác định neighbor
- Các thông số điều khiển đặc tính mạng
Bởi vì không phải tất cả các thay đổi sẽ trả về một kết quả tốt, do đó
cần thiết phảiđánh giá lại mạng sau khi thay đổi.
Quá trình tối ưu được lặp lại cho đến khi tiêu đặc tính đích có thể đạt
được hoặc cho đên khi tất cả các giải pháp có thể đã được thử. Những vấn đề
không được giải quyết ên làm thành một tài liệu và được xem lại sau vài
tháng trong trường hợp có một giải pháp mới được tìm ra. (ví dụ sau khi một
site đã được tích hợp hoặc một đặc tính mới có thể)
III. Kết luận
Để đảm bảo tính ổn định của mạng lưới và nâng cao khả năng phục vụ
khách hàng chu trình tối ưu là một quá trình không liên tục không dừng, và
là một chu trình khống thể thiếu được. Trong chu trình tối ưu này Drive test