Quy hoạch tài nguyên nước thành phố Long Xuyên
GVGD: Trần Ngọc Châu Trang 1
MỞ ĐẦU
Nước là tài nguyên thiên nhiên quý giá, là thành phần thiết yếu của sự sống và
môi trường. Nước không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của thế giới sinh vật
và nhân loại trên Trái Đất. Nước quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất
nước, mặt khác nước cũng có thể gây hoại cho con người và môi trường. Tài
nguyên nước là nguồn tài nguyên vừa hữu hạn, vừa vô hạn.
Ngày nay cùng với tốc độ phát triển kinh - tế xã hội và gia tăng dân số một
cách mạnh mẽ nguồn tài nguyên nước đang đứng trước nguy cơ suy thoái cạn kiệt.
Sự suy thoái tài nguyên nước cùng với sự gia tăng nhiễm nước khiến cho nguồn
nước sạch đang ngày một giảm sút rất nhanh chóng tại nhiều nơi. Nước là một
nguồn tài nguyên có thể tái tạo nhưng dễ bị tổn thương nếu khai thác sử dụng không
hợp lý. Do đó vấn đề bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên nước là vấn đề rất cấp
thiết hiện nay. Bên cạnh đó nước còn là một tài nguyên có giá trị kinh tế nên trong
sử dụng phải coi trọng giá trị kinh tế của tài nguyên nước.
Tây Bắc giáp huyện Châu Thành, đường ranh giới dài 12,446 km.
Đông Bắc tiếp giáp với huyện Chợ Mới.
Tây giáp huyện Thoại Sơn với chiều dài đường ranh giới là 10,054 km.
Nam giáp quận Thốt Nốt của thành phố Cần Thơ.
c. Đơn vị hành chính
Quy hoạch tài nguyên nước thành phố Long Xuyên
GVGD: Trần Ngọc Châu Trang 3
Long Xuyên có 13 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 11 phường: Bình
Đức, Bình Khánh, Đông Xuyên, Mỹ Bình, Mỹ Hòa, Mỹ Long, Mỹ Phước, Mỹ
Quý, Mỹ Thạnh, Mỹ Thới, Mỹ Xuyên và 2 xã là Mỹ Hòa Hưng, Mỹ Khánh.
Năm 2009, Chính phủ đã công nhận TPLX là đô thị loại II trực thuộc tỉnh An
Giang.
1.1.2. Đặc điểm địa hình, khí hậu, thủy văn
a. Địa hình
Địa hình của TPLX tương đối bằng phẳng, có độ cao trung bình từ 1,1m –
2,5m theo hướng thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Khu vực có độ cao cao
nhất thuộc nội ô thành phố (gồm các phường Mỹ Bình, Mỹ Long và khu vực ven
quốc lộ 91) dao động trong khoảng từ 2,2m – 3m.
Với địa hình bằng phẳng, chênh lệch thấp về độ cao, Long Xuyên có nhiều
thuận lợi trong phát triển các ngành như: xây dựng, thương mại, dịch vụ, du lịch,
nuôi trồng thủy sản,…
b. Khí hậu thời tiết
TPLX nói riêng và tỉnh An Giang nói chung nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới
gió mùa, nền nhiệt tương đối cao và ổn định, lượng mưa nhiều và phân bố theo
mùa.
Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình 9 tháng đầu năm 2012 ở An Giang vào khoảng 27,9
0
22,0
3
36,0
28,1
23,9
4
35,7
28,7
23,1
5
35,0
28,5
23,6
6
34,3
28,4
23,7
Quy hoạch tài nguyên nước thành phố Long Xuyên
GVGD: Trần Ngọc Châu Trang 4
7
34,9
27,9
23,5
8
35,0
28,5
24,4
9
108,4
80
7
98,9
82
8
127,8
78
9
76,1
86
(Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn An Giang)
Mưa
Sự thay đổi lượng mưa trong 9 tháng đầu năm tương đối phức tạp. Lượng mưa
trung bình tại trạm Long Xuyên vào khoảng 141,8 mm/ 9 tháng năm 2012, cao nhất
vào tháng 9 (đạt 333,4 mm) và thấp nhất vào tháng 1 (đạt 4,6m).
Quy hoạch tài nguyên nước thành phố Long Xuyên
GVGD: Trần Ngọc Châu Trang 5
Bảng 1.3: Lượng mưa trung bình 9 tháng đầu năm 2012 tại trạm TPLX
Tháng
T1
T2
T3
T4
T7
T8
T9
Số giờ
nắng
187
218,5
236
212,9
188,2
165,1
167,6
204
130,7
(Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn An Giang)
c. Chế độ thủy văn
TPLX có mạng lưới giao thông thủy phát triển, bao gồm hệ thống sông, rạch
tự nhiên và các tuyến kênh phục vụ cho công tác tưới tiêu trong nông nghiệp và vận
tải. Trong đó sông Hậu và rạch Long Xuyên là hai tuyến chủ đạo, hai tuyến sông
này tạo nên một mạng liên thông về vân tải thủy khá thuận lợi.
Sông Hậu: bắt nguồn từ thượng lưu sông Mê Kông (thuộc Vương quốc
Campuchia) chảy qua tỉnh An Giang (tại huyện An Phú) chia thành hai nhánh sông
Tiền và sông Hậu) đổ về Long Xuyên, sau đó đi qua các tỉnh như Đồng Tháp, Cần
Thơ, Vĩnh Long, Sóc Trăng và Trà Vinh trước khi đổ ra biển theo cửa Định An, tạo
thành một hệ thống giao thông thủy liên kết giữa các tỉnh với nhau.
Rạch Long Xuyên: là rạch tự nhiên lớn nhất của tỉnh An Giang, khởi nguồn từ
sông Hậu, tại phường Mỹ Bình, TPLX, chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, tiếp
nối với kênh Thoại Hà, xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn. Rồi theo kênh này đổ ra
biển ở cửa Rạch Giá tạo thành một tuyến đường giao thông thủy xuyên suốt từ
TPLX đến thành phố Rạch Giá.
-27
8
198
0
9
224
77
(Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn An Giang)
Hình 1.2: Bên Rạch Long Xuyên
Quy hoạch tài nguyên nước thành phố Long Xuyên
GVGD: Trần Ngọc Châu Trang 7
1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội thành phố Long Xuyên (trong 9 tháng đầu năm
2012)
1.2.1. Lĩnh vực kinh tế
Trong 9 tháng đầu năm tình hình kinh tế tiếp tục khôi phục và phát triển với
tốc độ tăng trưởng đạt 9,35% (cùng kỳ là 10,05%), trong đó khu vực thương mại -
dịch vụ tăng 12,31% (cùng kỳ là 13,5%); công nghiệp – xây dựng tăng 5,18% cùng
kỳ là 5,41%); nông nghiệp -2,48% (cùng kỳ là -0,08%).
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng định hướng: thương mại – dịch vụ
chiếm tỷ trọng 72,70%; công nghiệp – xây dựng 24,77% và nông nghiệp 2,53%.
a. Thương mại – Dịch vụ
Hoạt động thương mại phát triển mạnh, lượng hàng hóa trên thị trường rất
phong phú, đa dạng, lưu thông thông suốt, phục vụ nhu cầu mua sắm và tiêu dùng.
Thị trường giá cả nhìn chung có tăng, tuy nhiên không có tình trạng tăng cao đột
biến.
Sản lượng vận chuyển hàng hóa, hành khách trong 9 tháng cũng tương đối ổn
định và có tăng vào những mùa thu hoạch nông nghiệp hoặc những dịp tựu trường,
a. Giáo dục
Trong 9 tháng đầu năm, các kế hoạch, chương trình trọng điểm được quan tâm
thực hiện nên kết quả đạt được tương đối khả quan. Kết quả năm học 2011-2012, tốt
nghiệp Tiểu học đạt 99,7%, Trung học cơ sở đạt 99,5% và Trung học phổ thông đạt
99%.
Hằng năm, thành phố đều duy trì và nâng chất kết quả phổ cập giáo dục ở các
cấp học. Hiện 13/13 phường, xã của thành phố được công nhận hoàn thành phổ cập
giáo dục với tỷ lệ bình quân đạt 90%. Hiện nay thành phố có 13 trường được công
nhận chuẩn Quốc gia (02 trường mẫu giáo, 07 trường tiểu học và 04 trường trung
học cơ sở), tiếp tục xây dựng thêm 4 trường đạt chuẩn Quốc gia; Chất lượng giáo
dục ở các cấp học của thành phố là vấn đề được quan tâm hàng đầu nên kết quả đào
tạo của thành phố luôn đạt mức cao. Đội tuyển học sinh giỏi của thành phố đạt
nhiều giải cao khi tham gia các kì thi cấp tỉnh và quốc gia (01 trường được nhận cờ
thi đua của Chính phủ và 01 học sinh cấp 2 đạt giải nhì kỳ thi trạng nguyên tương
lai cấp quốc gia).
Quy hoạch tài nguyên nước thành phố Long Xuyên
GVGD: Trần Ngọc Châu Trang 9
Trường đại học An Giang nằm trên địa bàn TPLX, là trung tâm đào tạo đại
học đa ngành (kinh tế, kỹ thuật), đồng thời là trung tâm nghiên cứu, ứng dụng và
chuyển giao công nghệ phục vụ nhu cầu phát triển KT-XH tỉnh An Giang, Đồng
Tháp, Kiên Giang và các tỉnh lân cận. Hàng năm trường đào tạo hơn 5.000 cán bộ
trình độ đại học và dưới đại học.
b. Y tế
Theo thống kê đến thời điểm hiện nay địa bàn TPLX có 19 cơ sở y tế hoạt
động (17 cơ sở công lập), với 1.370 giường, trong đó có 04 bệnh viện đa khoa (02
bệnh viện đa khoa ngoài công lập), 02 bệnh viện chuyên khoa, 13 trạm y tế phường,
xã.
Ngành y tế của thành phố quản lý 01 bệnh viện đa khoa, 01 trung tâm y tế và
2.1.1. Hiện trạng môi trường nước mặt
TPLX có mạng lưới giao thông thủy phát triển, bao gồm hệ thống sông, kênh,
rạch tự nhiên và các tuyến kênh phục vụ cho công tác tưới tiêu trong nông nghiệp
và vận tải. Trong đó sông Hậu và rạch Long Xuyên là hai tuyến chủ đạo, hai tuyến
sông này tạo nên một mạng liên thông về vận tải thủy khá thuận lợi, tạo trục cảnh
quan quan trọng của thành phố. Ngoài hai sông rạch chính này trong khu vực thành
phố còn có 1 số kênh rạch khác như: Rạch Cần Xây, Rạch Gòi Lớn, Rạch Gòi Bé,
Rạch Cái Dung, Rạch Cái Sao, Rạch Bà Bầu, Rạch Ông Mạnh và Rạch Mương
Khai.
Theo ghi nhận từ các kết quả phân tích, nghiên cứu về chất lượng môi trường
nước mặt của Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật tài nguyên – Môi trường An Giang
và Phòng tài nguyên môi trường thành phố thì:
Qua 03 đợt quan trắc chất lượng nước sông Hậu trong năm 2012 cho thấy, vẫn
còn vài thông số vượt giới hạn cho phép theo QCVN 08:2008 (cột A2) như TSS,
BOD
5
, PO
4
3-
và Coliforms giá trị trung bình hằng năm (2010, 2011, 2012) của các
thông số quan trắc còn lại đều biến động không nhiều và hầu hết đều đạt quy chuẩn,
riêng TSS tăng mạnh và vượt quy chuẩn, DO được cải thiện dần qua các năm, hàm
lượng vi sinh trong 2 năm gần đây cũng rất biến động và cao hơn so với quy chuẩn.
Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt sông Hậu tại các vị trí liên tục cũng cho thấy
hầu hết đều có giá trị các chất ô nhiễm cao hơn năm 2011. Điều đó cho thấy chất
lượng nước trên sông Hậu chịu sự tác động rất lớn từ thượng nguồn, các hoạt động
lưu thông thủy nội địa, nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông nghiệp và hoạt động sinh
hoạt của người dân.
Chất lượng nước mặt kênh, rạch nội ô TPLX đã có những diễn biến phức tạp
nhất trong tháng 6 và tháng 9, chất lượng nước kênh, rạch chịu ảnh hưởng rất lớn
là phường Mỹ Long và phường Đông Xuyên.
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp số lượng giếng khoan được điều tra ở địa bàn TPLX
STT
Xã, phường
Số lượng giếng
Còn sử
dụng
Tỷ lệ (%)
Tạm ngưng
sử dụng
Tỷ lệ (%)
1
Bình Đức
76
26,2
1
11,1
60.20%
13%
6%
10%
8%
1.70%
0.40%
0.70%
Hiện trạng sử dụng nước ngầm của người
dân Thành Phố Long Xuyên
Sinh hoạt
Chăn nuôi
5
Mỹ Xuyên
20
6,9
1
11,1
6
Đông Xuyên
0
0,0
0
0,0
7
Mỹ Hoà
34
11,7
2
22,2
8
Mỹ Khánh
13
4,5
1
11,1
9
Mỹ Phước
25
8,6
0
0,0
Hiện nay có 9 giếng ở xã Mỹ Hoà Hưng, xã Mỹ Khánh, phường Mỹ Hoà, Mỹ
Thới, Bình Đức, Mỹ Xuyên đã ngưng sử dụng vì nước giếng bị nhiễm phèn nặng.
Chất lượng nước giếng trên địa bàn TPLX chủ yếu bị ảnh hưởng bởi độ cứng,
vi sinh cao. Trong đó, mức độ ô nhiễm vi sinh báo động lên đến hàng nghìn lần so
với quy chuẩn.
2.1.3. Hiện trạng nước thải công nghiệp
Bảng 2.2: Kết quả quan trắc chất lượng nước cụm công nghiệp Mỹ Quý
T
T
Thông số
Tháng 3
Tháng 6
Tháng 9
QCVN
08:2008
(cộtA1)
QCVN
40:2011
(cột A)
2011
2012
2011
2012
2011
2012
1
Nhiệt độ
30,1
30,7
75
4
BOD
5
(mg/l)
6
7
5
33
25
8
4
30
5
TSS (mg/l)
48
15
33
26
36
35
20
50
6
Dầu mỡ
khoáng
(mg/l)
KPH
0,36
KPH
KPH
KPH
0,04
KPH
KPH
KPH
-
1
1
0
S
2-
(mg/l)
0,086
KPH
KPH
KPH
KPH
0,048
-
0,2
(Nguồn: Kết quả quan trắc môi trường tỉnh An Giang năm 2012)
Ghi chú: “-” Quy chuẩn không quy định; KPH: Không phát hiện
Kết quả quan trắc chất lượng nước khu vực KCN Mỹ Quý cho thấy:
Theo quy chuẩn Việt Nam 08:2008 (cột A1) qua 3 đợt quan trắc, chất lượng
nước bị ô nhiễm chủ yếu bởi COD, BOD
5
, TSS (tháng 6, 9), Coliforms, Amoni
(tháng 3, 9).
Theo QCVN 40:2009 (cột A), nước bị nhiễm vi sinh từ 2,3 – 7,7 lần, riêng
Tháng 6
Tháng 9
QCV
N
08:20
08
QCV
N
14:20
08
2010
2011
2012
2010
2011
2012
2010
2011
2012
pH
7,16
7,31
7
7,504
7,28
7,01
6,52
6,67
6,83
6-8,5
12,71
36,38
10
12
13,25
4
30
Tổng dầu
mỡ
0,13
2,33
1,82
2,83
1,58
1,62
2,58
1,43
1,62
0,01
-
Coliform
s
574
106080
30050
1885320
162285,71
389500
138980
39628,57
Sử dụng nguyên liệu, tài nguyên thiên nhiên.
Quy hoạch tài nguyên nước thành phố Long Xuyên
GVGD: Trần Ngọc Châu Trang 15 CHƯƠNG 3
DỰ BÁO XU THẾ BIẾN ĐỔI TÀI NGUYÊN NƯỚC MÔI TRƯỜNG GIAI
ĐOẠN 2010-2015 VÀ ĐỊNH HƯỚNG 2020
3.1. Dự báo về tải lượng ô nhiễm do hoạt động công nghiệp, nước thải công
nghiệp
3.1.1. Dự báo về dân số
Dân số của TPLX hiện nay ước tính khoảng 291.208 người (năm 2011).
Theo Quyết định phê duyệt quy hoạch tổng thể phát KT-XH tỉnh An Giang đến năm
2020 của Thủ tướng chính phủ, tốc độ tăng dân số bình quân trong giai đoạn giai
đoạn 2011 - 2020 là 0,4 - 0,45%. Do đó dự báo dân số của TPLX giai đoạn 2011 -
2020 là khoảng 292.446 người.
3.1.2. Dự báo về tải lượng ô nhiễm do chất thải sinh hoạt
a) Tải lượng nước thải sinh hoạt
Lưu lượng
Với nhu cầu sử dụng nước của người dân như hiện nay, lượng nước trung bình
mỗi người sử dụng trong 1 ngày khoảng từ 80 – 120 lít. Dự báo tổng lượng nước
cấp trung bình của thành phố trong giai đoạn 2010 – 2020 là 29. 245 m
3
/ngày. Với
lượng nước thải bằng 80% lượng nước cấp (theo WHO), dự báo tổng lượng nước
thải sinh hoạt toàn thành phố trong giai đoạn 2010 – 2020 là 23.396 m
3
/ngày.
Tải lượng ô nhiễm
-6
35,09
5
6-12
Tổng N= dân số * 9.10
-6
2,63
6
0,8-4
Tổng P= dân số * 3.10
-6
0,88
Quy hoạch tài nguyên nước thành phố Long Xuyên
GVGD: Trần Ngọc Châu Trang 16
7
106-1010
Tổng vi khuẩn= dân số * 10
8
2,92.10
13
b) Tải lượng rác thải sinh hoạt
Dựa vào chỉ số phát thải chất thải rắn ở các nước đang phát triển của WHO, lượng
chất thải rắn phát sinh của thành phố Long Xuyên dự đoán khoảng 0,6
m
3
/ngày. Dự báo trong giai đoạn 2015 – 2020 khi số lượng các khu công nghiêp gia
tăng, lượng nước thải hằng ngày từ hoạt động công nghiệp ở TPLX là rất lớn.
Tải lượng ô nhiễm
Xét trên 3 thông số phổ biến là: BOD
5
, COD và SS. Với lượng nước thải đầu
vào khoảng 5.400 m
3
/ngày, tải lượng các chất ô nhễm dự tính đến năm 2020 như
sau:
Bảng 3.3: Tải lượng các chất ô nhễm dự tính đến năm 2020
STT
Thông số
Nồng độ trung bình
(mg/l)
Tải lượng ô nhiễm
(tấn/ngày)
1
SS
222
1.2
2
BOD
5
137
0,7
3
3
/ngày vào năm
2020. Nước thải sinh hoạt nếu không được xử lý trước khi thải ra ngoài môi trường
sẽ làm ô nhiễm nguồn nước mặt về các yếu tố như vi sinh, hữu cơ, mùi và màu sắc.
Hiện nay, TPLX vẫn chưa có nhà máy xử lý nước sinh hoạt tập trung, phần
lớn nước thải sinh hoạt thoát chung với hệ thống thoát nước mưa hoặc thoát nước
trực tiếp ra các sông, rạch gần nhất. Với thực trạng như hiện nay nếu không có biện
pháp xử lý, nước thải sinh hoạt sẽ là đối tượng chính gây ô nhiễm nghiêm trọng đến
nguồn nước mặt tại TPLX.
b. Đối với nước thải công nghiệp từ các cơ sở ngoài KCN
Nước thải này là đối tượng rất khó kiểm soát do sự phân tán không tập trung,
đặc biệt là xen lẫn trong các khu vực dân cư. Vì vậy khả năng trộn lẫn nước thải sản
xuất và nước thải sinh hoạt khu vực khá cao. Ảnh hưởng của đối tượng này không
chỉ gây ô nhiễm môi trường nước, hệ thuỷ sinh mà còn gây tác hại đến sức khoẻ con
người.
Quy hoạch tài nguyên nước thành phố Long Xuyên
GVGD: Trần Ngọc Châu Trang 18 c. Nước thải các khu và cụm công nghiệp
Nước thải từ các cơ sở sản xuất chỉ được thu gom tập trung nhưng không được
xử lý tập trung. Nước thải này là hỗn hợp từ các nước thải nhiều loại hình sản xuất
khác nhau nên sẽ phức tạp về thành phần, tính chất. Vì vậy độ độc hại càng cao.
d. Rác thải sinh hoạt của dân dọc theo sông, kênh rạch
Không ít dân cư sống gần hay dọc theo các kênh rạch, sông ngòi. Do đó một
khi phát triển không tốt hê thống thu gom thích hợp, môi trường nước mặt sẽ là đối
tượng chính tiếp nhận lượng rác thải sinh hoạt từ hoạt động sinh hoạt hàng ngày của
dân địa phương.
tiết kiệm, hiệu quả và bền vững.
Phát huy trách nhiệm của toàn xã hội trong công tác bảo vệ tài nguyên nước,
đẩy mạnh và thực hiện có hiệu quả các hoạt động xã hội hóa về khai thác và bảo vệ
tài nguyên nước.
Tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước vê tài nguyên nước.
4.1.2. Định hướng đến năm 2020
Khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước, đảm bảo cân bằng sinh
thái, góp phần phát triển bền vững kinh tế xã hội.
Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp qui đồng bộ và chính sách hỗ trợ phòng
ngừa ô nhiễm suy thoái và sự cố môi trường.
Tăng cường biện pháp quản lý và xử lý vấn đề ô nhiễm môi trường nước ở các
cụm công nghiệp và các cơ sở sản xuất ngoài cụm công nghiệp trên địa bàn thành
phố.
Giải quyết cơ bản tình trạng suy thoái môi trường nước ở các khu dân cư đô
thị và nông thôn, các hộ dân sống dọc tuyến sông, kênh, rạch.
Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và kiến thức về môi
trường cho cộng đồng, đồng thời có biện pháp giáo dục đối với mọi tầng lớp trong
xã hội, đưa giáo dục môi trường vào tất cả các cấp học.
4.2. Mục tiêu bảo vệ môi trường của TPLX đến năm 2020
4.2.1. Mục tiêu
a. Mục tiêu chung
Kết hợp hài hòa giữa phát triển KT-XH với bảo vệ tài nguyên và môi trường
nhằm đảm bảo phát triển bền vững.
Quy hoạch tài nguyên nước thành phố Long Xuyên
GVGD: Trần Ngọc Châu Trang 20
Khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo
đảm cân bằng sinh thái ở mức cao, kết hợp với bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh
học.
GVGD: Trần Ngọc Châu Trang 21
Từ nay đến năm 2015 cải tạo, nâng cấp các hệ thống thoát nước và xây dựng
hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt các đô thị của TPLX; từ năm 2015 đến năm 2020
tiếp tục mở rộng cho các thị trấn, các cụm tuyến dân cư và trung tâm của các xã.
Tỷ lệ dân cư đô thị được dùng nước sạch đến năm 2020 đạt 100%; Từ nay đến
năm 2015 tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch theo quy chuẩn của Bộ Y tế là
60% (cả các xã thị trấn vùng đồng bằng và vùng núi) và đến năm 2020 là 90%.
Đối với các hoạt động sản xuất công nghiệp
Từ năm 2011, tất cả các khu, cụm công nghiệp hiện hữu phải có hệ thống xử
lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn môi trường; Các khu, cụm công nghiệp tập
trung xây dựng mới phải có nội dung cơ sở hạ tầng về bảo vệ môi trường, vành đai
cây xanh xung quanh và hoàn thành trước khi tiếp nhận dự án đầu tư; Thành lập tổ
chức, bộ phận chuyên môn về bảo vệ môi trường.
Đối với các hoạt động ngành nông nghiệp
Từ năm 2011 trở đi, hoạt động chăn nuôi gia súc gia cầm và thủy sản phải có
hệ thống xử lý chất thải, nước thải đạt quy chuẩn, đảm bảo vệ sinh môi trường.
Đối với các hoạt động du lịch, dịch vụ, thương mại, y tế
Đến năm 2015 phải hoàn thiện cơ sở hạ tầng về bảo vệ môi trường: thoát
nước và xử lý nước thải, hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn, cây xanh,
4.2.2. Vấn đề bảo vệ môi trường nước trong việc phát triển và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế
Để tăng trưởng kinh tế không có con đường nào khác là phải tiến hành công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước được Đảng ta khẳng định: đảm bảo sự tăng trưởng nhanh và lâu bền của kinh
tế và gắn liền với việc xử lý tốt các vấn đề công bằng xã hội, tiến bộ xã hội, môi
trường và sinh thái.
Nghị quyết Trung ương khóa VIII cũng khẳng định: ”Phát triển khoa học công
nghệ gắn liền với bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển KT-
Tăng cường công tác hậu kiểm tra ĐTM đối với các dự án đầu tư trước khi đi
vào hoạt động. Tăng cường giám sát, quan trắc sự phát thải cũng như tuân thủ các
quy định về bảo vệ môi trường theo ĐTM của các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh trên địa bàn nhằm kiểm soát, khống chế ô nhiễm môi trường gắn quy hoạch
phát triển KT-XH với quy hoạch môi trường, đảm bảo kết hợp hài hòa giữa phát
triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
b. Về nông nghiệp
Cần có các biện pháp thu gom và xử lý chất thải rắn hữu cơ và các loại chất
thải rắn được đánh giá là nguy hại phát sinh từ hoạt động sản xuất nông nghiệp (vỏ,
chai, lọ của các loại hoá chất bảo vệ thực vật).
Cải thiện môi trường nước mặt, khắc phục tình trạng sử dụng các loại phân
bón, thuốc bảo vệ thực vật không hợp lý trong nông nghiệp nhằm hạn chế tối đa
tình trạng nguồn nước bị ô nhiễm do dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật.
Duy trì chất lượng môi trường tại các vùng nông thôn.
c. Về hệ thống thoát nước thải đô thị
Quy hoạch tài nguyên nước thành phố Long Xuyên
GVGD: Trần Ngọc Châu Trang 23
Hệ thống thoát nước trên địa bàn TPLX chủ yếu phục vụ cho thoát nước mưa
và thoát nước bẩn. Tại khu vực nội thành, hệ thống thoát nước khá hoàn chỉnh với
hệ thống cống chung (nước mưa và nước bẩn chảy chung) tổng chiều dài hệ thống
cống là 263,5km với 9.203 hố ga, mật độ cống thoát nước là 3,33km/km2. Cống
thoát nước chủ yếu là cống bê tông dạng tròn có đường kính 𝜑400 − 𝜑2.000; tại
các khu vực chợ và các khu phố nội ô cũ có một số tuyến mương đắp đang phục vụ
thoát nước trong khu vực.
Hiện tại TPLX chưa có hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt. Phần
lớn nước thải sinh hoạt thoát chung với hệ thống thoát nước mưa hoặc thoát nước
trực tiếp ra các sông, rạch gần nhất. Hiện tại công tác quản lý hệ thống thoát nước ở
Long Xuyên do Ban công trình đô thị TPLX đảm nhiệm. Việc tổ chức thoát nước ở
Hình 4.1: Khai thông rạch Cái Sơn hưởng ứng ngày môi trường thế giới 5/6/2011
Quy hoạch tài nguyên nước thành phố Long Xuyên
GVGD: Trần Ngọc Châu Trang 25
động của các hoạt động giao thông thủy, sản xuất nông nghiệp và những biến động
bất thường của lũ.
Đối vối nước ngầm
Chất lượng nước bị ô nhiễm bởi độ cứng và hàm lượng vi sinh cao.
Đối với nước thải công nghiệp
Chất lượng nước đã bị ô nhiễm bởi hầu hết các thông số, đáng kể nhất là các
thông số như: chất rắn lơ lửng TSS, chất hữu cơ COD và BOD
5
và Coliforms.
Đối với nước thải khu vực đô thị
Chất lượng nước chủ yếu bị ô nhiễm vi sinh và tổng dầu mỡ và ô nhiễm nhẹ
bởi các thông số TSS, COD, BOD
5
.
5.2. Kiến nghị
Trước diễn biến môi trường nước như đã nêu nếu không có giải pháp hỗ trợ
kịp thời thì môi trường nước TPLX đến năm 2020 được dự báo sẽ chịu ảnh hưởng
mạnh từ nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt. Vấn đề ngày càng trở nên