xây dựng cấu trúc vốn tối ưu nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần á châu - Pdf 24

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài “Tổng quan về mối quan hệ giữa triết học và khoa học “
GVHD : TS. BÙI VĂN MƯA
HỌC VIÊN : NGUYỄN KHÁNH HƯNG
MSHV : 108201714
STT NHÓM
LỚP : ĐÊM 1 – KHÓA 22
HỆ : CAO HỌC CHÍNH QUY
TP.HCM THÁNG 12/2012
2
LỜI MỞ ĐẦU
Cấu trúc vốn hiện nay luôn là một vấn đề quan trọng trong doanh nghiệp. Kể từ khi
Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, thực thi chính sách kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa thì hàng loạt các doanh nghiệp ra đời tạo điều kiện cho sự
phát triển mạnh mẽ của đất nước. Tuy nhiên, doanh nghiệp ra đời thì cần phải có vốn,
công nghệ, quản trị doanh nghiệp để mang lại hiệu quả kinh tế cao. Một trong những
vấn đề làm đau đầu các nhà quản trị doanh nghiệp là cơ cấu vốn của doanh nghiệp
như thế nào, vốn chủ sở hữu bao nhiêu, vay ngân hàng bao nhiêu, phát hành trái phiếu
hay huy động vốn qua thị trường chứng khoán .v.v. Đây là một vấn đề khá mới cả
trong lý luận nghiên cứu lẫn áp dụng trong thực tiễn, chính vì vậy việc nghiên cứu cơ
cấu vốn doanh nghiệp rất có ý nghĩa về mặt lý luận, đóng góp vào kiến thức tài chính
mà từ đây các nhà quản trị tài chính có thể tận dụng vào thực tiễn nhằm mang lại hiệu
qủa cao cho doanh nghiệp mình cũng như góp phần vào sự phát triển kinh tế của đất
nước. Một doanh nghiệp nếu tối ưu hóa được cấu trúc vốn của mình sẽ giúp làm giảm
chi phí vốn đồng thời gia tăng được lợi nhuận cũng như giá trị doanh nghiệp, và giá trị
cổ phiếu doanh nghiệp vì thế cũng sẽ tăng theo. Chính vì những vấn đề nêu trên, tôi đã
quyết định chọn đề tài “Xây dựng cấu trúc vốn tối ưu nhằm tối đa hóa giá trị doanh

người quan tâm đến triết học cần phải nhìn lại, nhận thức đúng về ngành Triết học để soi lại
mình và định hướng để cho triết học phát triển tiếp.
A. Quan điểm coi Triết học không phải là Khoa học cho rằng triết học chưa bao giờ và sẽ
chẳng bao giờ là khoa học cả.
Việc đồng nhất Triết học là khoa học của khoa học hay là như một ngành khoa học nào đó
cũng cần phải xem xét lại. Quan điểm này dựa trên 7 đặc điểm khác biệt cơ bản giữa triết học
và khoa học:
5
1. Ở mức độ này hay khác thì tất cả các kết luận của khoa học phải được chứng minh nhờ các
sự kiện, quan sát và thực nghiệm. Nhưng triết học lại thờ ơ với việc xác nhận này.
2. Các khẳng định khoa học được kiểm tra một cách kinh nghiệm và có thể bác bỏ bởi thí
nghiệm. Nhưng những khẳng định của triết học không được kiểm tra và không bị bác bỏ.
3. Trong mỗi khoa học thường tồn tại một lý luận cơ bản mà ở thời kỳ nhất định phần lớn các
nhà khoa học đều ủng hộ lý luận ấy. Ngược lại triết học không có lý luận thống trị mà đa
trường phái, đa trào lưu, đa xu hướng.
4. Khoa học sử dụng một cách rộng rãi sự quan sát, đo lường và thực nghiệm. Nó thường
hướng đến quy nạp và dựa vào sự khái quát hoá. Nhà triết học thì không làm quan sát/thí
nghiệm, thu thập các sự kiện. Anh ta sử dụng phương pháp tiên đề kiểu toán học, tiên đề
không cần những luận chứng thực tế như thực nghiệm.
5. Trong khoa học luôn tồn tại các vấn đề mọi người thừa nhận và cùng khám phá. Còn triết
học không có những vấn đề được thừa nhận chung.
6. Mỗi khoa học cụ thể đều có ngôn ngữ đặc thù của ngành mình. Ngôn ngữ chung tạo khả
năng trao đổi và thể hiện các kết quả giữa các khoa học gia. Thế còn ngôn ngữ triết học lại
không xác định. Mỗi triết gia đều muốn đưa nội dung riêng, ý nghĩa riêng của những thuật
ngữ quen thuộc vào khái niệm của mình.
7. Khoa học đem lại cho chúng ta chân lý nghĩa là phản ánh tương ứng hiện thực trong hình
thức các khái niệm, định luật và lý luận khoa học. Triết học lại không chỉ phản ánh hiện thực
mà còn mô tả việc cải tạo thực tiễn - nên làm thế nào để tốt đẹp hơn Không thể đặt một
mệnh đề triết học vào các sự kiện thực nghiệm với mục đích khẳng định hay bác bỏ nó.
Theo quan điểm này triết học không phải chỉ là khoa học mà nó là hệ thống hoàn chỉnh các

học chân chính”.
Triết học có mặt ở trong các tư tưởng bao trùm cả thời đại và sẽ là phi lý khi giả định nó bước
qua thời đại ngày nay - thời đại mà tính duy lý khoa học được xem xét như chỉ số của tinh
thần. Vậy thời đại của chúng ta phải có triết học mang tính khoa học.
Chúng ta có thói quen coi khoa học là những tri thức phổ biến, khách quan và không mang
tính cá nhân. Nhưng đồng nhất tính khoa học với tính phổ biến, chúng ta cũng có thể phủ
7
nhận tính khoa học với các khoa học về hệ thống đang phát triển chừng nào mỗi hệ thống như
thể là đơn nhất và tuân theo những quy luật hoạt động và phát triển đặc thù của riêng mình.
Chúng ta cũng không thể nào phủ nhận dấu ấn của cá nhân, người sáng tạo trong các hệ
thống triết học.
Khi nói rằng thực tiễn lịch sử xã hội là tiêu chuẩn khách quan của tính chân lý trong khoa học
và triết học thì cần hiểu thực tiễn trong tính chỉnh thể và sự phát triển của nó.
Tính chân lý là cần thiết nhưng vẫn là tiêu chuẩn chưa đầy đủ của tính khoa học. “Vật lý học
hiện đại đã chỉ ra rằng khoa học luôn chứa đựng cả nhân tố chủ quan. Tri thức của khoa học
tự nhiên cũng không thoát khỏi quan hệ đánh giá, dù rằng ở đây quan hệ này giữ vai trò nhỏ
hơn trong các khoa học xã hội và triết học”.
Vậy, triết học thuộc về kiểu khoa học khác mà chỉ bắt đầu được chúng ta suy nghĩ và cho đến
nay chưa hiểu đến cùng. Khoa học kiểu này là khoa học về các khách thể mang tính cá biệt
Mục đích của triết học là mong muốn hài hoà thế giới tinh thần của cá nhân với thế giới bên
ngoài, là sự tìm kiếm phương thức hài hoà này
C. Quan điểm khác trung hoà quan điểm về quan hệ giữa triết học với khoa học và quan
điểm coi triết học là khoa học như sau: “Triết học vừa là khoa học và vừa không là khoa
học”.
Triết học là một sự hỗn tạp, nó cần thiết để cân bằng giữa khoa học và không khoa học, bởi
nhiệm vụ của nó là gỡ bỏ cái ranh giới ấy!
Đã từ lâu, chúng ta đã xem xét triết học dưới cả 2 dạng tồn tại của nó: như một hình thái ý
thức xã hội và như một khoa học. Vậy nên chúng ta chuyển sang tìm hiểu mối quan hệ giữa
khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác nhau, trong đó có triết học.
Khoa học có thể lấy bất kỳ hiện tượng nào đó của hiện thực vật chất hay tinh thần thành đối

vốn tối ưu (2008).
2. www.vndirect.com.vn (Cập nhật số liệu đến 30/05/2009)
3. http://www.sbv.gov.vn/
4. www.acb.com.vn
5. Báo cáo tài chính ngân hàng thương mại cổ phẩn ACB từ năm 2007-2011
6. PGS.TS. Lưu Thị Hương, PGS.TS. Vũ Duy Hào (2006), Quản trị tài chính
Doanh nghiệp, Đại học Kinh tế Quốc Dân
7. PGS.TS. Phan Thị Thu Hà (2007), Ngân hàng thương mại, Đại học Kinh tế
Quốc Dân
8. PGS.TS. Lê Văn Tề, ThS. Nguyễn Thị Xuân Liễu (1999), Quản trị ngân hàng
thương mại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status