vấn đề giới trong tiểu thuyết của thùy dương - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TRƢƠNG THỊ THUẬN VẤN ĐỀ GIỚI TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA THÙY DƢƠNG
VẤN ĐỀ GIỚI TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA THÙY DƢƠNG
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60220121 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Bích Thu

THÁI NGUYÊN - 2013 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i


liệu và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện luận văn.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới người hướng dẫn
khoa học PGS.TS Nguyễn Thị Bích Thu, cô đã nhiệt tình, tận tâm giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp trường
THPT Hòa Phú, Sở GD&ĐT Tuyên Quang cùng những người thân yêu đã
động viên, quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt khoá
học này.
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2013
Tác giả
Trƣơng Thị Thuận

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii

MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 9
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10
5. Phương pháp nghiên cứu 10

3.1. Nghệ thuật xây dựng, khắc họa nhân vật trong tiểu thuyết của
Thùy Dƣơng 63
3.1.1. Khái niệm nhân vật 63
3.1.2. Các kiểu nhân vật và phương thức biểu hiện nhân vật trong tiểu
thuyết của Thùy Dương 64
3.1.2.1. Nhân vật cô đơn 64
3.1.2.2. Nhân vật tự ý thức 68
3.1.2.3. Nhân vật tâm linh 71
3.2. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Thùy Dƣơng 76
3.2.1. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật 76
3.2.2. Ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Thùy Dương 77
3.2.2.1. Ngôn ngữ giàu chất hiện thực đời thường 77
3.2.2.2. Ngôn ngữ mang đậm chất trữ tình 78
3.2.2.3. Ngôn ngữ mới lạ, hiện đại 82
3.3. Các sắc thái giọng điệu trong tiểu thuyết của Thùy Dƣơng 83
3.3.1. Khái niệm giọng điệu 83

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
3.2.2. Giọng điệu trong tiểu thuyết của Thùy Dương 85
3.2.2.1. Giọng mỉa mai, châm biếm 85
3.2.2.2. Giọng điệu đồng cảm, xót xa 86
3.2.2.3. Giọng điệu dí dỏm, hài hước 88
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
Thanh Quan và đặc biệt là Hồ Xuân Hương. Bước sang xã hội hiện đại, khi
dân trí được nâng cao thì cán cân công bằng về giới bắt đầu được thực hiện.
Vai trò của phụ nữ được đề cao với sự ra đời của Hội Phụ nữ Việt Nam. Tuy
nhiên phải đến năm 1986, sự phát triển mạnh mẽ của đất nước và những nỗ
lực của các cấp ngành đã tạo nên sự bình đẳng giới. Đây là những tiền đề cơ
bản giúp người đàn bà thoát khỏi áp chế của người đàn ông, khiến cho họ có
khả năng tồn tại độc lập và có khả năng tự quyết định số phận của mình.
Nhưng quan trọng hơn, ý thức về giới một cách tự giác đã ăn sâu vào ý thức
của đội ngũ người cầm bút và tạo nên âm hưởng nữ quyền trong văn học. Sự
hiện diện của văn học nữ tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam
là một bước phát triển thực sự của văn học theo khuynh hướng dân chủ hóa.
Ở Việt Nam, những năm gần đây, ảnh hưởng của văn học nữ quyền
ngày càng lớn trong sáng tác của các nhà văn nữ. Hàng loạt các cây bút nữ
xuất hiện đã khuấy động văn đàn từ giữa thập niên 90 của thế kỷ trước cho
đến nay: Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Vi Thùy
Linh, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Thị Ngọc Tư, Di Ly, Phong Điệp,
Bên cạnh các cây bút nữ kể trên là sự góp mặt của Thùy Dương với các
tiểu thuyết: Ngụ cư (2005), Thức giấc (2007), Nhân gian (2009). Các tác phẩm
của Thùy Dương ngay từ khi nhập tịch làng văn đã thu hút được sự chú ý của
độc giả và giới nghiên cứu phê bình. Có thể nói, Thùy Dương là một trong số ít
các cây bút nữ mà cả ba tiểu thuyết của chị đều đoạt được những giải thưởng
danh giá: Giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết do Hội Nhà văn tổ chức năm (2002-
2004) Ngụ cư, năm (2008-2010) Thức giấc và đỉnh cao là giải thưởng Hội Nhà
văn Hà Nội năm 2011 với tiểu thuyết Nhân gian. Nét đặc sắc trong tiểu thuyết
Thùy Dương nổi bật ở tính nữ, ở phận người được thể hiện bằng giọng văn trữ
tình sâu lắng, vừa dịu dàng vừa trầm tư, hài hước, thấm đẫm thời cuộc nhân sinh
cùng những trạng thái tâm linh hư ảo. Không khó nhận ra những vấn đề về giới
đậm đặc trong các trang tiểu thuyết của Thùy Dương. Nhưng những khía cạnh


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
trong đời sống nói chung và trong lĩnh vực văn hóa nói riêng. Tuy nhiên đóng
góp lớn lao và sâu sắc nhất trong tư tưởng của Phan Khôi đối với văn học nữ
lưu là ông bênh vực mạnh mẽ quyền của phụ nữ, lên án những tội ác của lễ
giáo phong kiến. Xét về phương diện lý luận, có thể thấy rằng Phan Khôi đã
tạo tiền đề cho lý thuyết nữ quyền trong văn học Việt Nam, mặc dù đó chỉ là
những phác họa sơ lược. Loạt bài Về văn học của phụ nữ Việt Nam (Phụ nữ
tân văn, số 1, 2/5/1929), Văn học với nữ tánh (Phụ nữ tân văn, số 2,
9/5/1929), Văn học của phụ nữ nước Tàu về thời kỳ toàn thạnh (Phụ nữ tân
văn, số 3, 16/5/1929), Theo tục ngữ phong dao xét về sự sanh hoạt của phụ
nữ nước ta (Phụ nữ tân văn, từ số 5 đến số 18, năm 1929) đã thể hiện tầm
nhìn và tấm lòng của một bậc thức giả thông tuệ.
Bên cạnh Phan Khôi, còn có nhiều cây bút nữ: Manh Manh nữ sĩ, Vân
Hương nữ sĩ, Nguyễn Thị Hồng Đăng, Lệ Hương, Phan Thị Bạch Vân, Bùi
Thị Út và các gương mặt nam giới khá quen thuộc: Trần Trọng Kim, Phan
Văn Trường, Nguyễn Văn Bá, Phạm Quỳnh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội
Châu, Diệp Văn Kỳ Tất cả đều bộc lộ quan điểm và tìm tòi về các vấn đề nữ
quyền nhằm trao đổi và tranh luận với nhau. Có thể thấy rằng, phê bình nữ
quyền Việt Nam thời kỳ này còn ở dạng sơ khai, phác thảo và có tính xã hội
nhiều hơn.
Trên Tạp chí văn học số 6 năm 1996 có bài tường thuật buổi tọa đàm
Phụ nữ và sáng tác văn chương, trong đó có nhiều ý kiến của nhiều nhà phê
bình, các nhà thơ, các cây bút nữ. Hầu hết các ý kiến đều khẳng định vai trò
của các cây bút nữ, tiềm năng to lớn mà các cây bút nữ có thể đạt được.
Trong lời giới thiệu Tuyển văn tác giả nữ Việt Nam, NXB Phụ nữ,
năm 2011, các cây bút nữ thế kỷ XX được đánh giá "Trên những trang viết
của họ ta tiếp nhận được một nữ tính phức tạp hơn nhưng đồng thời cũng
phong phú hơn những gì ta vẫn quan niệm trong quá khứ" [32].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Trong bài Phê bình văn học nữ quyền, nhà văn Lý Lan đã chỉ ra
những thực trạng của phê bình văn học nữ ở nước ta "học thuyết nữ quyền có
ảnh hưởng sâu sắc và rộng lớn nhất đến phê bình văn học, đã làm thay đổi
lớn lao cách đọc văn bản, việc bình giảng văn chương, sự định giá kinh điển
trong nhà trường, ảnh hưởng đến cảm thụ văn học của công chúng và chyển
đổi cả ngành xuất bản" (Báo Tia Sáng, ngày 15-3-2009).
Cùng trong không khí ấy, nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa
học của các nghiên cứu viên trẻ, nhận diện - lý giải một hiện tượng văn học
nổi bật trong đời sống văn chương những năm gần đây, Viện văn học đã tổ
chức Tọa đàm Văn xuôi nữ trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại
(tháng 11 năm 2012). Đến với buổi tọa đàm, Ban tổ chức đã thu hút được gần
30 tham luận, tập trung bàn thảo một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn sáng tác
văn học nữ đương đại. Các tham luận nhằm hướng tới nội dung như: Vấn đề
nữ quyền cần được đặt ra; Lý thuyết phê bình nữ quyền cần phải là lý thuyết
lịch sử; Từ thập kỷ 90 trở đi, văn xuôi nữ đã thực sự chiếm ưu thế trên văn
đàn; Truyện ngắn nữ đã dần có "thương hiệu"…(Báo Văn nghệ trẻ, số 48,
ngày 25/11/2012).
Ngoài những công trình kể trên còn có khá nhiều những luận văn thạc
sĩ nghiên cứu về thế giới nhân vật nữ trong sáng tác của các nhà văn đương
đại như: Nhân vật nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo của Trần Thị Bích Vân,
Đại học Sư phạm Thái Nguyên, bước đầu đã chỉ ra những đặc điểm và âm
hưởng của chủ nghĩa nữ quyền. Hay luận văn Nhân vật nữ trong sáng tác
của ba nhà văn nữ: Y Ban, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, của Nguyễn
Thị Hoa, Đại học Sư phạm Hà Nội đã cung cấp một cái nhìn khá đầy đủ về
các dạng nhân vật nữ trong sáng tác của các nhà văn nữ. Rồi luận văn Vấn đề
giới trong sáng tác của Y Ban, Lý Lan, Đỗ Hoàng Diệu, của Bùi Thị Thùy,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
Phong Lê nhận thấy: “Trong "Ngụ cư", Thùy Dương đã làm rõ lên một mảng
sống đô thị, với dấu ấn đặc trưng của nó, khiến ai là dân cư đô thị hôm nay đọc
vào cũng cứ thấy như là chuyện của mình và những người quanh mình” [21].
Theo nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: “ "Thức giấc" đọc hấp dẫn và
xúc động như một lối kể linh hoạt mà điềm đạm, nhờ một giọng điệu văn
chương gợi được xúc cảm và trầm tưởng, nhờ tính nữ và tính mẫu thấm đẫm
bên trong. Thức giấc sau một cơn mê ngủ. Thức giấc sau một thời lầm lạc.
Thức giấc sau những dối lừa, giả trá. Thức giấc sau những khổ đau. Thức
giấc sau những hạnh phúc. Thức giấc để biết mình còn biết đau, buồn, giận
dữ và yêu thương. Thức giấc để sống như một con người bình thường” [25]
Đó chính là thông điệp mà Thùy Dương muốn gửi đến người đọc trong cuốn
tiểu thuyết thứ hai của chị.
Theo Tô Hoàng - nhà văn TP HCM nhận xét: “Tình yêu non sông xứ sở,
tấm lòng nhân hậu, óc liên tưởng và trí tưởng mãnh liệt đã giúp cho ngòi bút
Thùy Dương viết nên những trang sách chân thực, đầy sức truyền cảm mà
đọc chúng, rất nhiều anh em cựu binh khi biết tôi quen với nữ nhà văn, đã
nhờ tôi chuyển tới chị lòng biết ơn sâu sắc”! Đọc tiểu thuyết Nhân gian của
Thùy Dương, vẫn nhận ra "một thế mạnh rất riêng, một dòng cảm xúc không
phải người viết nào cũng khơi nguồn được, một điều gì như một mảng hiện
thực đầy ám ảnh- dù ngổn ngang, bề bộn trăm điều phải quan tâm trong cuộc
sống hôm nay - nữ nhà văn cũng không thể gạt bỏ sang một bên" [16].
Bên cạnh đó Nhà văn Lê Minh Khuê cũng đánh giá: "Trong khi lối viết
của Y Ban là kể nhiều hơn tả, tỷ lệ chênh lệch giữa động từ và tính từ trong
tác phẩm của chị hẳn phải cao hơn nhiều so với bất cứ tác giả nào khác thì
lối viết của Thùy Dương nghiêng về phía nhẹ nhàng, trữ tình, từ trong giọng
kể đến từng câu văn. Tiểu thuyết "Nhân gian" của chị là câu chuyện đan xen
giữa chiến tranh và thời bình; là những giọng kể luân phiên giữa người sống

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
- Những phương diện nội dung và nghệ thuật thể hiện vấn đề giới trong tiểu
thuyết của Thùy Dương.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là Vấn đề giới trong tiểu thuyết của Thùy Dương
- Phạm vi nghiên cứu: Chúng tôi khảo sát 3 cuốn tiểu thuyết đạt giải của nhà
văn Thùy Dương và bước đầu tiếp cận cuốn tiểu thuyết sắp xuất bản, đó là:
Ngụ cư (2005), NXB Hội nhà văn
Thức giấc(2007), NXB Hội nhà văn
Nhân gian(2009), NXB Hội Nhà Văn và Công ty Hà Thế ấn hành
Chân trần (2013)
Ngoài ra chúng tôi cũng khảo sát thêm các tác phẩm của một số nhà văn nữ
khác để có thêm cái nhìn so sánh và tổng quát.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp hệ thống
Phương pháp hệ thống được vận dụng để xem xét các chi tiết, các vấn
đề, các phương diện của tác phẩm văn học trong tính chỉnh thể của nó. Vận
dụng phương pháp này, người viết sẽ xem xét được sáng tác của Thùy Dương
với những biểu hiện của vấn đề giới một cách hệ thống chứ không phải là
những vấn đề riêng biệt, lẻ tẻ.
5.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp này giúp người viết thấy được những đặc điểm riêng biệt
trong sáng tác của Thùy Dương so với các cây bút nữ Việt Nam đương đại khác.
5.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp này giúp chúng tôi tiếp cận và khảo sát trực tiếp văn bản,
phân tích trực tiếp những tác phẩm của Thùy Dương, từ đó khái quát, tổng
hợp những kết luận mang ý nghĩa khoa học.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1.1. Những vấn đề chung về giới
1.1.1. Khái niệm giới
Dưới góc nhìn sinh học, giới tính là thuật ngữ dùng để phân biệt sự
khác biệt về hình thể giữa hai mô hình cấu trúc: giới nam và giới nữ. Giới tính
là bẩm sinh và đồng nhất (nam và nữ khắp nơi trên thế giới đều có chức năng,
cơ quan sinh sản giống nhau) và không thể thay đổi được (giữa nam và nữ),
do các yếu tố sinh học quyết định. Chúng ta sinh ra là đàn ông hay đàn bà:
chúng ta không thể lựa chọn và không dễ thay đổi được điều đó. Tuy nhiên sự
khác biệt về hai giới có thể nhận thấy qua vóc dáng, hình thể, đặc biệt qua các
đặc điểm sinh học bên trong như về nhiễm sắc thể, cơ quan sinh dục và cấu
trúc não bộ.
Trong cuộc sống, nam và nữ đều tham gia vào mọi hoạt động của đời
sống xã hội. Tuy nhiên mức độ tham gia của nam và nữ trong các loại công
việc là khác nhau do những quan niệm, các chuẩn mực xã hội quy định. Căn
cứ vào đặc điểm về mặt sinh học thì cấu trúc não bộ thường được đề cập đến
như một nguyên nhân chủ yếu. Theo các nhà khoa học, não bộ của nam giới
lớn hơn não bộ của nữ giới đến 8%. Mặc dù cấu tạo như vậy song kích thước
này không ảnh hưởng đến khả năng nhận thức của hai giới. Não của nam giới
lớn hơn tương ứng với vóc dáng to lớn của họ. Đặc biệt ở nam giới não trái
thường làm việc tích cực và phát triển hơn, còn ở nữ giới là não phải. Vì vậy,
khả năng phân tích, khái quát vấn đề được xem là điểm mạnh của nam giới.
Còn ở nữ giới với chức năng đảm nhiệm của não phải thì họ lại ghi nhớ được
những việc lẻ tẻ, chi tiết và thiên về cảm xúc. Khi tiếp nhận tín hiệu từ một

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
đối tượng, đại não nam giới thường chịu tác động một mặt còn nữ giới là hai
mặt. Chính những đặc điểm này khiến nữ giới có thể làm nhiều việc một lúc
còn nam giới thì làm việc tập trung hơn. Vì vậy nam giới thường làm việc ở
những vị trí cần sự khái quát, phân tích, còn phụ nữ ưu tiên với những công

đồng nghĩa với việc phụ nữ có rất ít cơ hội để tham gia các hoạt động cộng
đồng. Trong phân công lao động gia đình có tới 65,5% ý kiến khẳng định,
công việc nội trợ và chăm sóc con cái hoàn toàn do phụ nữ đảm nhiệm. Người
đàn ông được dành thời gian để lo những việc chính, tham gia công tác xã
hội…Sở dĩ có sự bất bình đẳng này là do việc nam giới luôn được ưu tiên cho
việc học tập cũng như tham gia các hoạt động xã hội.
Như vậy tâm lý học và xã hội học đã chỉ ra rằng sự khác biệt về giới có
nguồn gốc từ những quan niệm, văn hóa, xã hội và môi trường sống. Quan
điểm này được các nhà nữ quyền luận hưởng ứng. Simone de Beauvoir cho
rằng "Người ta không sinh ra là đàn bà, người ta trở thành đàn bà dưới ảnh
hưởng giáo dục phụ quyền chế". Bourdieu cho rằng điều đó cũng đúng cho
đàn ông "Người ta không sinh ra là đàn ông, người ta trở thành đàn ông" và
xuyên qua cả một nền giáo dục, người đàn ông đã đảm được chức năng chế
ngự xã hội. Chức năng chế ngự này còn được thể hiện ở trong lĩnh vực văn
hóa tinh thần mà văn học là một hình thái ý thức xã hội tiêu biểu.
Khi nói về giới trong sáng tác văn học là nói tới một khái niệm không
đồng nhất với văn học nữ quyền. Văn học nữ quyền (chủ nghĩa nữ quyền) "là
suy nghĩ về sự bình đẳng của hai phái trong xã hội và sự phản đối có tổ chức
đối với chế độ gia trưởng và phân biệt đối xử giống phái. Chủ nghĩa nữ quyền
không thừa nhận mẫu văn hóa chia khả năng của con người thành đặc điểm
nam tính và nữ tính và tìm cách xóa bỏ sự bất lợi trong xã hội mà phái nữ
thường gặp". Nói như vậy, văn học nữ quyền được hiểu như một dòng văn
học dấn thân, đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ và viết lên cũng vì phụ nữ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Còn khi nói về giới trong sáng tác văn học là đề cập đến một vấn đề rộng hơn
vấn đề nữ quyền, đó là sự tương quan giữa giới nam và nữ trong sáng tác văn
chương, những ưu thế của từng giới trong sáng tác. Tuy nhiên, trong quá trình
phát triển, lịch sử đã ghi nhận sáng tác của nam giới, còn sáng tác của nữ giới

or the Right of Women (Một biện minh cho quyền của phụ nữ) ra đời năm
1972. Đây là một trong những công trình đầu tiên của triết học nữ quyền.
Trong đó, Wollstonecraft lập luận rằng phụ nữ nên có một nền giáo dục tương
xứng với vị trí của họ trong xã hội. Phụ nữ là rất cần thiết cho quốc gia bởi vì
họ giáo dục con của họ và họ có thể đồng hành cùng với chồng. Như vậy, phụ
nữ xứng đáng được hưởng các quyền cơ bản như nam giới. Tiếp đến là
Virgina Woolf (1882 - 1991) với tập bút ký Căn phòng riêng (A room of
one's own, 1929), bà được xem là cây bút đầu tiên chạm đến vấn đề nữ quyền
trong văn học. Theo bà, một phụ nữ muốn sáng tác phải có một căn phòng
cho riêng mình và không bị phụ thuộc vào nam giới.
Với quyển sách vĩ đại Giới nữ còn được dịch là Giới thứ hai (The
second sex), xuất bản 1949, thì Simone de Beauvoir (1908 - 1986) đã tiến
hành một cuộc cách mạng lớn: đặt phụ nữ trong tất cả các phương diện: văn
hóa, lịch sử, tôn giáo để phơi bày đời sống của phụ nữ đã bị uốn nắn sao
cho phù hợp với khuôn mẫu mà xã hội nam quyền đặt ra. Bà kết luận rằng vấn
đề bất bình đẳng nam nữ không do tự nhiên quyết định mà là một vấn đề văn
hóa: "Không phải với cơ thể sinh học, mà với cơ thể sinh học gắn chặt với
những điều cấm kị, những luật lệ mà chủ thể ý thức về bản thân và tự hoàn
thiện: chính dựa trên những giá trị mà cá nhân nâng cao phẩm cách" Vì vậy
mà " Người ta sinh ra không phải là phụ nữ mà trở thành phụ nữ" [17].
Đến những thập niên 60, 70 của thế kỷ XX, văn học nữ quyền bắt đầu
khẳng định vị thế của mình. Từ giữa thập niên 1970, những công trình nghiên
cứu mang tính lý luận về giới đã đem lại một định nghĩa cho thuật ngữ phê
bình văn học Nữ quyền. Trên thế giới xuất hiện hàng loạt các tên tuổi lớn của

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
phê bình văn học nữ quyền như: Mary Jacobus, Rosalind Coward của Anh,
hay Hélène Cixous và Julia Kristéva của Pháp. Lúc này đời sống văn chương
thế giới cũng xôn xao hơn bởi sự xuất hiện ngày càng nhiều của các tác giả nữ.

người phụ nữ dù có xinh đẹp, giỏi giang nhưng thân phận luôn bị phụ thuộc
vào nam giới. Thân phận người phụ nữ với số kiếp đáng thương được trở đi
trở lại trong ca dao, truyện cổ tích hay những tác phẩm lớn như Truyện Kiều,
Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc,…đã cho thấy thân phận bé nhỏ,
lệ thuộc của người phụ nữ trong xã hội. Ở thời kỳ này, vấn đề giới chưa có cơ
hội để xuất hiện dù đã tồn tại một hiện tượng hiếm hoi như Hồ Xuân Hương với
ý thức khẳng định tài năng, chống lại định kiến của xã hội. Hồ Xuân Hương đã
không ngần ngại khi chế giễu đàn ông rồi khẳng định tài năng của mình:
"Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?"
Câu thơ trên cho thấy tác giả khát vọng làm nên một sự nghiệp lớn, khát vọng
muốn thay đổi thân phận, địa vị xã hội để thi thố tài năng, lập nên sự nghiệp
anh hùng. Hồ Xuân Hương đã ý thức được về quyền lợi và khả năng của nữ
giới đặt ra trong sự tương quan so với nam giới. Tác giả ý thức được vậy,
song đây vẫn là một lời chấp nhận đầy chua chát: chỉ có đàn ông mới làm nên
sự nghiệp anh hùng.
Vốn âm ỉ đã lâu, nhưng phải đến đầu thế kỷ XX, dưới sự ảnh hưởng
mạnh mẽ của văn học phương Tây, ý thức về giới mới được manh nha ở một
bộ phận sáng tác nữ. Đây được đánh giá là giai đoạn nữ quyền Việt Nam phát
triển tương đối sôi nổi mà tiêu biểu là Phan Khôi và Nguyễn Thị Khiêm. Sự
xuất hiện đông đảo của các cây bút nữ những năm ba mươi của thế kỷ XX đã
đưa phong trào của nữ quyền Việt Nam trỗi dậy. Các cây bút nữ xuất hiện với
nhiều dáng vẻ, nhiều giọng điệu khác nhau. Họ góp gương mặt mình trong
các lĩnh vực sáng tác thơ ca và tiểu thuyết, nắm bắt nhịp phát triển mới mẻ,

Trích đoạn Khát vọng hạnh phúc Khát vọng bình đẳng giới Khái niệm nhân vật Nhân vật cô đơn Nhân vật tự ý thức
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status