BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN VIỆT GIANG NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO
LAO ĐỘNG Ở VÙNG CÓ ĐẤT ĐƯỢC THU HỒI
XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP VÀ ĐÔ THỊ
THUỘC THÀNH PHỐ BẮC NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60 31 10 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. ĐỖ KIM CHUNG
Hµ néi - 2012
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. i
Tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới Viện sau Đại học Trường
Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Tỉnh uỷ - HĐND - UBND Tỉnh Bắc Ninh, Sở Lao
động - Thương binh và Xã hội Tỉnh; Thành uỷ - HĐND - UBND Thành phố Bắc
Ninh và các thày, cô giáo đã đào tạo giúp đỡ, cung cấp tài liệu giúp đỡ, hỗ trợ
tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu. Đặc biệt là GS.TS Đỗ Kim Chung đã
trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, viết và
hoàn thiện luận văn.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các tập thể, cá nhân, bạn bè và gia đình
đã quan tâm và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và viết luận văn này.
Hà Nội, tháng 05 năm 2012
TÁC GIẢ Nguyễn Việt Giang
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. iii
DANH MỤC VIẾT TẮT
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục viết tắt iii
Mục lục iv
Danh mục các bảng vii
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI PHÁP
TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG Ở VÙNG CÓ ĐẤT ĐƯỢC
THU HỒI CHO XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP VÀ ĐÔ THỊ 4
2.1 Cơ sở lý luận về giải pháp tạo việc làm cho lao động ở vùng có đất
được thu hồi cho xây dựng khu công nghiệp và đô thị 4
2.1.1 Khái niệm “giải pháp tạo việc làm” cho lao động vùng có đất được thu
hồi cho xây dựng khu công nghiệp và đô thị? 4
2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan 36
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 37
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 38
3.2 Phương pháp nghiên cứu 42
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 43
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 43
3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 44
3.2.4 Phương pháp phân tích 44
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 44
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45
4.1 Thực trạng các giải pháp tạo việc làm cho lao động ở vùng có đất
được thu hồi ở thành phố Bắc Ninh 45
4.1.1 Thực trạng đào tạo nghề cho lao động ở vùng có đất được thu hồi ở
thành phố Bắc Ninh 45
4.1.2 Yêu cầu các doanh nghiệp, chủ dự án sử dụng đất được thu phải tuyển
4.2.4 Nhân tố ảnh hưởng đến giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng hàng hóa ở thành phố Bắc Ninh 77
4.2.5 Nhân tố ảnh hưởng đến giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu lao động 79
4.2.6 Nhân tố ảnh hưởng đến giải pháp hỗ trợ trực tiếp cho người lao động 80
4.2.7 Nhân tố ảnh hưởng đến giải pháp giữ nguyên nghề cũ 82
4.3 Định hướng hoàn thiện các giải pháp tạo việc làm cho lao động ở
vùng có đất được thu hồi ở thành phố Bắc Ninh trong những năm tới 83
4.3.1 Định hướng hoàn thiện giải pháp tạo việc làm cho lao động ở vùng có
đất được thu hồi ở thành phố Bắc Ninh theo sáu nhân tố ảnh hưởng 83
4.3.2 Định hướng hoàn thiện bảy giải pháp tạo việc làm cho lao động ở
vùng có đất được thu hồi ở thành phố Bắc Ninh 89
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96
5.1 Kết luận 96
5.2 Kiến nghị 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ……………………….
người lao động trước và sau khi bàn giao đất ở các hộ điều tra 61
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. viii
4.9 Kết quả lao động có việc làm từ giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu
lao động ở thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2007 - 2010 64
4.10 Kết quả lao động có việc làm từ giải pháp hỗ trợ trực tiếp cho
người lao động ở thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2007 - 2010 67
4.11 Kết quả lao động có việc làm từ giải giữ nguyên nghề cũ ở thành
phố Bắc Ninh 4 năm 2007 - 2010 69
4.12 Ý kiến của lao động về các giải pháp đã thực hiện trên địa bàn
thành phố Bắc Ninh đến năm 2010 72 Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. 1
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết việc làm cho người lao động giúp họ ổn định đời sống đó
là vấn đề cốt yếu để đảm bảo sự phát triển bền vững của bất kỳ một quốc gia,
một chế độ chính trị nào. Ở Việt Nam, kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới
Hải Phòng - Quảng Ninh, Bắc Ninh đang phấn đấu trở thành đô thị loại II trước
năm 2015. Một trong những vấn đề được Đảng bộ và chính quyền thành phố
quan tâm là việc làm cho người lao động không có việc làm, do được thu hồi đất
cho xây dựng KCN và đô thị, tồn đọng từ năm 2010 trở về trước và từ năm 2011
đến 2015. Đó là một nhiệm vụ hết sức cấp bách, đảm bảo ổn định tình hình kinh
tế - xã hội; an ninh ở địa phương và góp phần sớm đưa thành phố Bắc Ninh đạt mục
tiêu trở thành đô thị loại II trước năm 2015.
Mặc dù, tỉnh và thành phố đã có nhiều giải pháp về việc làm cho người lao
động, nhưng khi đưa vào thực tế thì còn nhiều điều chưa thực sự phù hợp và chưa
mang lại hiệu quả như mong muốn. Việc nghiên cứu giải pháp tạo việc làm cho
nông dân ở vùng có đất được thu hồi cho xây dựng KCN và đô thị có ý nghĩa thiết
thực cả về lý luận và thực tiễn.
Khi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu giải pháp tạo việc làm cho lao động ở
vùng có đất được thu hồi xây dựng khu công nghiệp và đô thị thuộc thành phố
Bắc Ninh”, tác giả mong muốn góp một hướng đi hiệu quả và thiết thực trong giải
quyết việc làm cho lao động vùng được thu hồi đất cho xây dựng KCN và đô thị ở
Thành phố Bắc Ninh.
Đồng thời, những kết quả nghiên cứu của đề tài cũng sẽ là một tài liệu tham
khảo hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách việc làm ở địa phương trong thời
gian tới đây.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng và đề xuất hoàn thiện một số giải pháp nhằm tạo việc
làm cho người lao động ở vùng có đất được thu hồi cho xây dựng khu công nghiệp
và đô thị thuộc thành phố Bắc Ninh.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến việc làm cho
lao động vùng thu hồi đất xây dựng khu công nghiệp và đô thị;
- Đánh giá tình hình thực hiện các giải pháp tạo việc làm cho lao động
vùng có đất được thu hồi cho xây dựng khu công nghiệp và đô thị hóa thuộc
4
PHẦN 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG Ở VÙNG CÓ ĐẤT ĐƯỢC
THU HỒI CHO XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP VÀ ĐÔ THỊ
2.1 Cơ sở lý luận về giải pháp tạo việc làm cho lao động ở vùng có đất được thu
hồi cho xây dựng khu công nghiệp và đô thị
2.1.1 Khái niệm “giải pháp tạo việc làm” cho lao động vùng có đất được thu hồi
cho xây dựng khu công nghiệp và đô thị?
- Giải pháp: Là biện pháp, cách giải quyết một vấn đề khó khăn (Từ điển
Wikipedia).
- Việc làm: là “Công việc được giao cho làm và được trả công” (Từ điển
tiếng Việt). Điều 13, Chương 2 của Bộ luật Lao động nước ta được Quốc hội thông
qua ngày 23/6/1994 đã đưa ra định nghĩa về Việc làm như sau: Mọi hoạt động lao
động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc
làm. Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ
hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội.
Từ những khái niệm về “việc làm” và “giải pháp” nêu trên, chúng tôi đưa
ra khái niệm về “giải pháp việc làm” và “giải pháp tạo việc làm cho lao động ở
vùng có đất được thu hồi cho xây dựng KCN và đô thị” như sau:
- Giải pháp việc làm: Chính là tìm ra các biện pháp, cách thức giải quyết vấn đề
việc làm cho người lao động; để người lao động có việc làm và tăng thu nhập, phù hợp
với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội.
- Giải pháp tạo việc làm cho lao động ở vùng có đất được thu hồi cho xây
dựng khu công nghiệp và đô thị: Là tìm ra các biện pháp, cách thức giải quyết vấn
đề việc làm cho lao động ở khu vực được thu hồi đất, phục vụ cho xây dựng KCN
và đô thị. Các giải pháp tạo việc làm đó phải phù hợp với đối tượng đặc thù ở khu
vực này (ở nhiều lứa tuổi, trình độ khác nhau). Mặt khác, các giải pháp đó cũng
phải phát huy được hiệu quả ở một địa bàn có tính đặc thù (điều kiện cư trú, điều
dư thừa lao động, lao động nông nhàn gia tăng theo mỗi năm. Thực tế đó, cần có
những giải pháp cấp bách và kịp thời để ổn định cuộc sống của người lao động ở
vùng có đất được thu hồi.
Vai trò của giải pháp việc làm cho lao động vùng nông thôn đô thị hóa biểu
hiện trên các mặt sau:
* Phát triển kinh tế:
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. 6
- Giải quyết được việc làm cho lao động nhàn rỗi, lao động dôi dư có việc làm
thường xuyên, thu nhập ổn định trong các doanh nghiệp, góp phần phát triển kinh tế
địa phương, giảm người thất nghiệp trong nông thôn, góp phần nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần của người lao động tại địa phương.
- Tăng thu ngân sách cho địa phương, thông qua các loại thuế và phí doanh
nghiệp đóng góp.
- Tạo nguồn thu nhập ổn định cho một bộ phận người lao động trong khu
vực phi nông nghiệp, dịch vụ hoặc vùng chuyên canh, thâm canh
* Về xã hội
- Việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng hàng hóa, dịch vụ
làm cho đời sống của người lao động ngày càng được cải thiện. Đó chính là đòn bẩy
để phát triển kinh tế xã hội địa phương, góp phần ổn định xã hội ở vùng có đất được
thu hồi, giảm áp lực hỗ trợ từ chính quyền địa phương.
- Đào tạo nghề cho các đối tượng, giúp người lao động được tiếp cận với các
loại hình đào tạo, được đào tạo nghề, được trang bị kiến thức kỹ thuật, tìm được
việc làm sau đào tạo đã mang lại tâm lý thoải mái, tự tin hơn trong cuộc sống. Tạo
điều kiện cho các tổ chức xã hội như: Phụ nữ, Thanh niên, hội Nông dân hoạt động
tốt hơn.
- Có việc làm, thu nhập và trình độ của người lao động được nâng lên sẽ góp
các trung tâm dịch vụ, các khu đô thị mới đã nâng giá trị sử dụng của đất đai, tạo
những ngành nghề và việc làm mới, nâng cao giá trị lao động, tạo môi trường ứng
dụng rộng rãi khoa học, công nghệ… Tuy nhiên, do những khó khăn của bản thân
nền kinh tế đất nước đang trong quá trình chuyển đổi và những hạn chế chủ quan
trong quản lý, điều hành, công nghiệp hóa, đô thị hoá ở Việt Nam còn nhiều mặt bất
cập, đang phát sinh những vấn đề bức xúc liên quan đến nông nghiệp, nông thôn,
nông dân cần được nhận thức đúng đắn và giải quyết hiệu quả. Trong nhiều vấn đề
nảy sinh từ thực tiễn công nghiệp hóa và đô thị hoá, có thể nhấn mạnh một số điểm
nổi bật như sau:
Thứ nhất, nóng bỏng vấn đề qui hoạch, quản lý và sử dụng đất đai nông
nghiệp:
Để thu hút các nguồn vốn, công nghệ phục vụ yêu cầu đẩy mạnh công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, những năm qua, Nhà nước và chính quyền các
địa phương đã thực hiện chính sách mở, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư
trong việc tìm kiếm, chọn lựa địa điểm sản xuất, kinh doanh. Bình quân hàng năm
có khoảng 10 vạn ha đất nông nghiệp được thu hồi phục vụ xây dựng các khu công
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. 8
nghiệp, dịch vụ, đường giao thông, khu dân cư; khoảng 50% diện tích đất nông
nghiệp thu hồi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, trong đó, 80% thuộc loại đất
màu mỡ cho 2 vụ lúa/năm. Sự dễ dãi và cả sự yếu kém trong qui hoạch, kế hoạch
quản lý, sử dụng đã cùng với tư tưởng chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt đã đưa tới
tình trạng sử dụng đất tuỳ tiện, lãng phí. Hầu hết các khu công nghiệp, dịch vụ, dân
cư… đều bám dọc các quốc lộ huyết mạch, các vùng nông thôn trù phú. Hệ quả là,
hàng chục vạn ha đất - bao đời nay là tư liệu sản xuất quan trọng và quí giá nhất của
người nông dân, nền tảng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia - đã bị sử dụng phí
phạm, tác động mạnh đến công ăn việc làm, thu nhập và đời sống của hàng chục
nghiệp, dịch vụ trên địa bàn nông thôn chưa đủ sức tạo nhiều việc làm mới để thu
hút lực lượng lao động nông nghiệp còn rất tiềm tàng. Ngoài một bộ phận không
nhiều được tuyển vào các doanh nghiệp trên địa bàn hoặc đi kiếm việc làm ở các đô
thị, các khu công nghiệp lớn, phần đông lao động vẫn đang bị ùn đọng trong khu
vực nông nghiệp, nông thôn. Một bộ phận lao động tiếp tục sản xuất nông nghiệp
trong điều kiện diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp, một bộ phận chuyển sang
các hoạt động phi nông nghiệp giản đơn, theo cơ chế thoả thuận. Thực trạng này
chứng tỏ quá trình công nghiệp hóa, đô thị hoá chưa gắn kết và tác động mạnh mẽ
đến nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Tình trạng thiếu việc làm, dư thừa lao động;
sự phân hoá thu nhập và những khó khăn về đời sống của người nông dân, phần lớn
có nguyên nhân từ đây.
Thứ tư, sự phân tán, chia cắt trong qui hoạch, tổ chức không gian đô thị
Qui hoạch nói chung, qui hoạch đô thị nói riêng là một khoa học tổng hợp,
đòi hỏi phải có sự tiếp cận liên ngành với một tầm nhìn xa rộng, sự tính toán chặt
chẽ, chính xác nhằm giải quyết hài hoà các mối quan hệ giữa tổng thể (nhìn trên
phạm vi quốc gia) với bộ phận (vùng, địa phương); giữa không gian đô thị với
không gian nông thôn; giữa không gian kiến trúc với cảnh quan môi trường Qui
hoạch và tổ chức không gian đô thị là kết tinh tầm văn hoá, triết lý văn hoá và khoa
học, nghệ thuật phân bố các nguồn lực quốc gia.
So với một, hai thập niên đầu kiến thiết đất nước sau khi Tổ quốc thống
nhất, trình độ qui hoạch và tổ chức không gian đô thị ở Việt Nam những năm
cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI có một bước tiến đáng kể, cả về qui hoạch
chung, qui hoạch ngành, qui hoạch chi tiết - nhìn trên phạm vi toàn quốc, phạm
vi vùng và từng địa phương. Tuy nhiên, đối chiếu với yêu cầu phát triển toàn
diện đất nước và so sánh với trình độ qui hoạch, tổ chức không gian đô thị của
nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, công tác qui hoạch, tổ chức thực
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. 10
Nông thôn Việt Nam là chiếc nôi sản sinh, nuôi dưỡng, bảo vệ văn hoá dân
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. 11
tộc ngàn năm. Những năm qua, một số yếu tố tiến bộ của văn hoá đô thị đã lan toả
về nông thôn, tạo nên những sắc thái mới trong đời sống, sinh hoạt tinh thần của
người nông dân và cộng đồng làng xã. Nhiều loại hình, giá trị văn hoá ở nông thôn
cũng được giới thiệu rộng rãi, thuận lợi hơn ở các đô thị. Đó là mặt thuận. Mặt chưa
thuận là, do thiếu chuẩn bị, thiếu định hướng, chọn lọc và do cả những bất cập trong
công tác qui hoạch, quản lý văn hoá, không ít những yếu tố phi văn hoá, phản văn
hoá, từ đô thị và từ các phương tiện truyền thông, đặc biệt từ internet, đã thâm nhập
vào đời sống nông thôn, đưa tới những vấn nạn xã hội đáng suy nghĩ.
Theo nhiều ngả đường, một số sản phẩm, loại hình được gọi là văn hoá, văn
học, nghệ thuật, một số quan niệm, lối sống, cách ứng xử, làm ăn không phù hợp,
thậm chí trái ngược, đối lập với thuần phong mỹ tục, với những giá trị tốt đẹp đã lan
về thôn quê chúng thâm nhập và làm tha hoá một bộ phận cư dân nông thôn, đặc
biệt là giới trẻ; làm vẩn đục môi trường văn hoá, xã hội; bào mòn và làm rạn nứt
quan hệ tương thân, tương ái, đồng thuận và thuần phác trong cộng đồng nông thôn.
Từ một phương diện khác, nông nghiệp, nông thôn là địa bàn đang phải hứng
chịu những hậu quả về môi trường. Việc sử dụng không hợp lý, lãng phí quỹ đất
canh tác; tình trạng san lấp, lấn chiếm ao hồ, sông, suối, các công trình thuỷ lợi; nạn
đốt phá rừng, khai thác khoáng sản tuỳ tiện cùng với sự yếu kém trong xử lí nước
thải, rác thải, bụi, khói, tiếng ồn đang làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, phá vỡ
hệ sinh thái, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, cảnh
quan nông thôn, đời sống và sức khoẻ của nông dân, giảm thiểu khả năng đề kháng,
thậm chí làm trầm trọng thêm những tai biến của tự nhiên.
Những nghịch lý, mâu thuẫn, thách thức nêu trên và những hệ luỵ của chúng là có
thật, đang từng ngày diễn ra trong quá trình đô thị hoá, từng giờ tác động đến nông nghiệp,
bảo vệ môi trường.
- Qui hoạch sản xuất nông nghiệp toàn diện, theo hướng hiện đại gắn với nhu
cầu thị trường và phù hợp với lợi thế từng vùng; qui hoạch sử dụng tiết kiệm có
hiệu quả đất nông nghiệp, nhất là đất canh tác; duy trì diện tích đất lúa bảo đảm
vững chắc an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài.
- Kết gắn qui hoạch sản xuất nông nghiệp với qui hoạch phát triển công
nghiệp, dịch vụ trên địa bàn nông thôn; tăng cường thu hút các doanh nghiệp đầu tư
vào lĩnh vực nông nghiệp, tạo thêm nhiều việc làm mới, giải quyết nhu cầu lao động
tại chỗ và nâng cao thu nhập của nông dân, tạo điều kiện để người nông dân chuyển
nghề nhưng vẫn gắn bó với quê hương, hạn chế dòng chuyển cư tự phát đổ về các
thành phố lớn.
- Khớp nối kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp, dịch vụ, các khu đô thị mới
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. 13
với kết cấu hạ tầng nông thôn theo một qui hoạch phát triển toàn diện, tổng thể;
triển khai mạnh chương trình xây dựng nông thôn mới; hình thành các khu dân cư
đô thị hoá với kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, trước hết là thuỷ lợi, đường
giao thông, điện, nước sạch, trường học, cơ sở y tế, bưu điện, nhà văn hoá - thể
thao, chợ…
- Chú trọng qui hoạch môi trường; hình thành hệ thống thu gom, xử ly rác
nước thải, phế thải; hạn chế tiến tới khắc phục tình trạng ô nhiễm đất, nguồn nước,
không khí; bảo vệ, nuôi dưỡng hệ sinh thái và gìn giữ tài nguyên, cảnh quan thiên
nhiên; tăng cường sức đề kháng và khả năng phòng chống thiên tai, dịch bệnh.
- Tiến hành đô thị hóa gắn liền với phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ
sở và cộng đồng làng xã, đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hóa.
- Khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự chủ, tự lực tự cường
phương
b. Yêu cầu chủ doanh nghiệp, chủ dự án sử dụng lao động địa phương
- Yêu cầu các doanh nghiệp trên địa bàn sử dụng đất được thu hồi cam kết
nhận lao động địa phương theo nhu cầu tuyển dụng vào các vị trí thích hợp trong
doanh nghiệp
- Có chính sách thu hút doanh nghiệp thực hiện cam kết
- Chính quyền địa phương cần tích cực phối kết hợp để giám sát việc doanh
nghiệp tuyển dụng lao động địa phương
c. Giải pháp cấp đất giãn dân, đất dịch vụ
- Căn cứ nguồn đất dự trữ của địa phương và xét duyệt yêu cầu của người
dân để cấp đất giãn dân thích hợp
- Mở rộng dịch vụ trên đất được cấp để đẩy mạnh phát triển các dịch vụ
d. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hàng hóa
- Chuyển dich cơ cấu ngành từ nông nghiệp sang công nghiệp qua các năm
- Tích cực đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng
hàng hóa, chuyên môn hóa và nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi
e. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động
- Hỗ trợ các trung tâm giới thiệu việc làm ra nước ngoài
- Thực hiện chế độ hỗ trợ đối với các hộ gia đình có nhu cầu xuất khẩu lao động
f. Hỗ trợ trực tiếp người lao động
- Thực hiện hỗ trợ sản xuất nông nghiệp theo quy định của nhà nước về vốn,
vật tư nông nghiệp sản xuất
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế ………………………. 15
- Nâng cao nhận thức của người dân về trình độ kỹ thuật
g. Giữ nguyên nghề cũ
- Đẩy mạnh đào tạo nghề kế cận trong các làng nghề
16
Phải đặt từng giải pháp trong bối cảnh hiện tại của quốc tế, quốc gia và địa
phương để xem xét những giải pháp đó có còn phù hợp và có tính khả thi hay không?
Toàn cầu hóa đặt ra những cơ hội, song cũng đặt ra những thách thức lớn
đối với tình trạng việc làm ở tất cả các nước. Nhiều yêu cầu mới cho các công
việc mới mà nhiều lao động chưa có khả năng đáp ứng. Số lượng việc làm ở
khu vực này, ở ngành này tăng lên, nhưng lại giảm đi ở khu vực khác, ngành
khác. Một số loại việc làm sẽ mất đi, nhưng một số việc mới lại xuất hiện.
Những biến đổi về quy mô và cơ cấu việc làm sẽ gây không ít khó khăn cho
bản thân người lao động và xã hội. Do mất việc làm, người lao động phải tìm chỗ
việc làm mới, phải học tập kiến thức, kỹ năng nghề mới, phải di chuyển đi nơi khác
để tìm việc mới. Điều đó cũng sẽ tạo ra gánh nặng cho Chính phủ về đào tạo lại, trợ
cấp xã hội, trợ cấp thất nghiệp.
Nhóm giải pháp đó có phù hợp với điều kiện của địa phương đang thực
hiện hay không? Phù hợp với đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước và được sự hỗ trợ tích cực từ các ban ngành có liên quan hay không?
+ Các chính sách khuyến khích phát triển các ngành, lĩnh vực, hình thức,
vùng, miền có khả năng thu hút nhiều lao động như: chính sách phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ, chính sách phát triển khu vực kinh tế không chính thức, chính
sách di dân và phát triển vùng kinh tế mới, chính sách đưa lao động đi làm việc có
thời hạn ở nước ngoài, chính sách khôi phục và phát triển làng nghề …
+ Các chính sách liên quan đến những vấn đề thuộc về tổ chức sản xuất, kinh
doanh như: tạo môi trường pháp lý, vốn, lựa chọn và chuyển giao công nghệ, xây
dựng cơ sở hạ tầng, thị trường tiêu thụ sản phẩm…
+ Các chính sách tạo việc làm cho các đối tượng là người có công như:
thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ; đối tượng yếu thế như người nghèo, người
tàn tật…
Với lao động nông nghiệp, nông thôn chất lượng thường thấp hơn so với lao
động thành thị. Phần đông lao động nông thôn không được đào tạo nghề. Trình độ