Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ HOÀI NAM ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG
MÔI TRƢỜNG TẠI MỎ THAN KHÁNH HÕA,
TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Khoa học môi trƣờng
Mã số: 60440301 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS. TS NGUYỄN KHẮC THÁI SƠN
Thái Nguyên - 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
3
Ngoài những lợi ích do ngành công nghiệp khai thác chế biến than
mang lại cho địa phƣơng Thái Nguyên thì những tác động đến môi trƣờng
hiện nay không nhỏ: Vấn đề sạt lở bãi thải, hạ thấp mực nƣớc ngầm, ô nhiễm
môi trƣờng không khí, làm bẩn nguồn nƣớc tƣới tiêu đang ngày càng gây
bức xúc trong nhân dân. Do vậy việc đánh giá hiện trạng môi trƣờng trong
hoạt động khai thác than trên địa bàn Thái Nguyên là cần thiết, trên cơ sở đó
cần đề ra những biện pháp quản lý môi trƣờng nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ
môi trƣờng tại Thái Nguyên.
Xuất phát từ thực tế trên, đƣợc sự hƣớng dẫn của thầy giáo PGS.TS.
Nguyễn Khắc Thái Sơn tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng
môi trường Mỏ than Khánh Hòa, tỉnh Thái Nguyên”.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
.
- thực trạng công tác quản lý môi trƣờng tại M
Khánh Hòa, tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá đƣợc hiện trạng môi trƣờng đất, nƣớc, không khí tại khu
vực Mỏ than Khánh Hòa, tỉnh Thái Nguyên.
- của tại M , tỉnh
Thái Nguyên .
- và
Mỏ than Khánh Hòa,
tỉnh Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
5
đƣợc sử dụng rộng rãi, nhất là làm nhiên liệu cho các nhà máy điện vì nó sinh
ra nhiệt lƣợng cao.
- Sau vài triệu năm hay lâu hơn nữa, than bitum mới bắt đầu chuyển
thành anthracite, hay còn gọi là than đá. Đây là dạng than đƣợc ƣa chuộng
nhất bởi nó cứng, đặc, chứa hàm lƣợng cacbon cao nhất trong các loại than.
Do đó, khi đốt anthracite cho nhiệt lƣợng cao nhất. Ngoài ra, vì hàm lƣợng
lƣu huỳnh thấp nên than cứng còn là dạng than ít gây ô nhiễm và sạch nhất.
Nhƣ vậy có thể thấy than đƣợc phân làm ba loại chính:
- Than nâu - lignite
- Than chứa dầu - bituminuos coal
- Than đá - anthracite
1.1.2. Cơ sở pháp lý của đề tài
- Luật Bảo vệ môi trƣờng đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005.
- Luật Khoáng sản đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010.
- Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản do Quốc hội
nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14 tháng 06 năm
2005.
- Luật Tài nguyên nƣớc do Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua ngày 21 tháng 06 năm 2012.
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của chính
phủ về việc quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo
vệ môi trƣờng.
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Chính
phủ về Sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày
09 tháng 08 năm 2006.
Khai thác than: hàng năm có khoảng hơn 4.030 triệu tấn than đƣợc
khai thác, con số này đã tăng 38% trong vòng 20 năm qua. Sản lƣợng khai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
7
thác tăng nhanh nhất ở châu Á, trong khi đó châu Âu khai thác với tốc độ
giảm dần.
Các nƣớc khai thác nhiều nhất không tập trung trên một châu lục mà
nằm rải rác trên thế giới, 5 nƣớc khai thác lớn nhất hiện nay là: Trung
Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Öc và Nam Phi, hầu hết các nƣớc khai thác than cho
nhu cầu tiêu dùng nội địa, chỉ có khoảng 18% than cứng dành cho thị
trƣờng xuất khẩu.
Lƣợng than khai thác đƣợc dự báo tới năm 2030 vào khoảng 7 tỷ tấn,
với Trung Quốc chiếm khoảng hơn một nửa sản lƣợng.
Thống kê từ năm 2003 đến hết năm 2007, sản lƣợng khai thác than
bình quân trên thế giới tăng khoảng 3,33%/năm, nhƣng nhu cầu sử dụng
than tăng khoảng 4,46%/năm, đặc biệt khu vực châu Á và Australia có tốc
độ tăng nhu cầu sử dụng than tới 7,03%/năm. Điều này chứng tỏ, nhu cầu
sử dụng than ngày càng tăng lên, trong khi trữ lƣợng khai thác giảm
dần trong những năm vừa qua (bình quân 6,77%/năm trong giai đoạn
2003 - 2007). Hình 1.1. Biểu đồ sản lƣợng than khai thác 10 quốc gia đứng đầu thế giới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
8
Nguồn: [22]
khẩu tới hàng chục triệu tấn. Việt Nam dự kiến từng bƣớc cắt giảm xuất
khẩu than để đáp ứng nhu cầu trong nƣớc ngày càng cao [28]. Cơ cấu của
ngành khai thác than Việt Nam đã trải qua những thay đổi đáng kể từ năm
2000. Trong suốt thời kỳ thuộc địa cho đến năm 1995, khai thác than là
độc quyền của nhà nƣớc. Năm 1995, tổng công ty Than Việt Nam đƣợc
thành lập, đến nay là Tập đoàn than và khoáng sản Việt Nam - một tập
đoàn do nhà nƣớc là chủ sở hữu. Bên cạnh Vinacomin, còn có các đơn vị
khác tham gia khai thác than nhƣ Indovina Coal hoạt động ở Uông Bí,
Quân khu I ở Cẩm Phả, các công ty khai thác than ở Thái Nguyên, Điện
Biên, mỏ Quảng Nam và nhiều nơi khác [33].
Trên lãnh thổ Việt Nam, than đƣợc phân bố theo các khu vực:
Bể than Antraxit Quảng Ninh: Nằm về phía Đông Bắc Việt Nam,
kéo dài từ Phả Lại qua Đông Triều đến Hòn Gai - Cẩm Phả - Mông
Dƣơng - Cái Bầu - Vạn Hoa dài khoảng 130 km, rộng từ 10 đến 30 km, có
tổng trữ lƣợng khoảng 10,5 tỉ tấn, trong đó: tính đến mức cao - 300m là
3,5 tỉ tấn đã đƣợc tìm kiếm thăm dò tƣơng đối chi tiết, là đối tƣợng cho
thiết kế và khai thác hiện nay, tính đến mức cao - 1000m có trữ lƣợng dự
báo khoảng 7 tỉ tấn đang đƣợc đầu tƣ tìm kiếm thăm dò. Than Antraxit
Quảng Ninh có chất lƣợng tốt, phân bố gần các cảng biển, đầu mối giao
thông Rất thuận lợi cho khai thác và tiêu thụ sản phẩm. Than Antraxit
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
10
Quảng Ninh đã đƣợc triều đình nhà Nguyễn khai thác từ năm 1820 và
ngƣời Pháp khai thác từ năm 1888 - 1955. Từ năm 1955 đến nay do Chính
phủ Việt Nam quản lý và khai thác.
Bể than đồng bằng sông Hồng: nằm trọn trong vùng đồng bằng châu
thổ sông Hồng, có đỉnh là Việt Trì và cạnh đáy là đƣờng bờ biển kéo dài
từ Ninh Bình đến Hải Phòng, thuộc các tỉnh thành phố: Thái Bình, Hải
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
11
1.2.3. Tình hình khai thác than Thái Nguyên
Thái Nguyên đƣợc đánh giá là tỉnh có trữ lƣợng than lớn thứ 2 trong
các tỉnh thành cả nƣớc bao gồm than mỡ, than đá đƣợc phân bố tập trung
ở 2 huyện Đại từ và Phú Lƣơng. Tiềm năng than mỡ có khoảng trên 15
triệu tấn, trong đó trữ lƣợng tìm kiếm thăm dò khoảng 8,5 triệu tấn, chất
lƣợng tƣơng đối tốt, tập trung ở các mỏ than: Phấn Mễ, Làng Cẩm, Âm
Hồn [34].
- Than đá với tổng trữ lƣợng tìm kiếm và thăm dò khoảng 90 triệu
tấn tập trung ở các mỏ: Bá Sơn, Khánh Hoà, Núi Hồng.
1.2.3.1. Thực trạng hoạt động các mỏ than trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên
Các điểm khai thác than tập trung chủ yếu vùng Tây Bắc của tỉnh
Thái Nguyên trên địa bàn các huyện Đại Từ, Phú Lƣơng. Các mỏ khai
thác than lớn của Thái Nguyên nhƣ mỏ than Khánh Hòa, mỏ than Phấn
Mễ, mỏ than Núi Hồng, mỏ than Bá Sơn
Nhìn chung hoạt động khai thác than trên địa bàn đã đƣợc bắt đầu
từ khá lâu: mỏ than Khánh Hòa bắt đầu hoạt động từ 1949; than Núi Hồng
bắt đầu hoạt động từ 1980, mỏ than Bá Sơn bắt đầu từ 1983, mỏ than
Phấn Mễ bắt đầu hoạt động từ những năm 1966 [19].
Qua thời gian, bên cạnh những lợi ích về mặt kinh tế xã hội nhƣ
tăng nguồn thu ngân sách cho tỉnh, thì hoạt động khai thác than với công
nghệ còn lạc hậu đã ảnh hƣởng không nhỏ đến môi trƣờng, địa hình và
cảnh quan tỉnh Thái Nguyên.
Theo số liệu Sở Tài Nguyên Môi trƣờng tỉnh Thái Nguyên, tính đến
31/12/2009, sản lƣợng khai thác than trên địa bàn tỉnh năm 2006 là
Mỏ Việt Bắc-
TKV
15,08
350.000
278,1
2
Mỏ than Khánh
Hòa, Xã Phúc Hà -
Thành phố Thái
Nguyên và xã An
Khánh - Đại Từ
Công ty
TNHH MTV
Công nghiệp
Mỏ Việt Bắc-
TKV
59,30
400.000
328,0
3
Mỏ than Phấn Mễ,
xã Phục Linh, Hà
Thƣợng huyện Đại
Từ (Bắc và Nam
Làng Cẩm)
Công ty cổ
phần Gang
Thép Thái
Nguyên
3,60
Công ty cổ
phần Xây
dựng và Khai
thác than Thái
Nguyên
0,40
37.000
19,9
6
Mỏ than An Khánh
- Cù Vân xã An
Khánh và Cù Vân
huyện Đại Từ
Công ty cổ
phần khai
khoáng miền
núi
0,30
30.000
14,5
7
Mỏ than Làng
Bún, xã Phấn Mễ
huyện Phú Lƣơng
Công ty cổ
phần Gang
thép Gia Sàng
0,15
8.000
5,0
Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
14
1.2.3.2. Thực trạng môi trường do hoạt động của các mỏ than trên địa
bàn tỉnh
Việc mở rộng và nâng cao công suất các mỏ than trong thời gian qua đã
gây tác động không nhỏ đến môi trƣờng khu vực tỉnh.
* Nguy cơ thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, giảm đa dạng sinh học:
Theo số liệu thống kê tại bảng 1.1 diện tích chiếm đất của các mỏ than là
808,51 ha, phần diện tích này trƣớc đây là đất rừng và đất nông nghiệp. Điều
này cũng cho thấy sự thu hẹp của diện tích đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp
kèm theo là suy giảm về đa dạng sinh học, biến đổi địa hình.
* Nguy cơ hạ thấp mực nước ngầm: Việc để lại moong, các đƣờng
lò có độ sâu lớn (moong Bá Sơn hiện tại đang ở mức -30m dự kiến khai
thác đến -50m sẽ chuyển sang khai thác hầm lò xuống mức -100m, moong
lộ thiên mỏ than Phấn Mễ hiện đang khai thác đến mức -192m dự kiến kết
thúc mức -230m; các đƣờng lò hiện xuống mức -100m dự kiến kết thúc
mức -200m; moong lộ thiên mỏ than Khánh Hòa hiện đã xuống sâu tới mức
-87m (moong D) và -120m (moong C)) tác động khá lớn đến mực nƣớc
ngầm khu vực [38].
* Nguy cơ về sạt lở, trượt lở: Các bãi thải có độ cao lớn (bãi thải mỏ
Bá Sơn đang đổ đến cos + 70m; bãi thải mỏ Phấn Mễ đang đổ đến cos +
155m dự kiến kết thúc ở cos +190m [35] ảnh hƣởng không nhỏ đến sinh thái
và các hoạt động kinh tế xã hội của dân cƣ các xã Sơn Cẩm, Cổ Lũng (huyện
Phú Lƣơng), An Khánh, Cù Vân, Hà Thƣợng, Phục Linh (Đại Từ), Phúc Hà
(thành phố Thái Nguyên) - là những xã có các điểm khai thác than điển hình
trên địa bàn tỉnh. Qua thực tế khảo sát các bãi thải cho thấy, hầu hết việc đổ
thải chƣa đảm bảo thiết kế an toàn, phân cắt tầng thải đúng thiết kế do đó vẫn
1.000.000
3
Mỏ than Bá Sơn
Xã Sơn Cẩm, huyện Phú
Lƣơng
564.480
4
Mỏ than An Khánh -
Cù Vân
Xã An Khánh, xã Cù Vân,
huyện Đại Từ
72.000
5
Mỏ than Phấn Mễ
Xã Phẫn Mễ, huyện Phú
Lƣơng
6.498.444
Nguồn: [19][3]
Lƣu lƣợng xả lớn lại không đƣợc xử lý đạt tiêu chuẩn trƣớc khi thải ra
ngoài môi trƣờng đang là thực trạng tại các mỏ than.
Thành phần các chất ô nhiễm có trong nƣớc thải mỏ than chủ yếu là
chất rắn lơ lửng (SS) gây ảnh hƣởng đến chất lƣợng các nguồn nƣớc mặt xung
quanh nhƣ sông Đu (nguồn tiếp nhận nƣớc thải mỏ than Phấn Mễ), suối
Phƣợng Hoàng, suối Tân Long - nguồn tiếp nhận nƣớc thải các mỏ than Bá
Sơn, An Khánh - Cù Vân, Núi Hồng ), các suối này đều là các phụ lƣu của
Sông Cầu, đây là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm sông Cầu.
* Theo báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Thái Nguyên 2005-2010:
Tại các phụ lƣu chính của Sông Cầu, chất lƣợng nƣớc đều không đáp ứng
đƣợc QCVN 08:2008 đối với nguồn nƣớc sử dụng cho mục đích cấp nƣớc
sinh hoạt. Hàm lƣợng BOD
mòn đất là những yếu tố chính làm suy thoái đất đai vùng mỏ.
* Suy giảm hệ thực động vật: Cùng với các hoạt động công nghiệp
khác, khai thác than là nguyên nhân làm suy giảm diện tích rừng tự nhiên
hàng năm của tỉnh. Hàng năm, diện tích rừng tự nhiên đều bị suy giảm do
các hoạt động kinh tế - xã hội [6]. Hiện nay diện tích rừng trồng theo các
0
0.2
0.4
0.6
0.8
1
1.2
1.4
1.6
Xi măng Núi
Voi
Mỏ sắt Trại
Cau
Xi măng
Quang Sơn
Xi măng La
Hiên
Mỏ than Bá
Sơn
Mỏ than
Phấn Mễ
Mỏ than
Khánh Hoà
(mg/m3)
2008 2009 2010 QCVN Bụi
lớn, nƣớc thoát ra từ những mỏ khai thác này chứa axit và các khoáng độc,
gây ô nhiễm nƣớc, ô nhiễm đất [30].
Khai thác than dƣới các hầm mỏ sâu dƣới lòng đất gây nguy hiểm
cho con ngƣời với độ rủi ro cao, không khí dƣới hầm lò bị ô nhiễm do bụi,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
18
khí than, để chống lò phải tiêu hao một lƣợng gỗ nhất định và có thể xảy ra
các tai nạn hầm lò nhƣ sụt, lún hầm, nổ khí than. Sau khi khai thác, quặng
than cần đƣợc sàng, rửa để loại bỏ đất đá, các loại quặng khác. Khi nƣớc
tiếp xúc với các kim loại nặng có trong đất đá thải hoặc vật liệu đã khai
thác có thể gây ra ô nhiễm nƣớc mặt và nƣớc ngầm. Ngoài ra, ở nhiều nơi
hoạt động khai thác gần khu dân cƣ đô thị khiến cho ngƣời dân chịu ô
nhiễm bụi nặng nề [23].
Việc đốt than gây ra ô nhiễm không khí do sự phát thải SO
2,
CO
2,
NO
x
,… Tính trên một đơn vị nhiệt lƣợng phát ra thì đốt than thải ra nhiều
chất ô nhiễm hơn các nhiên liệu hoá thạch khác (dầu, khí).
Than, nhất là than bitum, chứa lƣu huỳnh, ni-tơ. Khi đốt, chúng thải
vào khí quyển các lƣu huỳnh oxit, nitơ oxit,… Các oxit này tác dụng với
hơi nƣớc trong khí quyển thành mƣa rơi xuống. Chính vì vậy, việc đốt than
đã gián tiếp góp phần vào quá trình biến đổi khí hậu làm suy thoái môi
trƣờng toàn cầu mà nổi bật là hiện tƣợng hiệu ứng nhà kính và mƣa axít.
Sau quá trình đốt than để lại một lƣợng phế thải rất lớn. Phế thải này
gồm tro mịn bay lên không và xỉ cục đóng lại ở đáy lò. Trong xỉ than có
nƣớc phát triển mạnh, gây ô nhiễm môi trƣờng nƣớc.
- Các chất độc hại:
Phổ biến trong nƣớc bao gồm các hóa chất độc hại và kim loại
nặng nhƣ thủy ngân, chì, kẽm các chất độc hại này chủ yếu phát sinh
từ nƣớc thải.
Theo TCVN 5945 - 2005 giá trị giới hạn nồng độ chất ô nhiễm trong
nƣớc thải công nghiệp đƣợc phân thành 3 cấp: A, B, C.
- Nƣớc thải công nghiệp có nồng độ các chất ô nhiễm bằng hoặc nhỏ
hơn giá trị giới hạn ở cấp A thì có thể đổ thải vào các vực nƣớc dùng làm
nguồn cấp nƣớc sinh hoạt.
- Nƣớc thải công nghiệp có nồng độ các chất ô nhiễm bằng hoặc nhỏ
hơn giá trị giới hạn ở cấp B thì chỉ đƣợc đổ thải vào các khu vực nƣớc dùng
cho các mục đích giao thông thuỷ, tƣới tiêu, bơi lội, nuôi thuỷ sản, trồng trọt.
- Nƣớc thải công nghiệp có nồng độ các chất ô nhiễm lớn hơn giá trị
giới hạn ở cấp B nhƣng nhỏ hơn giá trị giới hạn ở cấp C thì chỉ đƣợc phép
thải đổ vào các nơi quy định.
- Nếu nƣớc thải công nghiệp có nồng độ các chất ô nhiễm lớn hơn giá
trị giới hạn ở cấp C thì không đƣợc đổ thải ra môi trƣờng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
20
1.3.1.2. Ô nhiễm không khí
* Nguyên nhân
Do quá trình khai thác than tại các mỏ khai thác;
Do quá trình sàng, tuyển than;
Do quá trình vận chuyển than.
* Tính chất
Do quá trình khai than đá tại các mỏ khai thác: Phát sinh bụi và các khí
vực làm bồi lắng dòng chảy, khi ngấm trực tiếp xuống đất làm thay đổi tính
chất hóa lý của đất dẫn đến giảm năng suất cây trồng.
- Bụi bột than phát sinh trong quá trình khai thác, sàng tuyển và vận
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
21
chuyển phủ lên bề mặt đất, làm thay đổi màu sắc cảm quan, gặp nƣớc bụi bột
than sẽ ngấm xuống đất, khi đó tính chất ô nhiễm tƣơng tự nhƣ nƣớc thải.
- Chất thải rắn: Là những loại than sít không đủ chất lƣợng để bán bị
loại ra sẽ chiếm diện tích đất sản xuất nông nghiệp.
Mức độ ô nhiễm phụ thuộc vào quy mô, trình độ công nghệ sản xuất.
1.3.1.4. Chất thải rắn công nghiệp
* Nguyên nhân
Do quá trình khai thác than: lớp đất đá phải bóc dỡ để lấy than, các loại
than sít không đủ chất lƣợng phải thải ra ngoài môi trƣờng.
Do quá trình sàng tuyển, vận chuyển than ra các cảng bãi: Đó chính là
bột bụi than, sau khi hoà với nƣớc mƣa sẽ ngấm vào trong đất làm biến đổi
thành phần đất, ảnh hƣởng đến đất sản xuất nông nghiệp.
* Tính chất
Than sít sẽ đƣợc tận dụng để nghiền và trộn với các loại than tốt hơn để
đóng thành than tổ ong phục vụ nhu cầu đun nấu của ngƣời dân trong vùng.
Nhƣng lƣợng than này hiện nay khá nhiều nên công tác thu gom chƣa đƣợc
trú trọng. Lƣợng than này đƣợc loại thải ra ngoài một phần sẽ chiếm diện tích
đất sản xuất nông nghiệp, mặt khác do quá trình rửa trôi sẽ bồi lấp sông suối,
ngấm vào trong đất, làm biến đổi tính chất đất.
* Tiêu chuẩn quản lý chất thải rắn
Tiêu chuẩn quản lý chất thải rắn khác với tiêu chuẩn chất lƣợng nƣớc
hay chất lƣợng không khí ở chỗ nó không quy định giới hạn các chỉ tiêu tính
chất của chất thải rắn, mà là tiêu chuẩn áp dụng cho các khía cạnh của việc
đất đá và bùn thải bị cuốn trôi theo nƣớc mƣa và di chuyển xuống phía hạ lƣu
gây bồi lấp các dòng,
Đất đá thải cũng là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến tác động cộng hƣởng
về sự phát thải bụi từ các mỏ trong khu vực gây suy giảm môi trƣờng không
khí do nhiễm bụi ở khu dân cƣ đô thị vùng than. Trên các mỏ than thƣờng có
mặt với hàm lƣợng cao các nguyên tố Se, Ti, Cr, Mn, Zn, Sr, Zr, Ba. Các
khoáng vật sulphua có trong than cũng có chứa Zn, Cd, Hg, Mo, Se, Sb, Cu,
As, Pb. Các nguyên tố này làm cho bụi mỏ trở nên độc hại khi hít thở dài
ngày. Ngoài ra, đất đá thải còn có tác động làm ảnh hƣởng đến thẩm mỹ cảnh
quan khu vực.
Theo một báo cáo về môi trƣờng của tập đoàn Công nghiệp Than -
Khoáng sản Việt Nam trong tháng 6/2009, hàm lƣợng bụi tại các khu vực khai
thác, chế biến than, khoáng sản đều vƣợt tiêu chuẩn cho phép từ 1,2 - 5,2 lần
(trung bình trong 24 giờ) [25]. Các khu vực chịu ảnh hƣởng nặng nề nhất do bụi
là Mạo Khê, Đông Triều, Uông Bí, Cẩm Phả. Ở các vùng khai thác than khác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
23
nhƣ Quán Triều (Thái Nguyên), Nông Sơn (Quảng Nam), hàm lƣợng bụi tại
các khu vực dân cƣ gần các công trƣờng, xƣởng sàng than cũng vƣợt tiêu
chuẩn cho phép 2,2 - 4,2 lần [25].
Nƣớc thải từ các khu vực khai thác than cũng đang làm xấu đi môi
trƣờng sống, lao động của những ngƣời dân. Tại vùng than Quảng Ninh, theo
đánh giá của tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam có khoảng
25 - 30 triệu m
3
nƣớc thải/năm [25]. Độ pH của nƣớc thải mỏ luôn dao động
từ 3,1 - 6,5. Hàm lƣợng cặn lơ lửng thƣờng vƣợt tiêu chuẩn cho phép từ 1,7 -
2,4 lần, có nơi lên tới hơn tám lần. Theo đánh giá của một đơn vị thuộc tập
về phát triển tài nguyên than và bảo vệ tài nguyên than trong 10 năm (2001 -
2010) của Trung Quốc là:
1. Điều chỉnh và khống chế tổng lƣợng tài nguyên than.
2. Sử dụng hợp lý tài nguyên than.
3. Mời và sử dụng đầu tƣ nƣớc ngoài trong tìm kiếm, điều tra thăm dò
địa chất và khai thác tài nguyên than.
4. Sử dụng tài nguyên và thị trƣờng than của nƣớc ngoài.
5. Thực thi chiến lƣợc dự trữ tài nguyên than.
6. Bảo vệ môi trƣờng sinh thái các vùng mỏ.
1.4.2. Công tác quản lý, bảo vệ môi trƣờng
tại Việt Nam
Tại Việt Nam, cùng với việc gia tăng về sản lƣợng khai thác, ngành than
đã cố gắng thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trƣờng, vừa khắc phục hậu quả
của nhiều năm về trƣớc, vừa chủ động áp dụng nhiều biện pháp tích cực để
ngành than vẫn phát triển mà môi trƣờng cũng không bị xâm phạm, cụ thể nhƣ
sau:
Thứ nhất: Khai thác, chế biến, sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm nguồn
tài nguyên than trong nƣớc; kết hợp với xuất nhập khẩu hợp lý trên cơ sở giảm
dần và tiến đến không xuất khẩu than; đáp ứng tối đa nhu cầu than trong nƣớc
phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc.
Thứ hai: Phát triển ngành than bền vững, hiệu quả theo hƣớng đồng bộ,
cân đối với phát triển chung của các ngành kinh tế khác.
Thứ ba: Áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong thăm dò, khai thác,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
25
sàng tuyển, chế biến và sử dụng than.
Thứ tư: Tích cực đầu tƣ thăm dò ra nƣớc ngoài, khai thác nhanh nguồn
tài nguyên than nƣớc ngoài để bổ sung cho sự thiếu hụt từ khai thác trong