Phát triển hoạt động huy động vốn tại ngân hàng TMCP Á Châu Chi nhánh Tân Thuận - Pdf 24

Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Đoàn Thanh Hà

SVTH : Hoàng Thu Thảo Trang 1
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ NGUỒN VỐN VÀ HUY ĐỘNG VỐN TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 NGUỒN VỐN VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1.1 Đònh nghóa nguồn vốn
Nguồn vốn trong Ngân hàng thương mại được đònh nghóa là toàn bộ tài sản
bên nợ trong Bảng cân đối Kế toán của Ngân hàng. Nó bao gồm nguồn vốn chủ sở
hữu và nguồn vốn đi vay, trong đó nguồn vốn đi vay là chủ yếu và quan trọng bởi
nguồn này tạo ra lợi nhuận cho Ngân hàng. Thông thường kết cấu nguồn vốn của
các NHTM là như nhau nhưng xét về số lượng mỗi thành phần thì không ngân hàng
nào giống nhau. Sự khác biệt đó xuất phát từ cách thức, mục tiêu huy động vốn của
mỗi Ngân hàng. Thông qua kết cấu nguồn vốn của mỗi Ngân hàng người ta có thể
đánh giá được rất nhiều điều về sự hoạt động cũng như khả năng quản trò Ngân
hàng của ban lãnh đạo.
1.1.2 Vai trò của nguồn vốn đối với Ngân hàng thương mại

Nguồn vốn là cơ sở cần thiết cho sự tồn tại và hoạt động của Ngân hàng.
Bất kì một ngân hàng nào muốn tiến hành các hoạt động cho vay hay cung cấp các
dòch vụ đều phải có một số lượng vốn đủ lớn đảm bảo. Ngân hàng huy động vốn từ
nhiều nguồn khác nhau: từ dân cư, từ các doanh nghiệp hay trên thò trường vốn. Quy
mô vốn của một ngân hàng càng lớn thì càng khẳng đònh được sức mạnh và uy tín
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Đoàn Thanh Hà

SVTH : Hoàng Thu Thảo Trang 2
của nó trên thò trường tài chính, tạo ra điều kiện tốt nhất cho sự hoạt động và phát
triển của nó. Chính vì thế các ngân hàng không ngừng cạnh tranh nhau để thu hút
được lượng vốn lớn trên thò trường bằng nhiều chiến lược khác nhau. Mỗi một ngân

Vốn chủ sở hữu càng lớn thì uy tín cũng như sức mạnh của ngân hàng trên thò
trường càng lớn. Để tăng vốn chủ sở hữu, các ngân hàng thường lấy từ các nguồn
sau:
- Nguồn từ lợi nhuận : Khi ngân hàng hoạt động có lợi nhuận thì ngân hàng
thường gia tăng vốn chủ sở hữu bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành
vốn đầu tư. Việc này có ý nghóa tích cực với mọi ngân hàng vì nó góp phần tạo
thêm sự an tâm với các khách hàng, đồng thời giúp ngân hàng tích luỹ tiền để đầu
tư cơ sở vật chất, trang thiết bò của ngân hàng nhằm tạo ra một hình ảnh ngân hàng
đẹp hơn.
- Nguồn vốn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần , góp thêm, cấp thêm… để
mở rộng quy mô hoạt động của Ngân hàng hoặc đáp ứng yêu cầu gia tăng vốn chủ
do Ngân hàng nhà nước quy đònh. Tuy nhiên nguồn vốn này không không phải lúc
nào cũng có được. Đối với các ngân hàng Nhà nước, việc được cấp thêm vốn tuỳ
thuộc vào chính sách của nhà nước mỗi năm. Còn đối với các ngân hàng cổ phần,
việc tăng thêm vốn điều lệ bằng cách phát hành thêm cổ phiếu mới đòi hỏi sự cân
nhắc của hội đồng quản trò ngân hàng. Không phải lúc nào một ngân hàng cũng có
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Đoàn Thanh Hà

SVTH : Hoàng Thu Thảo Trang 4
thể phát hành thêm cổ phiếu mới vì việc này có thể gây ra nhiều tác động đến các
yếu tố như: giá cổ phiếu ngân hàng trên thò trường, cổ tức của cổ đông …
1.2.1.3 Các quỹ
Các quỹ của ngân hàng được lập ra với nhiều mục đích, nhằm hỗ trợ cho các
hoạt động khác nhau của ngân hàng. Những quỹ này đều được hình thành từ thu
nhập của ngân hàng.
- Quỹ dự phòng tổn thất: được trích lập hàng năm và được tích lũy lại nhằm
bù đắp những tổn thất đã và sẽ xảy ra.
- Quỹ bảo toàn vốn : nhằm bù đắp hao mòn của vốn dưới tác động của lạm
phát.
- Quỹ thặng dư: là phần đánh giá lại tài sản của ngân hàng và chênh lệch

Tiền gửi là nguồn vốn huy động từ bên ngoài đầu tiên và quan trọng nhất đối
với mỗi NHTM. Trong cơ cấu vốn của các ngân hàng, tiền gửi luôn chiếm tỷ trọng
lớn và có nhiều ảnh hưởng nhất tới các hoạt động của ngân hàng. Vì thế để gia tăng
tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền gửi chất lượng ngày
càng cao thì các ngân hàng đã đưa ra nhiều hình thức huy động khác nhau.
1.2.2.1 Tiền gửi thanh toán
Tiền gửi thanh toán hay còn gọi là tiền gửi không kì hạn, (tiền gửi giao dòch)
là loại tiền gửi mà người gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào. Thông thường, chủ các tài
khoản tiền gửi không kì hạn thường yêu cầu ngân hàng thanh toán hộ mình cho các
đối tác qua tài khoản mà không cần phải đến ngân hàng rút tiền nữa. Việc này đẩy
nhanh tốc độ lưu thông của tiền và hạn chế bớt tiền mặt trong thanh toán. Chính ưu
điểm này của tiền gửi thanh toán đã khiến nó rất được ưa thích và phổ biến với tất
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Đoàn Thanh Hà

SVTH : Hoàng Thu Thảo Trang 6
cả mọi người, đặc biệt là các doanh nghiệp và cá nhân có hoạt động mua bán
thường xuyên. Ngày nay tài khoản tiền gửi thanh toán đảm nhiệm rất nhiều chức
năng hữu dụng đối với chủ tài khoản. : phát hành séc từ tài khoản của mình, thanh
toán các loại hoá đơn qua ngân hàng, rút tiền mặt tại các máy ATM của ngân
hàng…Mạng lưới ngân hàng càng mở rộng và phát triển thì càng tạo nhiều thuận lợi
cho những người sở hữu các tài khoản tiền gửi thanh toán. Từ sau thập niên 70 các
ngân hàng đã bắt đầu trả lãi suất cho các khoản tiền gửi thanh toán, dù lãi suất rất
thấp. Tuy nhiên điều này càng làm tăng sự ưa thích của các khách hàng vì tiền của
họ không những có thể rút được ra bất kì lúc nào mà còn sinh lãi khi không dùng
đến trong một khoảng thời gian dài.
Đối với ngân hàng, tiền gửi thanh toán cũng là khoản vốn huy động khá hấp
dẫn. Bởi chi phí huy động cho loại tiền gửi này thấp nhất trong các loại tiền gửi. Để
thu hút tiền gửi thanh toán, các ngân hàng thiết kế rất nhiều sản phẩm cũng như
tiện ích sử dụng giúp cho khách hàng có nhiều lựa chọn đồng thời nhằm cạnh tranh
với các tổ chức tín dụng khác.

vốn, …Đặc biệt, hiện nay để cạnh tranh hầu như các ngân hàng đều cho người gửi
tiền tiết kiệm có kì hạn rút tiền trước hạn khi cần, đa dạng về hình thức tiết kiệm
bằng vàng và ngoại tệ Điều này làm tăng sức hấp dẫn của tiền gửi tiết kiệm có kì
hạn. Hơn nữa, người dân cũng có thể yên tâm hơn khi khoản tiền gửi của mình
trong ngân hàng được bảo hiểm, trong trường hợp ngân hàng mất khả năng thanh
toán thì người gửi vẫn có thể nhận lại toàn bộ hoặc một phần số tiền của mình từ tổ
chức bảo hiểm tiền gửi.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Đoàn Thanh Hà

SVTH : Hoàng Thu Thảo Trang 8
1.2.2.4 Tiền gửi của các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác
Giữa các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác thường xuyên có mối liên
hệ với nhau về nhiều mặt trong hoạt động kinh doanh. Các ngân hàng đều gửi một
lượng tiền ở các ngân hàng khác nhằm mục đích tạo sự thuận tiện cho việc thanh
toán hộ, chuyển khoản hay mua bán, giao dòch khác…Lượng tiền gửi này thường
không lớn, biến động nhỏ nên ít ảnh hưởng tới nguồn vốn của ngân hàng.
1.2.3 Tiền vay và nghiệp vụ đi vay
Bên cạnh việc huy động vốn từ nhận tiền gửi, các ngân hàng còn đi vay để
tăng lượng vốn nắm giữ nhằm đảm bảo và phát triển hoạt động kinh doanh của
mình hoặc khi khả năng huy động bò hạn chế. Vốn vay của ngân hàng có thể có
được từ nhiều nguồn khác nhau nhu: vay từ Ngân hàng nhà nước, vay từ các tổ chức
tín dụng khác hoặc vay trên thò trường vốn…Nguồn vốn vay chỉ chiếm tỷ trọng vừa
phải trong kết cấu nguồn song nó rất cần thiết và quan trọng đối với các ngân hàng.
1.2.3.1 Tiền vay Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng, là cứu cánh cuối
cùng của các ngân hàng trong các trường hợp khó khăn nhất, đóng vai trò là người
cho vay sau cùng. Thông thường tất cả các ngân hàng thương mại và một số tổ chức
tài chính khác trong nước được NHNN cho phép thành lập đều được hưởng quyền
vay tại ngân hàng NHNN trong những tình huống thiếu hụt dự trữ hoặc quá thiếu
vốn. Đối với các NHTM thì vay mượn tại NHNN là một nghiệp vụ hết sức tiện lợi

Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Đoàn Thanh Hà

SVTH : Hoàng Thu Thảo Trang 10
hoặc trả lãi suất cao hơn thì sẽ vay được nhiều hơn. Các ngân hàng nhỏ thường khó
vay mượn trực tiếp bằng cách đó mà phải thông qua ngân hàng đại lí hoặc được sự
bảo lãnh của ngân hàng Đầu tư. Có thể nói thò trường tài chính với vai trò trung
gian điều hoà vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu đã hỗ trợ tích cực cho hoạt động của các
ngân hàng. Thò trường tài chính càng phát triển thì khả năng chuyển đổi các công
cụ nợ dài hạn của các ngân hàng càng tăng.
1.2.3.4 Vay nợ khác
Ngoài những nguồn vốn đi vay cơ bản trên, Ngân hàng còn có các nguồn
vốn vay khác như:
- Nguồn uỷ thác: NHTM thực hiện các dòch vụ uỷ thác như uỷ thác cho vay,
uỷ thác đầu tư, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ….Trong đó Uỷ thác
Đầu tư là dòch vụ khá hấp dẫn của ngân hàng. Với dòch vụ này, khách hàng uỷ thác
tiền bạc, tài sản của mình cho ngân hàng để ngân hàng tiến hành đầu tư vào những
dự án khả thi để sinh lãi. Ngân hàng với lợi thế về uy tín và thông tin cũng như khả
năng thẩm đònh dự án tốt sẽ tiến hành hoạt động đầu tư có hiệu quả hơn, mang lại
thu nhập cho khách hàng đồng thời thu lời cho chính mình qua phí dòch vụ.
- Nguồn trong thanh toán: Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt
có thể hình thành nguồn trong thanh toán ( séc trong quá trình chi trả, tiền ký quỹ
L/C, tiền ký quỹ đảm bảo thanh toán thẻ…), Hoặc các ngân hàng là ngân hàng đầu
mối trong đồng tài trợ có kết dư tiền gửi từ tiền của các ngân hàng thành viên
chuyển về để cho vay. Đặc điểm của nguồn này là thời gian tồn tại ngắn vì phần
lớn chúng đều ở trong trạng thái chờ luân chuyển, do đó các ngân hàng ít khi chỉ sử
dụng chúng để cho vay lâu dài mà chỉ để bổ sung thêm nguồn ở thời điểm hiện tại.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Đoàn Thanh Hà

SVTH : Hoàng Thu Thảo Trang 11
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA

tích luỹ nhiều hơn, do đó tạo môi trường cho việc thu hút vốn của ngân hàng thuận
lợi hơn. Mặt khác , nó cũng tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi cho ngân hàng, từ đó
ngân hàng phải tìm biện pháp để huy động vốn sao cho có hiệu quả thiết thực cho
hoạt động kinh doanh của mình. Khi môi trường đầu tư mở rộng thì thu nhập của
ngân hàng không ngừng phát triển, tạo tiền để cho việc mở rộng mức vốn tự có của
ngân hàng. Khi nền kinh tế suy thoái, lạm phát tăng làm thu nhập của người dân
giảm khiến cho họ không muốn gửi tiền vào ngân hàng mà chuyển sang nắm giữ
các tài sản khác như : vàng, ngoại tệ mạnh…Lượng tiền gửi của ngân hàng sẽ sụt
giảm cùng với việc môi trường đầu tư của ngân hàng bò thu hẹp do các doanh
nghiệp không muốn vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh trong điều kiện sản
xuất thua lỗ.
1.3.1.3 Sự cạnh tranh gay gắt trên thò trường vốn
Trong quá trình thu hút vốn, các ngân hàng luôn phải đối mặt với sự cạnh
tranh không những của các ngân hàng trong ngành mà còn của các tổ chức tài chính
khác. Sản phẩm tiền gửi của ngân hàng dễ bắt chước đòi hỏi các ngân hàng phải rất
cố gắng trong việc đưa thêm những tiện ích vào sản phẩm cũng như triển khai
những chương trình huy động vốn hấp dẫn nhằm thu hút được khách hàng. Bên
cạnh đó, các ngân hàng còn bò cạnh tranh bởi các tổ chức tài chính khác như : Các
công ty tài chính, quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm…Các tổ chức này tuy không có chức
năng nhận tiền gửi như ngân hàng song lại có nhiều dòch vụ phong phú thu hút tiền
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Đoàn Thanh Hà

SVTH : Hoàng Thu Thảo Trang 13
đầu tư của người dân và các doanh nghiệp. Ngày này, sự phát triển mạnh mẽ của
thò trường chứng khoán lại càng khiến cho thò trường vốn của các ngân hàng thu hẹp
lại, tạo nên sự cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút vốn. Do vậy để có thể thu hút
được những nguồn vốn có chất lượng, ngoài việc các ngân hàng phải không ngừng
đa dạng hoá và tạo sự khác biệt cho các sản phẩm huy động vốn, bên cạnh đó phải
nâng cao chất lượng phục vụ để thu hút và thoả mãn nhu cầu khách hàng.
1.3.1.4 Tâm lý, thói quen của người tiêu dùng

- Lãi suất huy động : Để tạo được nhiều vốn thì ngân hàng phải có chính
sách lãi suất hợp lí vừa đảm bảo kích thích người gửi tiền lại vừa phù hợp với lãi
suất cho vay của ngân hàng để tránh thua lỗ. Hiện nay một số ngân hàng để thu hút
khách gửi tiền đã sử dụng lãi suất rất linh hoạt như chia nhỏ lãi suất theo các thời
hạn tiền gửi khác nhau, trả lãi cho tài khoản tiền gửi không kì hạn đồng thời để
không bò ứ đọng vốn thì họ giảm cả lãi suất cho vay. Tuy nhiên sự tăng giảm lãi
suất này chỉ giới hạn trong một biên độ nhất đònh để đảm bảo cho hoạt động kinh
doanh của ngân hàng có lãi.
- Bảo hiểm tiền gửi : Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, rủi ro xảy
ra là điều không tránh khỏi. Vì vậy sự an toàn của các ngân hàng thương mại luôn
là mối quan tâm hàng đầu của các cổ đông, các nhà điều hành và đặc biệt là đối
với người gửi tiền. Để lấy được niềm tin từ người gửi tiền đồng thời bảo vệ lợi ích
cho họ tránh được những tổn thất khi ngân hàng gặp rủi ro mất khả năng thanh toán
thì các ngân hàng thương mại phải tham gia bảo hiểm tiền gửi. Các công ty bảo
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Đoàn Thanh Hà

SVTH : Hoàng Thu Thảo Trang 15
hiểm tiền gửi sẽ đứng ra chòu trách nhiệm chi trả toàn bộ tiền cho người gửi tiền
trong giới hạn bảo hiểm.
1.3.2.2 Nhân sự và công nghệ thông tin
- Năng lực và trình độ của cán bộ ngân hàng:
+ Về phương diện quản lý : Nếu ngân hàng quản ly tốt về mặt nhân sự. Về
Tài sản Nợ, Có tức là trong quá trình hoạt động kinh doanh ngân hàng dự đoán
được những rủi ro xảy ra, dự đoán được môi trường đầu tư, nắm bắt được những
biến đổi ngoài thò trường một cách nhanh chóng để tư vấn cho khách hàng của mình
nên đầu tư vào đâu có hiệu quả cao nhất. Từ đó thu hút được khách hàng làm cho
môi trường đầu tu của ngân hàng ngày càng mở rộng. Mặt khác, do quản lí tốt nên
trong quá trình hoạt động ngân hàng đảm bảo an toàn vốn, tăng uy tín, từ đó có
điều kiện thu hút khách hàng gửi tiền nhiều hơn.
+ Về trình độ nghiệp vụ: Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng cao thì

nghiệm hoạt động của ngân hàng, vốn chủ sở hữu lớn, các sản phẩm hấp dẫn, chất
lượng phục vụ tốt, hoạt động kinh doanh hàng năm có lợi nhuận cao, mối liên hệ
với các tổ chức tài chính khác rộng Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Đoàn Thanh Hà

SVTH : Hoàng Thu Thảo Trang 17
CHƯƠNG 2
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NHTMCP Á CHÂU ( ACB) CHI
NHÁNH TÂN THUẬN
2.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU (ACB)
2.1.1 Tổng quan về lòch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (tên viết tắt là ACB) được thành lập
theo Giấy phép số 0032/ NH-GP do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cấp ngày
24/4/1993, và Giấy phép số 533/GP-UB do Ủy ban Nhân dân Tp. HCM cấp ngày
13/5/1993. Với một tầm nhìn, mục tiêu , chiến lược nhất quán trong toàn hệ thống
suốt 16 năm hoạt động, ACB đã có một vò thế nhất đònh trong hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam. Quá trình phát triển này có thể tóm tắt bằng một số cột mốc
đáng nhớ sau đây :
- 04/06/1993 : ACB chính thức đi vào hoạt động.
- 17/02/1996 : Vốn điều lệ tăng lên 341 tỷ đồng. Ngân hàng Nhà nước cho
phép ACB có cổ đông nước ngoài sở hữu tối đa 30% vốn cổ phần
- 27/04/1996 :
ACB là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam
phát hành thẻ tín dụng quốc tế ACB-MasterCard.
- Năm 1997: Tiếp cận nghiệp vụ ngân hàng hiện đại
• ACB là ngân hàng đầu tiên của Việt Nam thành lập Hội đồng quản lý tài sản
Nợ -Có (ALCO). ALCO đã đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo hoạt động
an toàn và hiệu quả của ACB.

Đồng thời cũng trong năm này . Ngân hàng Á Châu trở thành ngân hàng đầu
tiên nhận được danh hiệu Ngân hàng tốt nhất Việt Nam của sáu tạp chí tài
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Đoàn Thanh Hà

SVTH : Hoàng Thu Thảo Trang 19
Đại Hội Đồng Cổ
Đông

Ban

Chiến
lược

Tổng Giám Đốc

Các Hội Đồng

Ban Kiểm Soát

Văn Phòng

Hội đồng Quản trò
Hội Đồng Quản Trò

chính ngân hàng uy tín trên thế giới: Asiamoney. FinanceAsia. Euromoney.
Global Finance. The Asset và The Banker.

2.1.2 Cơ cấu tổ chức
Sơ đồ 2.1 : Cơ cấu tổ chức của NHTMCP Á Châu từ sau khi thực hiện tái cấu trúc



Phòng

Tài
chính

Phòng

Đònh giá
Tài sản

Ban chính
sách & quản
lý RR tín
dụng

Khối
Ngân
Quỹ

Khối

Công nghệ
Thông Tin

Khối

Khách Hàng
Doanh
nghiệp

hiểm nhân thọ qua ngân hàng.
• Kinh doanh ngoại tệ và vàng.
• Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng. thẻ ghi nợ.
2.1.4 Tầm nhìn và chiến lược
• Chiến lược chung :
Chuyển đổi từ chiến lược các quy tắc đơn giản (simple
rule strategy) sang chiến lược cạnh tranh bằng sự khác biệt hóa (a competitive
strategy of differentiation). Đònh hướng ngân hàng bán lẻ (đònh hướng khách hàng
cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ).

• Chiến lược 5 năm (2006 – 2011) và tầm nhìn 2015
Trong khuôn khổ kế hoạch phát triển đến năm 2011 và tầm nhìn đến năm 2015,
Ngân hàng Á Châu đặt mục tiêu
trở thành 1 trong 3 tập đoàn tài chính hàng đầu
Việt Nam năm 2015 với hoạt động cốt lõi là ngân hàng thương mại bán lẻ.Bên
cạnh đó, xuất phát tình hình nhiều biến động của nền kinh tế từ sau khủng hoảng
toàn cầu năm 2008, mục tiêu “Quản lý tốt, lợi nhuận hợp lý, tăng trưởng bền vững”
sẽ là xương sống cho chiến lược của ACB trong giai đoạn 2010-2011
. Với mục tiêu
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Đoàn Thanh Hà

SVTH : Hoàng Thu Thảo Trang 21
tăng trưởng bền vững, ACB dự đònh sẽ tăng trưởng quy mô ở mức 35% trong năm,
mà trước hết là nguồn vốn huy động, là mục tiêu quan trọng nhất trong vòng những
năm tới của ACB.
2.2 NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU- CHI NHÁNH TÂN THUẬN
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển
Quận 7 là một khu đô thò mới, là cửa ngõ phía Nam của thành phố, có vò trí đòa lý
giao thông thuận lợi cả về đường thuỷ và đường bộ; là một trong những trung tâm
công nghiệp quan trọng của thành phố, trong đó phải kể đến khu chế xuất Tân

trò của mình ra các quận bên ngoài. Trên cơ sở nền tảng những thành công trong hai
năm hoạt động, ACB – chi nhánh Tân Thuận đang ngày càng cố gắng hoàn thiện
mình để mang lại cho khách hàng sự hài lòng nhất với tất cả các dòch vụ.
2.2.2 Cơ cấu tổ chức và nhân sự
• Ban giám đốc
Giám đốc ACB - chi nhánh Tân Thuận có chức năng điều hành mọi hoạt động của
Chi nhánh, chòu trách nhiệm trước Tổng giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Á
Châu và trước Pháp luật về mọi hoạt động kinh doanh của Chi nhánh. Dưới Giám
đốc là Phó giám đốc cùng giám đốc chỉ đạo quản lý
• Phòng hành chính và vi tính
Nhân viên hành chính phụ trách việc chăm lo công tác tài chính văn phòng và quản
lý nhân sự, bao gồm:
- Quản lý mua sắm mọi trang thiết bò cho chi nhánh.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Đoàn Thanh Hà

SVTH : Hoàng Thu Thảo Trang 23
- Công tác văn thư hành chính, lễ tân.
- Chòu trách nhiệm về lương bổng và tổ chức quản lý, phát triển nguồn lực.
- Đảm bảo phương tiện vận chuyển và di chuyển an toàn
- Tổ chức thực hiện công tác bảo vệ cơ quan, kho bãi, phòng cháy chữa cháy.
- Đảm bảo công tác hậu cần
• Phòng tín dụng
Đây là bộ phận quan trọng và lớn nhất của đơn vò, chuyên sâu về nghiệp vụ
tiền tệ tín dụng, các nhân viên tín dụng luôn thực hiện nhiệm vụ của mình với một
tinh thần trách nhiệm cao. Ngoài trình độ chuyên môn hiện có, đòi hỏi nhân viên
tín dụng cần phải có một cái nhìn nhạy bén để đối phó với những biến tướng của
các rủi ro tiềm ẩn và phải tuân thủ các quy đònh về nghiệp vụ tín dụng của Ngân
hàng.
Phòng Tín dụng bao gồm Phòng Khách hàng cá nhân và Phòng khách
hàng doanh nghiệp có các chức năng chủ yếu sau:

- Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tiền gửi thanh toán, tiết kiệm, thanh
toán thẻ,
- Thực hiện nghiệp vụ mua bán ngoại tệ, vàng bạc.
- Thực hiện nghiệp vụ thu chi tiền tệ, thu chi hộ trong hệ thống Ngân hàng Á
Châu hoặc theo ủy nhiệm của khách hàng.
- Thực hiện ký quỹ thanh toán thư tín dụng , thanh toán séc bảo chi,
Khóa luận tốt nghiệp GVHD : Đoàn Thanh Hà

SVTH : Hoàng Thu Thảo Trang 25
- Cất giữ, bảo quản tiền, các tài sản quý, chứng từ có giá, hồ sơ thế chấp, cầm
cố của khách hàng.
- Thực hiện chiết khấu các chứng từ có giá.
- Phụ trách kho quỹ, đảm bảo an toàn tuyệt đối theo chế độ quản lý kho quỹ
Sơ đồ 2.2 : Cơ cấu tổ chức của NH TMCP Á Châu Chi nhánh Tân Thuận
( Nguồn : ACB Chi nhánh Tân Thuận)
Nhân sự của chi nhánh chủ yếu là các nhân viên trẻ, có trình độ và liên tục
được nâng cao kiến thức thông qua những buổi học nghiệp vụ do Hội sở tổ chức.
Họ dễ dàng tiếp thu những thay đổi mới trong chính sách chung của NHNN, của

TÍN
DỤNG
(5
người
)

BỘ
PHẬN
PHÂN
TÍCH
TÍN
DỤNG
KHCN
(7
BỘ
PHẬN
QUAN
HỆ
KHÁCH
HÀNG
(7 người)
BỘ
PHẬN
DỊCH VỤ
KHÁCH
HÀNG
(5 người)

BỘ
PHẬN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status