SỞ GD- ĐT BÌNH DƯƠNG
TRƯỜNG THPT VÕ MINH ĐỨC
BÀI THU HOẠCH
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN THPT
NỘI DUNG 3
GV: Nguyễn Thị Phương Lan
NĂM HỌC 2013 _ 2014
Trang 1
BÀI THU HOẠCH
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN THPT
NỘI DUNG 3
GV: Nguyễn Thị Phương Lan - TRƯỜNG THPT Võ Minh Đức
Chuyên đề 3:
GIÁO DỤC HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CÁ BIỆT
- Học sinh cá biệt: học sinh có những thái độ, hành vi không phù hợp với giá trị,
nội quy, truyền thống của tập thể, không thực hiện tròn bổn phận và trách nhiệm của
ngưởi học sinh, hoặc thiếu văn hóa, đạo đức trong quan hệ ứng xử với mọi người, đồng
thời không có động cơ học nên kết quả học tập yếu, kém… được lặp lại thường xuyên và
trở thành hệ thống được coi là cá biệt.
A- MỤC TIÊU
1- Về kiến thức và kỹ năng:
- Liệt kê được các phương pháp thu thập thông tin về học sinh cá biệt; các phương
pháp giáo dục và các phương pháp đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh cá biệt.
- Sử dụng và phối hợp được các phương pháp thu thập thông tin về học sinh cá
biệt; các phương pháp giáo dục và các phương pháp đánh giá kết quả rèn luyện của học
sinh cá biệt có tính đến đặc điểm lứa tuổi học sinh THPT và đặc điểm cá nhân.
2- Về thái độ
- Tin rằng mọi học sinh đều có thể thay đổi theo hướng tích cực và tôn trọng học
sinh cá biệt như những nhân cách có giá trị.
- Cam kết, giúp đỡ, hỗ trợ học sinh cá biệt thay đổi niềm tin và hành vi không
học sinh cá biệt
2- Trò chuyện với học sinh cá biệt ngoài giờ học: GV cần thể hiện sự quan tâm lắng
nghe để hiểu hơn là để đáp lại, giữ bình tĩnh và kiên nhẫn không cắt ngang, tránh tranh
cãi hoặc phê phán, thể hiện thiện chí muốn lắng nghe
Năm yếu tố chính của lắng nghe tích cực:
- Tập trung chú ý
- Thể hiện rằng bạn đang lắng nghe
- Cung cấp thông tin phản hồi
- Không vội đánh giá
- Đối đáp hợp lý
-Cùng với lắng nghe tích cực giáo viên cũng cần dạy cho học sinh biết cách phản
hồi hay bày tỏ cảm xúc, chia sẻ cảm xúc của bản thân với những người khác. Điều này sẽ
giúp học sinh thoát khỏi tình trạng căng thẳng
3- Các phương pháp thu thập thông tin khác.
Trang 3
- Tổ chức cho học sinh viết về những điều có ý nghĩa đối với bản thân và cuộc
sống theo quan niệm riêng
- Quan sát các em trong quá trình cùng tham gia vào các hoạt động với học sinh
- Tìm hiểu về học sinh cá biệt thông qua nhóm bạn thân
- Tìm hiểu về học sinh thông qua gia đình, cán bộ lớp, các bạn ngồi xung quanh,
các giáo viên bộ môn, những người hàng xóm…
III. Hướng phối hợp xử lý, lưu trữ, khai thác thông tin về từng học sinh cá biệt.
1-Xử lý phân tích thông tin thu được: kết hợp, đối chiếu, so sánh thông tin thu
được từ các nguồn khác nhau, trên cơ sở đó, phân tích, đánh giá để giữ lại những thông
tin được kiểm chứng từ nhiều nguồn, sau đó tổng hợp, khái quát hóa để có những nhận
định cơ bản về học sinh Đây là cơ sở để đánh giá chẩn đoán về một học sinh cụ thể.
-Đánh giá chẩn đoán: là một thành phần quan trọng trong công tác giáo dục.
Chẩn đoán trong giáo dục không chỉ để nhận dạng các khó khăn và các thiếu hụt
trong kiến thức, nhân cách của học sinh mà còn để nhận dạng các điểm mạnh, các
năng lực đặc biệt của học sinh. GV chẩn đoán nhằm giúp học sinh học tốt hơn chứ
thầy cô, cha mẹ hoặc thầy cô, cha mẹ không đánh giá mình đúng mức quyết định
không đáp ứng lại các mong mỏi, các yêu cầu do người lớn đề ra, từ đó mất dần hứng thú
và cố gắng.
- Trong quá trình thích nghi với môi trường mới, nếu học sinh lỡ vi phạm, mắc lỗi,
các em rơi vào cảm giác không an toàn giảm hứng thú, động cơ học tập thậm chí chán,
bỏ học
- Phương pháp học tập không hiệu quả cũng là nguyên nhân gây chán nản và mất
động cơ học tập.
4- Rối loạn hành vi xã hội của học sinh cá biệt
*Các mức độ rối loạn hành vi xã hội:
- Dửng dưng trước tình cảm của những người xung quanh
- Coi thường các chuẩn mực cũng như các nghĩa vụ xã hội
- Hung tợn, có thể dùng vũ lực
- Không có khả năng cảm nhận tội lỗi và không thể rút ra những bài học có ích từ
kinh nghiệm sống, ngay cả sau những lần bị phạt do phạm lỗi
- Có năng khiếu trong việc kết tội những người xung quanh hoặc biện hộ cho
những hảnh động đi ngược lại chuẩn mực của mình
* Các biểu hiện của rối loạn hành vi xã hội:
- Côn đồ, rất thích đánh nhau
- Hung hãn, tàn bạo với mọi người và với súc vật
- Phá hoại mọi tài sản sở hữu
- Ăn cắp, ăn trộm, đốt phá
- Bỏ học, Bỏ nhà đi bụi
- Rất hay lên cơn thịnh nộ, giận dữ
Trang 5
- Hay khiêu khích, châm chọc mọi người xung quanh
- Thường xuyên và công khai không chịu nghe lời
* Phân loại rối loạn hành vi thành ba nhóm, gồm:
- Nhóm rối loạn hành vi được giới hạn bởi những điều kiện gia đình: thể hiện
sự quậy phá trong gia đình, nguyên nhân do cha mẹ đối xử với con cái quá khắc nghiệt,
-Tập trung vào điểm mạnh của trẻ
-Tìm điểm tích cực và nhìn nhận tình huống theo cách khác tích cực
-Tập trung vào những điểm cố gắng , tiến bộ của trẻ.
-Thực hiện trước khi một hành động diễn ra, không chỉ khi thành công mà cả khi khó
khăn hoặc thất bại.
GV sẽ khơi dậy ở học sinh nhu cầu muốn khẳng định khả năng và giá trị của bản
thân, muốn hoàn thiện nhân cách. Từ đó các em được khích lệ để tự tin và có động cơ
hoạt động.
2- Giúp học sinh biết nhận thức đúng về điểm mạnh và điểm yếu của bản
thân.
Để học sinh có những ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ, trong các tình
huống, cần giúp học sinh nhận thức đúng bản thân, trong đó phải xác định được “ Ta là
ai? Ta có điểm mạnh, điểm yếu gì?”
* Nhận thức được những giá trị đối với bản thân: nhận thức được điều gì có ý
nghĩa và quan trọng đối với bản thân, và những điều đó có phải thực sự là chân giá trị của
con người và đời người không? Rất quan trọng nữa là cần nhận thấy bên cạnh những hạn
chế nhất định, mình là người có giá trị thì học sinh mới có nhu cầu, động lực để hoàn
thiện bản thân.
* Tự tin về giá trị và những điểm mạnh của mình để làm điểm tựa cho những hành
vi và ứng xử một cách tích cực: Trên cơ sở làm cho học sinh nhận thức được những điểm
mạnh, giá trị của bản thân, giáo viên cần khích lệ để các em tự tin phát huy những điểm
mạnh và giá trị đó, đồng thời cố gắng khắc phục những hạn chế, những niềm tin vào
những cái phi giá trị hoặc phản giá trị để thay đổi hành vi, thói quen xấu, tiêu cực theo
hướng lành mạnh và tích cực lên.
3- Giúp học sinh nhận thức được hậu quả của những hành vi tiêu cực và tất
yếu phải thay đổi thói quen, hành vi cũ.
Quá trình thay đổi hành vi là một quá trình khó khăn đòi hỏi sự kiên trì của học
sinh cá biệt và sự khuyến khích, hỗ trợ của giáo viên, gia đình, bạn bè. Có thể chia quá
trình đó ra 5 bước:
- Nhận ra hành vi có hại;
VI. Phương pháp đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh cá biệt
1-Đánh giá hành vi không đồng nhất với đánh giá nhân cách
2-Đánh giá theo quan điểm tích cực đối với học sinh cá biệt
3- Đánh giá sự tiến bộ của chính học sinh cá biệt theo quá trình
4-Đánh giá cuối cùng theo chuẩn quy định
C. VẬN DỤNG
GIÁO DỤC HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CÁ BIỆTTrải qua hơn 30 năm giảng dạy và đã từng làm công tác chủ nhiệm, tôi đã gặp nhiều
Trải qua hơn 30 năm giảng dạy và đã từng làm công tác chủ nhiệm, tôi đã gặp nhiều
học sinh cá biệt. Các em có những tính cách khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, có em thì
học sinh cá biệt. Các em có những tính cách khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, có em thì
Trang 8
cá biệt về học lực, có em thì cá biệt hành vi, cá biệt về thái độ trong giao tiếp với bạn
cá biệt về học lực, có em thì cá biệt hành vi, cá biệt về thái độ trong giao tiếp với bạn
bè….mỗi trường hợp tôi đều có những hướng suy nghĩ “làm sao có thể giúp em vượt qua
bè….mỗi trường hợp tôi đều có những hướng suy nghĩ “làm sao có thể giúp em vượt qua
những khó khăn, những rào cản đã dẫn em tới những hành vi, động cơ không bình
những khó khăn, những rào cản đã dẫn em tới những hành vi, động cơ không bình
thường”… Trong năm học 2013 – 2014 này có 1 học sinh nữ tên A đã làm tôi rất mệt
thường”… Trong năm học 2013 – 2014 này có 1 học sinh nữ tên A đã làm tôi rất mệt
mỏi vì sự chây lười và bất cần của em trong học tập.
mỏi vì sự chây lười và bất cần của em trong học tập.
- Em A thường xuyên ngủ trong giờ học, không học bài, không làm bài tập, vắng học
- Em A thường xuyên ngủ trong giờ học, không học bài, không làm bài tập, vắng họckhông xin phép, …
không xin phép, …
việc gì phải lo lắng cho một HS thiếu cố gắng, thiếu trách nhiệm với bản thân như thế” ,
việc gì phải lo lắng cho một HS thiếu cố gắng, thiếu trách nhiệm với bản thân như thế” ,
nhưng rồi bản năng của một người giáo viên không yên tâm khi một HS học tập sa sút,
nhưng rồi bản năng của một người giáo viên không yên tâm khi một HS học tập sa sút,
cần phải giúp được em dù khó cũng nên cố gắng”. A vẫn vi phạm, vẫn không thuộc bài,
cần phải giúp được em dù khó cũng nên cố gắng”. A vẫn vi phạm, vẫn không thuộc bài,
không nhớ nổi một công thức vật lý đơn giản nhất. Tôi suy nghĩ nhiều về em, tìm cách
không nhớ nổi một công thức vật lý đơn giản nhất. Tôi suy nghĩ nhiều về em, tìm cách
cùng em học tập. Có một hôm, đến lớp buổi 2 không thấy em đi học và lớp cho biết bạn
cùng em học tập. Có một hôm, đến lớp buổi 2 không thấy em đi học và lớp cho biết bạn
ấy không xin phép. Tôi nhắn tin cho em“
ấy không xin phép. Tôi nhắn tin cho em“
Em có vấn đề gì không, mà
Em có vấn đề gì không, màsao hôm nay em
sao hôm nay em
không đi học”
không đi học”
? A trả lời: “
? A trả lời: “
em bị đau đầu và ngủ quên”
em bị đau đầu và ngủ quên”
. Tôi lại nhắn tin:
. Tôi lại nhắn tin:
“Em cố gắng
“Em cố gắng
uống thuốc, ăn uống đầy để mau khỏe nhé, ngày mai đi học nhé”
uống thuốc, ăn uống đầy để mau khỏe nhé, ngày mai đi học nhé”
”? Em cố lên nhé….Em đã bắt đầu có sự chuyển biến về ý thức học tập trên lớp. Năm học đã đã gần kết thúc,
Em đã bắt đầu có sự chuyển biến về ý thức học tập trên lớp. Năm học đã đã gần kết thúc,hi vọng với sự cố gắng của tôi và cả của bản thân em sẽ giúp em vượt qua những khó
hi vọng với sự cố gắng của tôi và cả của bản thân em sẽ giúp em vượt qua những khó
khăn để đạt kết quả học tập tốt.
khăn để đạt kết quả học tập tốt.
Chuyên đề 10
Chuyên đề 10
:
:
RÀO CẢN TÂM LÝ TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THPT
RÀO CẢN TÂM LÝ TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THPT
TỔNG QUAN VỀ RÀO CẢN
TỔNG QUAN VỀ RÀO CẢN
TRONG HỌC TẬP CỦA HS THPT
TRONG HỌC TẬP CỦA HS THPT
HS ngày nay có nhiều thuận lợi để phát triển. Đồng thời cũng chịu nhiều áp lực từ cha
HS ngày nay có nhiều thuận lợi để phát triển. Đồng thời cũng chịu nhiều áp lực từ chamẹ, nhà trường, xã hội;
mẹ, nhà trường, xã hội;Đó là những áp lực tâm lý nhiều chiều và cũng là rào cản về mặt tâm lý đối với việc
nguyên nhân và những ảnh hưởng của rào cản tâm lý đến kết quả học tập của học sinh.- Vận dụng các PP, kỹ năng để hỗ trợ HS.
- Vận dụng các PP, kỹ năng để hỗ trợ HS.3. Thái độ:
3. Thái độ:
Có thái độ đúng đắn đối với rào cản tâm lý trong học tập, rèn luyện, các hành vi
Có thái độ đúng đắn đối với rào cản tâm lý trong học tập, rèn luyện, các hành viphát hiện và phòng chống rào cản tâm lý và những ảnh hưởng của nó trong học tập.
phát hiện và phòng chống rào cản tâm lý và những ảnh hưởng của nó trong học tập.
- Khái niệm rào cản tâm lí và rào cản tâm lí trong học tập là gì?
- Khái niệm rào cản tâm lí và rào cản tâm lí trong học tập là gì?
+ Rào cản tâm lí là những khó khăn tâm lí ở mức độ cao, trở thành những thách
+ Rào cản tâm lí là những khó khăn tâm lí ở mức độ cao, trở thành những tháchthức, trở ngại ở mức độ lớn, làm giảm động lực hoạt động của con người, ảnh hưởng tiêu
thức, trở ngại ở mức độ lớn, làm giảm động lực hoạt động của con người, ảnh hưởng tiêucực đến kết quả hoạt động.
cực đến kết quả hoạt động.
+ Rào cản tâm lí trong học tập chẳng qua là những khó khăn tâm lí trong học tập
+ Rào cản tâm lí trong học tập chẳng qua là những khó khăn tâm lí trong học tập
- Nhận thức chưa đầy đủ về nhiệm vụ học tập.
- Đánh giá chưa đúng về bản thân;
- Đánh giá chưa đúng về những vấn đề cần học tập.
2. Về mặt xúc cảm, tình cảm: Đây là thái độ con người thể hiện trong quá trình
học tập. Nếu HS làm chủ xúc cảm, tình cảm sẽ học tốt;
Ngược lại, HS thường thiếu khả năng kiềm chế xúc cảm, tình cảm
3. Về mặt hành vi: Là sự vận dụng toàn bộ các cơ quan trong cơ thể, đặc biệt là
bộ não và sự tham gia của các giác quan để hiện ra các hành động tích cực hoặc tiêu
cực
II. NHIỆM VỤ:
1. Phân tích khái niệm khó khăn tâm lí và khó khăn tâm lí trong học tập.
- Đọc và tiếp nhận các thông tin cho hoạt động.
- Tìm các các ví dụ và các luận cứ làm rõ khái niệm và một số biểu hiện về khó
khăn tâm lí nói chung và khó khăn tâm lí trong học tập của HS THPT.
- Tìm các biểu hiện về mặt nhận thức của rào cản tâm lý trong học tập của HS.
2. Phân tích các biểu hiện do ảnh hưởng tâm lí của HS THPTở trường, ở ngành và
đề ra các giải pháp khắc phục
3. Phân tích một hoặc một số ví dụ về khó khăn tâm lí trong học tập và rào cản tâm
lí trong học tập của HS.
III. XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA RÀO CẢN TÂM LÝ
ĐẾN VIỆC HỌC TẬP CỦA HS THPT.
Trang 11
* Chủ quan:
-Thiếu kinh nghiệm sống và học tập độc lập
- Chưa có PP học tập tốt.
- Chưa tích cực chủ động; -Không hứng thú học tập
- Không tự tin;
- Có cảm giác thiếu sự quan tâm của gia đình, nhà trường và xã hội quan tâm của
* Nguyên nhân khách quan:
- Môi trường học tập THPT khác THCS; - Tính chất học tập, yêu cầu học tập cao
giao tiếp.
2. Rào cản từ ngoại hình
• Nhiều học sinh ngại giao tiếp với mọi người. Ngoại hình luôn là một ưu thế vô
hình giúp nhiều HS tự tin và ngược lại cũng khiến không ít HS tự ti cũng như ngại
tiếp xúc với bạn bè.
• Để giải quyết vấn đề này:
• Hãy thay đổi phong cách ăn mặc và đầu tóc của mình sao cho hợp lý nhất.
• Một trang phục đẹp không nhất thiết phải đắt tiền.
• Hãy chọn lựa trang phục với hai tiêu chí.
• Một là hợp với môi trường.
• Hai là hợp với tính cách. Mặc đẹp không chỉ giúp mọi người tự tin mà còn là
bước đệm để bạn tiến gần hơn với thế giới bên ngoài.
3.Rào cản từ ngôn ngữ
• Không có khiếu trò chuyện, có quá ít từ ngữ để nói, để trao đổi hoặc nói quá nhiều
cũng là một trong những rào cản lớn khiến việc giao tiếp của HS kém hiệu quả.
Những HS có vốn kiến thức bao giờ cũng “tự tin hơn”.
4. Rào cản từ Cảm xúc
• Cảm xúc thường là yếu tố chi phối hành động vì vậy hành động khi cảm xúc
không ổn định là hành động “dại dột” nhất trong những điều “dại dột”. Ngoài ra,
những HS bị bệnh lo âu, trầm cảm, nóng nảy thường có xu hướng hiểu sai ý của
người khác.
Vì vây, cảm xúc cũng là một trong những yếu tố khiến giao tiếp trở nên khó
khăn.
5. Rào cản từ thiếu kiến thức
Trang 13
• Những HS có vốn kiến thức sâu rộng bao giờ cũng “Tự tin” hơn những HS có vốn
kiến thức hạn hẹp.
• Những HS có vốn kiến thức hạn hẹp sẽ chia thành hai loại:
- Một là ngại giao tiếp;
- Hai là giao tiếp nhiều nhưng thông tin sai lệch hoặc đón nhận thông tin “lệch lạc” từ
+ Phương pháp học tập chưa phù hợp
+ Kiến thức trong chương trình nặng so với khả năng học tập
+……………………
-
-
Giải pháp khắc phục
Giải pháp khắc phục
+ GV giúp các em phát huy thế mạnh của bản thân: hát, múa, kể chuyện, đọc thơ, …
nhằm tạo sự tự tin cho HS.
+ Xây dựng câu hỏi, bài tập phù hợp với khả năng HS
+ Xác định mục đích học tập của các em
+ Trao đổi với gia đình HS
+ Lập kế hoạch học tập hàng ngày
+ GV tận tình dạy bảo
Trang 14
+ Khuyến khích học sinh phát biểu ý kiến
+ Tạo cảm giác thân thiện với học sinh.
+ Khen gợi khi các em có biểu hiện học tập, sinh hoạt tốt, tiến bộ
+ Trong tiết học, nếu giáo viên nhận thấy HS có biểu hiện mệt, chán học, mất tập trung…
thì không nên trách phạt các em mà tìm cách để gây sự chú ý của các em vào giáo viên,
như:
Kể mẩu chuyện nhỏ với đề tài mà các em quan tâm, nói chuyện tiếu, kể chuyện
cười….Tùy vào đối tượng học sinh mà người dạy có cách khác nhau.
Chuyên đề 11:
CHĂM SÓC HỖ TRỢ TÂM LÝ HỌC SINH NỮ, HỌC SINH NGƯỜI DÂN TỘC
THIỂU SỐ TRONG TRƯỜNG THPT
A - MỤC TIÊU CHUNG:
- Giup GV hiểu được khái niệm, nội dung của hoạt động chăm sóc, hỗ trợ tâm lý
đối với học sinh, đặc biệt là học sinh nữ và học sinh dân tộc thiểu số ở trường THPT và
vai trò của GV khi chăm sóc hỗ trợ tâm lí đối với học sinh, đặc biệt là HS nữ và HS dân
bước vào tuổi người lớn.
Tuổi dậy thì → tuổi thanh niên
↓ ↓
Sinh học xã hội
-Tâm lý học macxit cho rằng cần phải nghiên cứu tuổi thanh niên một cách phức tạp, phải
kết hợp quan điểm tâm lý học xã hội với việc tính đến những quy luật bên trong của sự
phát triển.
- Tuổi thanh niên kéo dải tử 14,15-25 tuổi, chia thành 2 thời kỳ:
+ 14,15-17.18 tuổi: thanh niên mới lớn (HS THPT).
+17,18-25 tuổi: tuổi thanh niên (giai đoạn 2 của tuổi thanh niên).
*Đặc điểm cơ thể:
-Về sinh lý: đây là giai đoạn các em bước vào thời kỳ phát triển bình thường hài hòa, cân
đối.
+Tuổi thanh niên là thời kỳ đầu đạt được sự tăng trưởng về mặt thể lực.
+ Chiều cao trọng lượng : tiếp tục phát triển , tốc độ chậm lại.
+Hệ cơ phát triển ở mức cao. Hệ xương cốt hóa
+Hệ tuần hoàn hoạt động bình thường.
+Não: trọng lượng và chức năng tương đương não người lớn
+-Đa số các em đã vượt qua thời kỳ phát dục.
+Giới tính biểu hiện rõ rệt về hình thể lẫn chức năng.
+Nhìn chung : thể chất phát triển mạnh mẽ, có sức khỏe tốt.
-Về tâm lý: sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên
trong não phức tạp và các chức năng của não phát triển.
*Những điều kiện xã hội của sự phát triển:
-Trong gia đình:
+Vị trí ngày càng được khẳng định.
+Được tham gia bàn bạc việc gia đình.
+Yêu cầu cao hơn trong công việc, trong cách suy nghĩ.
-Trong nhà trườngNòng cốt các phong trào)
-Tham gia tổ chức Đoàn TNCS.
+Đặc điểm cơ bản:
. Chú ý đến hình dáng bên ngoài
.Qúa trình tự ý thức diển ra mạnh mẽ, sôi nổi, có tính đặc thù riêng.
.Sự tự ý thức của các emxuat61 phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động -> địa vị mới
mẻ trong tập thể, những quan hệ mới với thế giới xung quanh buộc thanh niên phải ý thức
được đặc điểm nhân cách của mình.
+Nội dung:
.Các em không chỉ nhận thức về cái tôi của minh trong hiện tại mà còn chất phức tạp,
biểu hiên những quan hệ nhiều mặt của nhân cách.
+Ý nghĩa:
Việc tự phân tích có mục đích là một dấu hiệu cần thiết của một nhân cách đang trưởng
thành và là tiền đề của sự tự giáo dục có mục đích.
Kết luận sư phạm: Các nhà giáo dục cần phải trọng trong ý kiến của hs, biết lắng nghe ý
kiến của các em, đồng thời có biện pháp khéo léo để các em hình thành được một biểu
tượng khách quan về nhân cách của mình.
-Giao tiếp và đời sống tình cảm:
.Giao tiếp trong nhóm bạn.
.Tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất.
.Ở lứa tuổi này, các em có khuynh hướng làm bạn với bạn bè cùng tuổi.
.Các em tham gia vào nhiều nhóm bạn khác nhau.
> Kết luận sư phạm: Nhà giáo dục cần chú ý đến ảnh hưởng của nhóm, tổ chức cho các
nhóm tham gia vào các hoạt động tập thể của của đoàn…
*Hoạt động lao động và sự lựa chọn nghề:
-Hoạt động lao động tập thể có vai trò lớn trong sự hình thành và phát triển nhân cách
thanh niên mới lớn.
-Việc lựa chọn nghề nghiệp đã trở thành công việc khẩn thiết của hs mới lớn.
Trang 17
> Kết luận sư phạm: Nhà GD cần giúp các em lựa chon5nganh2 nghề phù hợp với khả
năng, năng lực của các em.
*Một số vấn đề GD:
- Giup hs vượt qua sự căng thẳng:
Căng thẳng (stress) là phản ứng của con người đối với một tác nhân được coi là có hại
cho cơ thể và tâm lý con người.
Các tác nhân gây hại cho con người rất đa dạng từ những tác nhân bên ngoài, những sự
kiện của cuộc sống đến những rắc rối phức tạp hàng ngày và tính chất công việc của mỗi
người. Các tác nhân bên trong cũng gồm nhiều loại như xung dột nội tâm; các suy nghĩ
đánh giá tình huống, sự kiện một cách tiêu cực và cả những vấn đề về sinh lý.
Căng thẳng là một thực tế cuộc sống. Nó là thương số của áp lực cuộc sống và nội
lực bản thân của mỗi người.
Trang 18
*Khi căng thẳng, con người thường có những biểu hiện:
- về sinh lý, hành vi, cảm xúc và nhận thức: đau dầu, mệt mõi, căng cơ ở cổ, lưng và quai
hàm, tim đập mạnh, thở nhanh, ốm, thay đổi thói quen ngủ, có tật hay run và lo lắng, đi
ngoài, khó tiêu, nôn, đi tiểu thường xuyên, mồm và họng khô, giảm ngon miệng.
-Về hành vi: nói lắp, mắc lỗi hơn thường lệ, hút nhiều thuốc lá hơn, thể hiện sự thiếu kiên
nhẫn, không có khả năng thư giãn, nghiến răng, thiếu sự mềm dẻo trong ứng xử, né tránh
mọi người, có những lời nói xúc phạm người khác, không hoàn thành công việc.
- Về cảm xúc: lo lắng, tức giận, ấm ức, hành vi hung hăn hơn, khó chịu, trầm cảm hoặc
cảm thấy buồn bã, khó chịu, muốn khóc, chạy trốn, phủ nhận cảm xúc, buồn tẻ.
- Về nhận thức: suy nghĩ theo một chiều, thiếu sáng tạo không có khả năng lập kế hoạch,
quá lo lắng về quá khứ hoặc tương lai, thiếu tập trung, tư duy tiêu cực, tư duy cứng nhắc,
gặp ác mộng, mơ ngày.
Về nguyên tắc, muốn giảm bớt sự căng thẳng cho học sinh, cần làm giảm bớt các áp lực
đối với các em và gia tăng nội lực của bản thân trẻ.
Giảm bớt áp lực của cuộc sống và những hoạt động cơ bản cho trẻ không đơn giản.
Phương hướng chung là giúp các em sắp xếp thời gian hợp lý và giúp trẻ biết cách lập kế
hoạch để sắp xếp công việc theo một lịch trình hợp lý hoặc chia nhỏ công việc thành
những công việc để làm hằng ngày, hằng tuần sẽ giúp trẻ dễ dàng đạt được thời hạn và
giảm căng thẳng.
Nếu căng thẳng do suy nghĩ tiêu cực của các em gây ra, người lớn cần gần gũi trẻ, giúp
- Học sinh viết lý lịch ( giáo viên tìm hiểu sơ lược )
+ Họ và tên
+ Ngày tháng năm sinh
+ Đoàn viên, gia đình chính sách
+ Số điện thoại của học sinh
+ Học và tên cha, mẹ, nghề nghiệp, đơn vị công tác, số điện thoại
+ Địa chỉ thường trú
+ Gia đình gồm có những ai
+ Sở thích của học sinh
+ Học sinh thường tâm sự, trò chuyện với ai
+ Không thích những gì
+ Ước mơ
+ Giải trí bằng cách nào
+ Năng khiếu….
- Giờ sinh hoạt chủ nhiệm cho học sinh ghi những câu hỏi nhỏ về mọi phía
cạnh , những khó khăn cần giúp đỡ ( không ghi tên học sinh). Cách này
giáo viên có thể phát hiện những khó khăn về tâm lý rất lớn đối với học
sinh, nhất là học sinh nữ.
- Trò chuyện trực tiếp với học sinh
- Trò chuyện riêng với các em…
B- Giải pháp
- Luôn luôn lắng nghe các em
- Luôn luôn tạo cảm giác an toàn cho các em
- Tạo cơ hội để các em tâm sự
Trang 20
- Đừng ngăn cấm mà phải giải thích để các hiểu vấn đề
- Cho các em cơ hội để sửa sai, để bày tỏ, để thể hiện…
- Giúp các em phân biệt đúng, sai
- Khoan dung, giúp đỡ, thông cảm cho học sinh
Chuyên đề 12:
3. Stress trong học tập:
- Trong học tập, HSTHPT chịu rất nhiều tác động, áp lực không chỉ nội dung, yêu cầu tri
thức môn học mới mà còn ở phương pháp giảng dạy, thái độ của GV bộ môn, …
- Vị trí của HSTHPT trong nhà trường, trong XH đã thay đổi (quan hệ thầy cô, bạn bè đã
thay đổi; quan hệ với các nhóm khác nhau, chuẩn mực khác nhau, trong XH đã thay đổi)
- Stress trong học tập xuất hiện khi nhiệm vụ học tập trở thành tình huống có vấn đề của
mình.
- Stress trong học tập có tác dụng phát triển khả năng giải quyết vấn đề, giúp HS thích
ứng tốt nhất với môi trường tri thức mới. Nhưng nếu những vấn đề, những mâu thuẫn
trong nhận thức của HS không được giải quyết thì có thể phá vỡ sự cân bằng tâm – sinh
lý của HS, có thể dẫn đến những rối loạn thích nghi tạm thời, làm cho các em khó hoặc
không thể giải quyết những vấn đề trong học tập đang đặt ra đối với các em.
4. Phân loại stress:
a. Dựa vào mức độ gây ra stress: có 2 loại
- Eustress (stress tích cực): là phản ứng thích nghi với tác nhân thông qua 2 giai đoạn báo
động (ý thức được tác động rõ ràng) và kháng cự (huy động năng lực tâm lý, sẵn sàng
đáp ứng đối với tác nhân kích thích).
- Dystress (stress tiêu cực): thông qua 3 giai đoạn báo động, kháng cự và suy kiệt (Quá
trình stress diễn ra quá sức chịu đựng. Giai đoạn kháng cự kéo dài,
liên tục và thất bại, làm giảm khả năng miễn dịch của cơ thể dẫn đến suy kiệt).
b. Dựa vào nguyên nhân gây ra stress: 3 loại (tham khảo)
- Sinh thái:
+ Rối loạn chu kỳ nhịp sinh học
+ Rối loạn nhịp ăn và ngủ
+ Chấn thương và bệnh tật
+ Tiếng ồn và các tác động vật lý, sinh hoá
- Tâm lý – xã hội:
+ Nhóm xã hội, trình độ tâm lý, ứng xử xã hội
+ Sự thất vọng
+ Sự quá tải
a. Ứng phó nhắm vào tác nhân: Làm thay đổi tác nhân gây ra stress hoặc thay đổi mối
quan hệ giữa con người với tác nhân đó thông qua những hành động trực tiếp hoặc những
hành động giải quyết vấn đề.
Cụ thể:
- Chống trả: phá huỷ, rời chỗ hoặc làm yếu mối đe dọa
- Bỏ chạy: chạy xa khỏi mối đe dọa
Trang 23
- Thương lượng, mặc cả, thỏa hiệp
- Ngăn ngừa stress trong tương lai: hành động nhằm gia tăng sức chống đỡ hoặc làm
giảm ảnh hưởng của stress được ngăn chặn trước
b. Ứng phó nhắm vào cảm xúc: làm thay đổi bản thân thông qua các hành động khiến
bản thân cảm thấy dễ chịu hơn nhưng không làm thay đổi các tác nhân gây ra stress.
Cụ thể:
- Các hoạt động nhắm vào thân thể: dùng thuốc, thư giãn, hồi sinh học.
- Các hoạt động nhắm vào nhận thức: những trò tiêu khiển …
2. Kỹ năng làm giảm mức độ của stress trong học tập:
Trước hết phải quản lý được căng thẳng của bản thân trong học tập: HS phải biết nhận ra
các dấu hiệu của stress (dựa vào các biểu hiện của stress)
- Điều chỉnh phương pháp học tập, ôn tập, nghỉ ngơi, thư giãn hợp lý: Tránh học dồn, thi
mới học, HS học theo kiểu “Nước chảy đến chân mới nhảy” rất dễ bị dystress do tâm lý
sợ học không kịp, thiếu an tâm, tình trạng này dẫn đến làm
giảm trí nhớ thậm chí đầu óc có thể rơi vào tình trạng “trống rỗng”; học đêm ngủ ngày;
trí não của con người chỉ có thể hoạt động hiệu quả trong vòng 45-60 phút, sau đó cần
được nghỉ ngơi, giải lao hoặc làm những công việc tay chân từ 10-15 phút sau đó mới
hoạt động trí não trở lại.
- Xoa bóp và những bài tập hít thở thư giãn.
- Không nên nhận quá nhiều công việc cùng một lúc.
- Hãy làm gì đó cho những người khác.
- Dùng đủ các thực phẩm như sữa, trứng, thịt, cá, rau, quả, dầu đậu nành, dầu mè.
- Cà phê, trà đậm kích thích hệ thần kinh trung ương làm cho tỉnh táo, chống lại cơn buồn