MỤC LỤC
1.Tóm tắt . Tr 2
2. Giới thiệu . Tr 3
3. Tên đề tài . Tr 5
4. Phương pháp nghiên cứu. Tr 7
5. Khách thể nghiên cứu . Tr 8
6. Thiết kế nghiên cứu. Tr 9
7. Qui trình nghiên cứu. Tr 10
8. Đo lường và thu thập dữ liệu. Tr 12
9. Phân tích dữ liệu và bàn luận kết quả. Tr 13
10. Kết luận và khuyến nghị. Tr 14
11. Tài liệu tham khảo. Tr 15
12. Phụ lục . Tr 16
- 1 -
TÓM TẮT
Lâu nay trong các sách chuyên môn viết về kỹ thuật chạy lao sau xuất phát khi
chạy 100m, các tác giả đều thống nhất rằng người chạy phải dùng sức tích cực, mau
chóng đạt được tốc độ tối đa của mình để sớm chuyển sang giai đoạn chạy giữa
quãng với tốc độ cao đã đạt và cố gắng duy trì tốc độ đó cho tới khi về đích. Điều đó
cũng gặp trong các sách của các tác giả nước ngoài:Trong cuốn “Chạy cự ly ngắn”
của V.Philin (Liên Xô cũ) bằng tiếng Việt, do Nhà xuất bản Thể thao- Hà Nội phát
hành năm 1977 đã có 1 bảng cho biết kết quả kiểm tra các VĐV chạy 100m xuất sắc
của Liên Xô ở năm 1960 và 1961: Đạt độ dài bước hợp lý (ổn định để chuyển sang
chạy với kỹ thuật chạy giữa quãng) từ bước thứ 13 đến bước thứ 15. Kết thúc giai
đoạn chạy lao ở mét thứ 21 đến 23,66m; tức là sau khi mới chạy 3,7s – 3,9s .
* “ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN KỸ THUẬT CHẠY NGẮN HIỆN ĐẠI”
- Ngày càng coi trọng động tác, kết cấu điển hình của kỹ thuật chạy ngắn.
- Ngày càng coi trọng kỹ thuật lắc người, đánh tay.
- Rút ngắn thời gian nâng đùi và thời gian bay trên không.
- Kéo dài thời gian và khoảng cách duy trì sự tăng tốc.
Nói tóm lại : cho dù có trình độ, tuổi tác và giới tính khác nhau, nhưng đều không có
Thông qua TDTT ta có thể đánh giá được sự phát triển của văn hóa thể chất ở mỗi
địa phương, dân tộc, quốc gia.
Điền kinh là một môn thể thao phong phú và đa dạng, không những có tác dụng
tăng cường sức khoẻ cho người tập mà còn là cơ sở để phát triển các tố chất thể lực
như: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo… Để phát triển được
thành tích thể thao nói chung và điền kinh nói riêng thì ta phải có phương pháp huấn
luyện đối với từng nội dung cụ thể.
Hoàn thiện kĩ thuật, thông thường được hiểu là phương pháp thực hiện động
tác thể thao một cách hợp lí và có hiệu quả nhất để đạt thành tích cao. Một động tác
- 3 -
toàn vẹn như chạy, nhảy, ném có thể chia thành các giai đoạn. Mội giai đoạn lại gồm
nhiều bộ phận cấu thành và các thời điểm xác định những ưu thế riêng của người
tập. Sự phân chia như vậy nhằm mục đích thuận lợi cho việc mô tả và phân tích kĩ
thuật để giảng dạy động tác có hiệu quả.
Chạy cự ly ngắn là một trong những nội dung chính của một môn thể thao trong
trường trung học, bao gồm các cự ly từ 60m đến 400m. Trong đó chạy 100m, 200m,
400m là các nội dung thi chính thức trong các Đại hội Olympic và các cuộc thi đấu
lớn. Thành tích đạt được trong chạy cự ly ngắn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố thể
lực như: Sức mạnh, tốc độ, sức bền … Để các em học sinh trong trường THCS rèn
luyện và phát huy được các yếu tố thể lực trên, chúng ta phải có phương pháp huấn
luyện như thế nào cho hợp lý.
- 4 -
TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
“ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP HUẤN LUYỆN ĐỘI TUYỂN CHẠY
NGẮN ĐỐI VỚI HỌC SINH THCS”
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục thể chất trong các trường phổ thông là một bộ phận hữu cơ của mục
tiêu giáo dục và đào tạo, đồng thời là một mặt giáo dục cho thế hệ trẻ, nhằm đào tạo
ra lớp người " phát triển cao về trí tuệ , cường tráng về thể chất, phong phú về tinh
thần, trong sáng về đạo đức". Để đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực
" ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP HUẤN LUYỆN ĐỘI TUYỂN CHẠY NGẮN ĐỐI
VỚI HỌC SINH THCS".
- 6 -
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
Để giải quyết tốt các vấn đề trên tôi áp dụng các phương pháp sau:
1. Phương pháp lựa chọn và so sánh đối chiếu.
2. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
3. Phương pháp trao đổi toạ đàm.
4. Phương pháp quan sát sự phạm.
5. Phương pháp phỏng vấn.
6. Phương pháp toán học thống kê.
- 7 -
III. KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU VÀ THỜI GIAN
THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Khách thể nghiên cứu :
10 học sinh trường THCS An Trạch, trong đó có 5 học sinh Nam và 5 học
sinh Nữ. Chỉ đi sâu nghiên cứu phương pháp huấn luyện chạy cự ly ngắn cho đội
tuyển Điền khinh của trường.
2. Thời gian thực hiện:
Sau khi đã lựa chọn được những học sinh có thành tích vượt trội tôi đã lên kế
hoạch huấn luyện để kịp tham gia thi đấu tại HKPĐ và tôi đã tiến hành huấn luyện từ
tháng 9/2011 đến tháng 12/2011. Tuy nhiên việc huấn luyện cũng gặp nhiều khó khăn
nên không thường xuyên được vì các em còn tham gia việc học tập chính khoá trong
nhà trường.
- 8 -
IV. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
1. Tình trạng thực tế trước khi thực hiện
Vào đầu năm học 2011 - 2012 lãnh đạo nhà trường giao nhiệm vụ cho tôi huấn
luyện đội tuyển tham dự Đại hội Khoẻ Phù Đổng Huyện, nên tôi đã tổ chức thi chọn
các em vào đội tuyển chạy cự ly ngắn của trường để huấn luyện các em đi thi đấu đạt
Cho các em tập các động tác bổ trợ nâng cao đùi với tần số nhanh sau đó chạy
với tốc độ cao 13 đến 20m. giáo viên nhắc học sinh chạy bằng nửa bàn chân trên, mỗi
buổi tập từ 3 đến 5 lần với cường độ cao.
b. Nhóm bài tập 2: Rèn sức mạnh tốc độ
Cho các em ngồi xuống và bật thẳng lên cao 10 lần sau đó chạy hết tốc độ 10
đến 15 m. (Lưu ý: khi chạy chạy bằng nửa bàn chân trên ) mỗi từ buổi tập từ 3 đến 5
lần với cường độ cao.
c. Nhóm bài tập 3: Luyện sức bền tốc độ
Cho các em chạy 200m . (Lưu ý: khi chạy chạy bằng nửa bàn chân trên và chỉ
thở 2 đến 5 lần ) và duy trì hết cự ly mỗi buổi tập từ 2 đến 3 lần
d. Nhóm bài tập 4: Luyện tập chạy giữa quãng:
Cho các em chạy chậm sau khi đến vạch xuất phát thì tăng hết tốc độ khoảng
20 đến 30m, mỗi buổi tập từ 3 đến 5 lần.
e. Nhóm bài tập hoàn thiện kỹ thuật
Các nội dung này được luyện tập từ 2 đến 3 tháng. Sau đó cho các em thực
hiện toàn bộ kỹ thuật chạy ngắn từ giai đoạn xuất phát đến giai đoạn về đích; kỹ thuật
xuất phát cao và xuất phát thấp, sau giai đoạn xuất phát là giai đoạn chạy lao, sau đó
là giai đoạn chạy giữa quãng. Trong kỹ thuật chạy ngắn vấn đề then chốt là chạy
bằng nửa bàn chân trên. Trong khi chạy ngắn vận động viên nên nín thở hoặc chỉ thở
1 lần. Giáo viên giới thiệu cho các VĐV nắm được các điều luật chạy ngắn ở giải cơ
sở ( giải phong trào). Trong mỗi buổi tập giáo viên cho các VĐV thi đấu thử để nâng
cao thành tích. Nhóm bài tập hoàn thiện toàn bộ kỹ thuật chạy ngắn và chuẩn bị thể
- 10 -
lực, tâm lý thi đấu được thực hiện từ 1 đến 2 tháng sau đó giáo viên kiểm tra thành
tích của VĐV. Quá trình tập luyện có xen kẻ trò chơi thể lực như: chạy tiếp sức với
bao cát hoặc các trò chơi khác tương tự có tác dụng nâng cao thể lực cho học sinh.
Còn 1 tuần cuối tôi cho các VĐV tập với cường độ trung bình và nghỉ ngơi tích cực
trước khi thi đấu 2 ngày các VĐV chỉ khởi động nhẹ nhàng và kỹ càng.
Các bài tập đưa ra tuy đơn giản nhưng phù hợp với điều kiện sân bãi và đồ
dùng dạy học còn thiếu ở địa bàn trường THCS An Trạch. Trong các buổi tập cần
HCB ( tỉnh)
HCV
HCV ( tỉnh)
4 Nguyễn Phương Quyển Nữ 1.14.18 400m nữ
5 Phạm Thị Ngọc Hưởng Nữ 37.39 200m nữ
6 Nguyễn Long Hồ Nam 25.84 200m nam
7 Trần Minh Lù Nam 12.28 100m nam
8 Phan Văn Tý Nam 29.27 200m nam
9 Trần Như Khanh Nam 11.87 100 m nam HCB
10 Trương Công Hậu Nam 1.03.27 400m nam
VII. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ
So sánh thành tích trước và sau khi huấn luyện: thành tích ở các bài học chính
khoá của học sinh từ lớp 6 đến lớp 8 chỉ dừng lại ở tính chất giáo dục sức khoẻ cho
học sinh THCS, những thành tích đó chỉ đáp ứng mục tiêu rèn luyện thể chất cho học
sinh. Nhìn vào bảng 2 ta thấy thành tích chạy ngắn của VĐV sau khi được huấn luyện
- 12 -
bằng các bài tập mang tính chất chuyên nghiệp ở cấp độ "đội tuyển" cao hơn, nổi bật
hơn, thời gian huấn luyện được rút ngắn, hiệu quả huấn luyện được nâng cao điều này
chứng tỏ rằng các bài tập đưa ra ở trên có thể đưa vào áp dụng trong việc huấn luyện
đội tuyển điền kinh, đặc biệt phát triển sức nhanh và huấn luyện chạy ngắn. Qua bảng
3 kết quả của đội tuyển sau khi thi ĐH TDTT vòng Huyện rồi , thành tích của các em
nâng cao rõ rệt ( Mặc dù có 1 số em chưa có huy chương vì thi đấu chưa phù hơp với
nội dung luyện tập ).
Nhìn vào bảng 1 ta thấy thành tích trung bình của 10 học sinh là 14s 87 đó là
thành tích chưa được huấn luyện, còn ở bảng 2 sau khi đã được huấn luyện với các
bài tập đã được lựa chọn kỹ lưỡng và các bài tập có tính chất bổ trợ cho nhau trong
quá trình huấn luyện và phù hợp với đối tượng học sinh cũng như phù hợp với điều
kiện sân bãi và cơ sở vật chất của nhà trường nên số Giây(S) đã giảm xuống còn
13s 85 mà trong các môn tính bằng s trong đó có nội dung chạy ngắn thì số s càng ít
thì thành tích càng tăng. Như vậy ta thấy thành tích trước và sau khi huấn luyện
5. Những đổi mới trong phương pháp giảng dạy môn TDPHỤ LỤC
Bài tập Chỉ tiêu (giây)
Nam Nữ
Chạy 30m xuất phát cao 5'0 – 4,5 5,5 – 5,0
- 15 -
Chạy 30m tốc độ cao 4,5 – 4,0 5,0 – 4,5
Chạy 60m xuất phát cao 9,0 – 8,6 9,5 – 9,0
Chạy 100m 12,7 – 12,3 13,5 – 13,0
Chạy tăng tốc 30m 3,8 – 4,0 4,5 – 4,8
Chạy biến tốc 200m
Chạy bền: 1’30’’ – 1’45’’ 1’30
,,
- 1,35
Bài tập đứng lên, ngồi xuống: nam 30 lần ; nữ 20 lần.
Bài tập bật nhảy đổi chân: Nam 30 lần, nữ 20 lần
- Chạy đạp sau 20m : 03 lần.
- Bật cóc 15m : 03 lần.
- 16 -